Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

Thận trọng với các thuốc gây ra trạng thái trầm cảm

Có những thuốc thông thường gây ra trạng thái trầm cảm, cần có các giải pháp khắc phục thích hợp, đặc biệt đối với người bệnh đang dùng thuốc trầm cảm.
Nhóm thuốc chẹn beta:
Nhóm thuốc chẹn beta (atenolol, metoprolol, propranolol, carvediol, satolol) dùng chữa cao huyết áp, đau thắt ngực, điều hòa nhịp tim. Chúng có khả năng làm tăng trầm cảm. Lý do: nhóm thuốc này chặn sự hoạt động của beta adrenergic nên ức chế sự hoạt động của norepinephrin, một chất dẫn truyền thần kinh. Cách khắc phục: thay các thuốc chẹn beta adrenergic bằng các thuốc khác.
Nhóm thuốc corticoid:
Nhóm này gồm các thuốc dùng kháng viêm, chống dị ứng trong các bệnh về xương khớp, dùng chữa các bênh tự miễn như: lupus ban đỏ hệ thống. Lý do: corticoid làm giảm lượng serotonin một chất dẫn truyền thần kinh; do đó làm tăng trầm cảm. Biểu hiện gồm các triệu chứng đơn lẻ hay kết hợp. 
Ở người lớn: thay đổi tính tình, lo lắng, sợ hãi, kích thích, cáu bẳn, hưng phấn hay lãnh đạm, thờ ơ, mất ngủ, li bì. Ở trẻ em: hay có các rối loạn hành vi như: nói lắp, quấy khóc. Dùng ngắn ngày có xu hướng bị hưng cảm; dùng dài ngày có xu hướng bị trầm cảm. Có 20 - 63% số người lớn dùng corticoid kéo dài bị rối loạn này, trong đó 6% ở mức nặng. Rối loạn nhận thức gồm thiếu hụt về trí nhớ, ngôn ngữ, lời nói...
Giải pháp khắc phục: có thể thay thế bằng nhóm kháng viêm không steroid như aspirin diclofenac, bằng thuốc chống dị ứng, hay bằng các thuốc ức chế miễn dịch khác. Trong trường hợp cần phải dùng corticoid thì nên dùng các loại corticoid bán tổng hợp (prednisolon) với liều tối thiểu. Người trong trạng thái trầm cảm có hiệu lực chỉ không quá 10 ngày.
Nhiều loại thuốc có thể khiến người bệnh bị trầm cảm
Nếu phải dùng kéo dài (như trong một số bệnh tự miễn) thì chỉ dùng liều tối thiểu đạt được hiệu lực an toàn và dùng tách ra từng đợt cách quãng theo chỉ dẫn của thầy thuốc.
Nhóm benzodiazepin:
Nhóm thuốc thường dùng để an thần gây ngủ thư giãn cơ như: diazepam (seduxen), alprazolam (xanax), lorazepam (ativan), temazepam, triazolam. Chúng làm tăng trầm cảm. Lý do: khi vào gan chúng không được chuyển hóa hoàn toàn; riêng người lớn tuổi, do sức khỏe sút kém mà thiếu enzyme chuyển hóa; kết quả là benzodiazepin tích tụ lại gây độc. Một mặt khác, trong cơ thể có hệ GABA - Glutamic ở thế cân bằng động, trong đó Glutamic làm tăng các hoạt động kích thích, GABA làm tăng các hoạt động ức chế. Benzodiazepin làm tăng hoạt động ức chế của GABA, gây nên hiện tượng ức chế giống như trầm cảm.
Cách khắc phục: nếu người trầm cảm bị kích thích khó ngủ nên dùng các thuốc trầm cảm thuộc nhóm trầm cảm 3 vòng ( TCA) có tính an thần như: amitriptylin. Khi cần thiết có thể phối hợp thuốc trầm cảm TCA với benzodiazepin như diazepam nhưng với liều thấp, chỉ trong thời gian ngắn, lúc mới dùng TCA. Bình thường, với các trường hợp khác chỉ dùng benzodiazepin liều vừa đủ không dùng quá 10 ngày.
Nhóm thuốc kích thích thần kinh:
Nhóm này thường có methylphenidat (ritalin) modafinil (provigil) dùng điều trị chứng buồn ngủ quá mức ban ngày, buồn ngủ triền miên, ngủ rũ, chứng ngưng thở khi ngủ, chứng giảm tập trung tăng động (ADHD). Chúng làm tăng trầm cảm. Lý do: chúng tăng hoạt động của hệ dopaminergic gây ra dạng trầm cảm có tính loạn thần (nay còn gọi là tâm thần phân liệt) với các triệu chứng âm tính (với biểu hiện cảm xúc cùn mòn, tư duy nghèo nàn, ý chí suy đồi mất hứng thú, vô cảm, mất động lực…), gần giống như triệu chứng trầm cảm.
Cách khắc phục: trong trường hợp bị trầm cảm, giảm sút năng lượng tâm thần do sự suy giảm các chất dẫn truyền thần kinh trong synap xuống dưới ngưỡng sinh lý bình thường thì phải dùng loại thuốc làm phục hồi các chất này đến ngưỡng sinh lý như thuốc trầm cảm 3 vòng (TCA), thuốc ức chế thu hồi chọn lọc serotonin (SSRI) hay thuốc ức chế monoaminooxydase (MAOI) mà không được dùng các thuốc kích thích thần kinh.
Nhóm thuốc chữa rối loạn lipid máu statin:
Cholesterol là nguyên liệu tổng hợp nên các chất có cấu trúc sterol trong đó có các chất dẫn truyền thần kinh. Statin ức chế sự tổng hợp cholesterol chống rối loạn lipid máu cũng đồng thời làm giảm nguyên liệu tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh. Khi thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh thì gây ra trầm cảm.
Cách khắc phục: để điều trị rối loạn lipid máu, cần dùng chế độ ăn thích hợp, dùng các thuốc khác kết hợp với statin để không phải dùng statin đơn liều cao. Chỉ dùng statin trong khung liều khuyến cáo (cho từng thuốc trong nhóm). Sự tổng hợp cholesterol xảy ra tại gan vào ban đêm, nên uống vào bữa tối cho hiệu quả cao hơn.
Người dùng thuốc cần chú ý gì?
Người bình thường, khỏe mạnh khi dùng các nhóm thuốc trên liều cao và/hoặc kéo dài thì có thể bị trạng thái trầm cảm nhưng khi giảm liều hoặc ngừng thuốc thì trạng thái trầm cảm ấy sẽ mất dần đi, không gây ra bệnh trầm cảm.
Người có sẵn các nguy cơ bị trầm cảm nếu dùng các thuốc này liều cao và/ hoặc kéo dài thì chúng sẽ làm tăng thêm nguy cơ, dễ xuất hiện bùng phát trầm cảm. Ví dụ: bị bệnh tự miễn, bênh xương khớp mạn kéo dài làm suy nhược lo âu chán nản, có sẵn nguy cơ trầm cảm; nếu lại dùng corticoid liều cao và / hoặc kéo dài sẽ dễ xuất hiện, bùng phát trầm cảm.
Người đã bị bênh trầm cảm thì không được dùng các nhóm thuốc này vì các thuốc làm mất tác dụng của thuốc trầm cảm đang dùng, gây nên trạng thái trầm cảm làm cho bệnh nặng thêm.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Sử dụng vitamin tan trong dầu có gì khác?

Nếu sử dụng bừa bãi, nó có thể gây ra những tác hại, bởi khi lượng cung cấp vượt quá nhu cầu thì có sự tích lũy trong cơ thể gây nên rối loạn do thừa vitamin.

Cũng như các loại vitamin khác, vitamin tan trong dầu rất cần thiết cho cơ thể. Tuy nhiên, nếu sử dụng bừa bãi, nó có thể gây ra những tác hại, bởi khi lượng cung cấp vượt quá nhu cầu thì có sự tích lũy trong cơ thể gây nên rối loạn do thừa vitamin. Vậy sử dụng loại vitamin này như thế nào cho đúng?
Nhu cầu vitamin tan trong dầu của mỗi người
Vitamin tan trong dầu bao gồm các loại vitamin A, vitamin D và vitamin E. Các loại vitamin này có đặc điểm hấp thu cùng với các chất dầu mỡ, vì vậy khi thiếu điều kiện này thì cơ thể không hấp thu được. Quá trình hấp thu đòi hỏi phải có acid mật làm chất nhũ hóa vì mỡ không tan được trong máu, để thuốc hấp thu tốt thì nên uống trong hoặc sau bữa ăn. 
Khi dùng quá liều, các vitamin này không thải trừ hết qua thận mà tích lũy chủ yếu ở gan và mô mỡ, do đó khi dùng liều cao và kéo dài sẽ gây độc tính, đặc biệt là vitamin A và D. Các vitamin này tương đối bền vững với nhiệt độ cao, do vậy chúng không bị phá hủy trong quá trình nấu nướng.
Nhu cầu hàng ngày về vitamin tan trong dầu đối với người bình thường phụ thuộc vào lứa tuổi. Với trẻ dưới 1 tuổi, nhu cầu vitamin A là 1.500IU/ngày, vitamin D là 400IU/ngày, vitamin E là 5IU/ngày; với trẻ từ 1 - 4 tuổi, nhu cầu vitamin A là 2.500IU/ngày, vitamin D là 400IU/ngày, vitamin E là 10IU/ngày; với trẻ trên 4 tuổi và người lớn, nhu cầu tương đương là 5.000IU/ngày, 400IU/ngày và 30IU/ngày.
Khi nào cần bổ sung?
Các vitamin luôn có sẵn trong ngũ cốc và thực phẩm, vì vậy đối với những người không có quá trình rối loạn hấp thu ở đường tiêu hóa (tiêu chảy, tắc mật, viêm tụy, loét dạ dày - tá tràng...) và không ăn kiêng, có chế độ ăn cân đối với thực phẩm đảm bảo chất lượng thì không nhất thiết phải bổ sung vitamin dưới dạng thuốc.
Khi thiếu vitamin nhẹ có thể điều trị bằng cách dùng chế độ ăn các thực phẩm có chứa nhiều vitamin. Vitamin A có nhiều trong gan cá thu, trứng, thịt, cá, sữa, gấc, cà chua, cà rốt và rau xanh. Vitamin D chủ yếu có trong thức ăn từ động vật: sữa, bơ, gan, trứng, thịt. Vitamin E có nhiều trong dầu thực vật: dầu cám, dầu lạc và trong các hạt nảy mầm, rau xanh; có một lượng nhỏ trong lòng đỏ trứng gà, gan...
Việc bổ sung vitamin dưới dạng thuốc chỉ khi thiếu trầm trọng hoặc trong trường hợp chưa có điều kiện sửa đổi lại chế độ ăn. Thường thì ít có hiện tượng thiếu đơn độc một chất, vì vậy việc bổ sung vitamin dưới dạng hỗn hợp có hiệu quả hơn khi dùng các chất đơn lẻ.
Điều gì sẽ xảy ra khi thừa vitamin tan trong dầu?
Nhóm vitamin tan trong dầu có thể gây ra tình trạng thừa vitamin nếu lạm dụng thuốc; hoặc một số ít trường hợp thừa vitamin cấp tính do ăn loại thức ăn có chứa lượng lớn vitamin tan trong dầu lớn như ăn gan gấu trắng, gan cá thu... Khi lượng vitamin dư thừa quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng ngộ độc thuốc. Tùy thuộc vào loại vitamin dư thừa mà có các biểu hiện lâm sàng khác nhau:
Sử dụng vitamin tan trong dầu có gì khác? 1
Thừa vitamin D gây tác hại khó lường
Vitamin A dùng thừa sẽ xuất hiện các triệu chứng: ngứa da vẩy nến, xung huyết ở da và các niêm mạc, tóc khô, xơ xác, dễ gãy, chán ăn, buồn nôn, giảm prothrombin, chảy máu và thiếu máu. Trẻ em dưới 4 tuổi thường xuyên uống vitamin A có hàm lượng hơn hoặc bằng 5.000IU/ngày có thể bị ngộ độc mạn tính với triệu chứng đau xương, ban đỏ, viêm da tróc vảy, viêm miệng... Nếu dùng liều vitamin A hơn hoặc bằng 100.000IU/ngày có thể gây phồng thóp, co giật, tăng áp lực sọ não. Phụ nữ có thai dùng kéo dài vitamin A hơn 5.000IU/ngày trong khi vẫn ăn uống đầy đủ và hấp thu tốt sẽ có nguy cơ thừa vitamin A, gây quái thai.
Dùng vitamin D liều cao dài ngày gây tích lũy thuốc, làm tăng canxi trong máu, gây mệt mỏi, chán ăn, nôn, tiêu chảy, đau nhức xương khớp. Ngoài ra có thể gây tổn thương thận, tăng huyết áp. Trẻ em dưới 1 tuổi được cho ăn bằng các hỗn hợp thay thế sữa mẹ có bổ sung vitamin D ở liều không thích hợp với lứa tuổi có thể bị thừa vitamin này. Việc bổ sung thường xuyên vitamin D với liều hơn 400IU/ngày cho trẻ dưới 1 tuổi có tình trạng sức khỏe bình thường sẽ làm tăng canxi trong máu, thậm chí còn có thể gây suy thận và tử vong.
Vitamin E dùng liều cao trên 3.000IU/ngày có thể gây rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, đầy hơi, tiêu chảy, đau đầu, chóng mặt, viêm ruột hoại tử. Tiêm vitamin E liều cao vào tĩnh mạch dễ gây tử vong.
Làm sao để không thừa vitamin?
Để tránh thừa vitamin tan trong dầu, trước hết cần thận trọng khi sử dụng các chế phẩm có hàm lượng lớn hơn 5 lần nhu cầu hàng ngày.
Khi dùng thuốc ở dạng hỗn hợp vitamin thì phải phân biệt các công thức dành cho trẻ em dưới 1 tuổi, cho trẻ dưới 4 tuổi và cho người lớn (tính từ 11 tuổi trở lên).
Đường đưa thuốc ưu tiên trong mọi trường hợp là đường uống. Đường tiêm chỉ dùng trong trường hợp không hấp thu được bằng đường tiêu hóa (nôn nhiều, tiêu chảy...) hoặc khi cần bổ sung gấp vi chất và trong nuôi dưỡng nhân tạo ngoài đường tiêu hóa.
Như vậy, không nên lạm dụng vitamin, đặc biệt là vitamin tan trong dầu. Tốt nhất nên tham khảo ý kiến và tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ khi dùng vitamin.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Có thuốc 'làm mập'?

Ðối với khá nhiều người, “có sức khỏe” cũng đồng nghĩa là phải “có thân hình mập mạp”.

Ðặc biệt đối với trẻ, mặc dù đã có sự cân bằng giữa thể trọng và chiều cao của chúng nhưng một số phụ huynh vẫn muốn con “tròn trịa”, thậm chí lúc nào cũng bị ám ảnh, muốn sự tròn trịa đạt được càng nhanh càng tốt.
Và thế là dẫn đến sự lạm dụng loại thuốc tạm gọi là “thuốc làm mập”.
Thực chất của các thuốc làm mập?
Thuốc làm mập đầu tiên phải kể là thuốc chống viêm glucocorticoid, (thường được gọi tắt là corticoid), gồm nhiều loại như dexamethason (thường được gọi nôm na là “đề xa” hay thuốc “hột dưa”), prednison, prednisolon...
Có thuốc 'làm mập'?
Cần cảnh giác với tác dụng phụ của các thuốc được coi là "làm mập"
Về phương diện chữa bệnh, corticoid là thuốc có tác dụng chống viêm, trị các bệnh xương khớp, các bệnh tự miễn, dị ứng ngoài da và hệ hô hấp (biểu hiện là hen suyễn nặng), bệnh suy tuyến thượng thận.
Do thuốc corticoid có tác dụng giữ nước và chất khoáng natri trong cơ thể (cần lưu ý ngoài corticoid còn nhiều thuốc khác cũng có tác dụng này như phenylbutazon chống viêm, carbenoxolon trị loét dạ dày...), gây rối loạn chuyển hóa lipid và làm đọng mỡ lại ở mặt, cổ và lưng, nên người dùng thuốc lâu ngày sẽ bị béo phì, mặt tròn như mặt trăng, nhưng thật ra cơ thể lại bị teo cơ (đây là các biểu hiện trong hội chứng có tên là Cushing).
Chính do cơ thể có vẻ như mập ra và tăng cân khi uống thuốc này liên tục và kéo dài (mà một số người cứ tưởng là tốt) là biểu hiện một tác dụng phụ nguy hiểm của thuốc. Song song với tác dụng phụ gây béo phì, thuốc còn có một số tác dụng phụ nguy hiểm khác như làm loãng xương, tăng huyết áp, gây huyết khối làm nghẽn mạch, có thể gây loét dạ dày, làm giảm sự đề kháng của cơ thể dễ dẫn đến nhiễm trùng (dễ bị bệnh lao, nếu đã bị lao sẽ làm bệnh nặng thêm).
Thuốc thứ hai giúp làm mập một cách gián tiếp, đó là durabolin (nandrolon phenylpropionat). Đây là một dẫn chất tổng hợp tương tự hormon sinh dục nam testosteron nhưng lại có cấu trúc hóa học hơi khác testosteron.
Testosteron chủ yếu trị thiểu năng sinh dục nam, tức trị “yếu sinh lý” do thiếu hormon còn tác dụng chủ yếu của durabolin là đồng hóa protein, nghĩa là giúp cơ thể hấp thu, biến dưỡng tốt chất đạm và vận chuyển các acid amin của chất đạm vào bên trong mô cơ, làm cho cơ thể phát triển cơ bắp, tăng cân, tăng sức. Vì vậy, durabolin còn gọi là thuốc steroid tăng đồng hóa.
Thuốc được chỉ định trị chứng gầy ốm, sụt cân, mất sức sau khi bệnh nặng. Ta thường nghe nói đến doping trong thể thao, các vận động viên thường doping bằng thuốc anabolic steroid (tác dụng tương tự như durabobin) để tăng khối cơ bắp, tăng lực nhằm đạt thành tích cao trong thi đấu. Dạng thuốc của durabolin là thuốc tiêm, mỗi tuần tiêm một ống.
Một số thuốc anabolic steroid được dùng dưới dạng uống. Chống chỉ định của thuốc là không được dùng cho trẻ dưới 15 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ còn trẻ (vì đây là dẫn chất hormon sinh dục nam). Ở một số nước châu Á như Ấn Ðộ, người ta đã mất rất nhiều công sức chống lại tình trạng lạm dụng, dùng bừa bãi thuốc anabolic steroid ở trẻ em!
Thuốc thứ ba thường được dùng là cyproheptadin. Ðây là thuốc kháng histamin trị dị ứng nhưng lại có thêm tác dụng kích thích sự thèm ăn làm cho người dùng thuốc ăn nhiều hơn (đương nhiên phải ăn uống đầy đủ chất) để tăng trọng. Tuy nhiên cần lưu ý, cyproheptadin chỉ kích thích sự thèm ăn tạm thời và có nhiều tác dụng phụ.
Khi đang dùng thuốc, thuốc sẽ kích thích ăn ngon miệng nhưng khi ngưng thuốc sẽ chán ăn trở lại. Thuốc có tác dụng phụ gây buồn ngủ, không được dùng (tức chống chỉ định) đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ em dưới 2 tuổi và người cao tuổi suy nhược.
Ðối với trẻ em, thuốc có thể gây cơn co giật - gọi là tác dụng phụ thần kinh ngoại tháp. Thuốc cũng không được dùng ở người bị tăng nhãn áp, u tuyến tiền liệt, loét tá tràng. Do lợi bất cập hại như vậy nên nhiều nước đã không còn chỉ định dùng cyproheptadin trị chứng chán ăn.
Cần cảnh giác với những loại thuốc Đông y giả mạo
Ðã có tình trạng kết hợp thuốc nguy hiểm là dùng chung corticoid với cyproheptadin để ăn ngon và mau tăng trọng trong các thuốc Đông y. Trước năm 1975, ở miền Nam, giới chuyên môn y dược đã báo động về tình trạng kết hợp hai loại thuốc trên gây hại rất nhiều. Ðặc biệt, còn phải đề cập đến các loại thuốc Đông y “giả mạo”.
Không ít người từng biết và có khi sử dụng nhầm các thuốc được quảng cáo chủ trị: “Mát huyết, trị gầy yếu, thiếu máu, biếng ăn, mất ngủ...”.
Trên thực tế, các thuốc Đông y “giả mạo” này có trộn thuốc tân dược là corticoid, cyproheptadin để tạo những tác dụng trước mắt: ăn được, ngủ được, mập ra, nếu có đau nhức sẽ giảm ngay (do tác dụng giảm đau chống viêm của corticoid) khiến nhiều người cho là “thần dược”, nhưng tác hại do việc dùng lâu ngày các loại đông dược “giả mạo” này không sao lường được.
Vì vậy, nếu lạm dụng các thuốc trên để hy vọng mập ra, nhất là đối với trẻ em sẽ là điều hết sức nguy hiểm.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Loạn khuẩn ruột do kháng sinh

Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy, có thể do vi khuẩn, virut, nhiễm ký sinh trùng nhưng cũng có thể do dùng kháng sinh.

Đây là một tác dụng phụ không mong muốn khi dùng kháng sinh cho trẻ. Hầu hết thường nhẹ và tự hết khi bạn ngưng dùng kháng sinh. Đôi khi có một loại tiêu chảy nặng xảy ra gọi là viêm ruột màng giả.
Vì sao kháng sinh gây loạn khuẩn?
Bình thường trong đường ruột luôn tồn tại một quần thể vi khuẩn lành tính với nhiều loài khác nhau. Các vi khuẩn này luôn duy trì ở thế cân bằng nhằm tăng cường quá trình tiêu hóa, hấp thụ chất dinh dưỡng, thải trừ các chất độc hại, kìm hãm và làm mất tác dụng của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột.
Kháng sinh là một chất mà ngay ở nồng độ thấp nhất cũng có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn. 
Khi sử dụng một hoặc nhiều loại kháng sinh mạnh có tác dụng lên nhiều loại vi khuẩn, với liều cao và kéo dài thì các loài vi khuẩn lành tính nói trên cũng bị kháng sinh tiêu diệt, phá vỡ thế cân bằng gây ra hiện tượng loạn khuẩn, do đó thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột do kháng sinh.
Loạn khuẩn ruột do kháng sinh
Khi uống kháng sinh, vi khuẩn có lợi cho đường ruột cũng bị tiêu diệt, dễ gây ra loạn khuẩn ruột
Kháng sinh có nhiều nhóm khác nhau, trong mỗi nhóm có nhiều loại biệt dược mà hầu hết kháng sinh đều có thể gây ra sự mất cân bằng vi khuẩn trong cơ thể, vì vậy, khi muốn sử dụng một loại kháng sinh nào đó phải biết được kháng sinh đó thuộc nhóm nào, nhất là khi muốn kết hợp kháng sinh. Các loại kháng sinh hay gây tiêu chảy nhất là ampicillin, các cephalosporin, erythromycin và clindamycin.
Biểu hiện khi bị loạn khuẩn do kháng sinh
Hầu hết các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh là nhẹ với biểu hiện chính là đi ngoài phân sống, phân lỏng nhiều lần trong ngày, đặc biệt không có sốt, triệu chứng tự hết sau khi ngừng dùng kháng sinh. Nếu tiêu chảy do các nguyên nhân nhiễm khuẩn ở trẻ đều có sốt, mức độ tiêu chảy nặng hơn, kèm theo các biểu hiện tiêu hóa khác như nôn, đau bụng.
Một số trường hợp suy giảm miễn dịch, trẻ suy dinh dưỡng, có bệnh lý nặng kèm theo, khi dùng kháng sinh phổ rộng, liều cao, kéo dài có thể gây ra tình trạng tiêu chảy nặng hơn, được gọi là viêm đại tràng giả mạc.
Trong trường hợp này, các biểu hiện có thể gặp bao gồm: tiêu chảy, phân nhiều nước và có thể có máu; đau bụng; buồn nôn và nôn, sốt. Với các trường hợp viêm đại tràng giả mạc do kháng sinh, cần đưa trẻ đến bác sĩ và xét nghiệm phân để chẩn đoán phân biệt.
Điều trị như thế nào?
Để hạn chế tác dụng không mong muốn của kháng sinh nói chung và loạn khuẩn ruột do kháng sinh gây ra nói riêng, trước hết các bà mẹ cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị của bác sĩ, không tự ý mua thuốc điều trị cho con.
Với trường hợp nhẹ, khi ngừng kháng sinh đang sử dụng thì triệu chứng thuyên giảm rõ rệt hoặc có thể khỏi hẳn.
Khi bị loạn khuẩn mà vẫn phải sử dụng kháng sinh hoặc bị loạn khuẩn nặng thì phải điều trị hỗ trợ thêm các chế phẩm vi sinh có chứa probiotic và prebiotic có tác dụng cân bằng lại các chủng vi khuẩn đường ruột.
Tuy nhiên, với trường hợp kết hợp với các chế phẩm vi sinh mà không có hiệu quả cần đưa bé tới gặp bác sĩ để thay thế bằng kháng sinh khác và được điều trị tiêu chảy kịp thời. Không sử dụng men tiêu hóa trong các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh.
Cần làm gì tại nhà?
Bù nước và điện giải là vấn đề quan trọng nhất, đặc biệt ở trẻ em, thể trọng cơ thể nhỏ, khi tiêu chảy bị mất nước và điện giải sẽ nhanh chóng gây giảm khối lượng tuần hoàn và rối loạn nước điện giải. Vì vậy, phải cho bé uống bù nước ngay khi biết bé bị tiêu chảy.
Ngay tại nhà, cần bù nước cho trẻ bằng dung dịch oresol hoặc viên hydrite. Cần chú ý pha dung dịch bù nước phải theo đúng hướng dẫn sử dụng, không được chia nhỏ gói oresol hoặc viên hydrit để pha làm nhiều lần. Dung dịch bù nước đã pha nếu quá 12 giờ không uống hết phải bỏ đi. Việc cho uống bù nước phải được duy trì đến khi bé đi tiêu phân sệt và dưới 3 lần mỗi ngày.
Một điểm hết sức quan trọng nữa đó là trong khi bé bị tiêu chảy cần duy trì chế độ ăn thích hợp. Thức ăn cần mềm và lỏng hơn bình thường nhưng vẫn phải đủ 4 nhóm thực phẩm, cho bé ăn nhiều bữa nhỏ. Nếu bé còn bú mẹ hoặc bú sữa ngoài thì vẫn tiếp tục duy trì cho bú.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Bổ sung thuốc nào trước khi mang thai?


Việc bổ sung thuốc vitamin và khoáng chất trước khi sinh là một phần quan trọng trong chăm sóc sức khỏe khi mang thai. Tuy nhiên, bổ sung như thế nào cho hợp lý cần có sự chỉ định của bác sĩ để tránh dùng thừa sẽ gây hại...
Nhiều người cho rằng, chỉ cần chế độ ăn uống là có thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng trong thai kỳ. Điều này là chưa chính xác bởi vì nhu cầu của cơ thể người phụ nữ về các chất dinh dưỡng trong khi mang thai thay đổi đáng kể, vì thế sẽ khó khăn để đáp ứng những nhu cầu này chỉ bằng chế độ ăn uống.
Bà bầu cần bổ sung dưỡng chất theo chỉ định của bác sĩ.
Bà bầu cần bổ sung dưỡng chất theo chỉ định của bác sĩ
Các chất cần bổ sung Acid folic/Folate
Folate có tầm quan trọng trong việc ngăn ngừa các khuyết tật ống thần kinh (NTDs). Đây là một nhóm các bất thường khi sinh có liên quan đến cột sống, xương sọ và não, với sự phổ biến nhất là tật nứt đốt sống và thiếu não. Với nứt đốt sống, cột sống thai nhi không đóng (mà thường xảy ra ở 21-28 ngày sau khi thụ thai) và kết quả là, tủy sống không được bảo vệ.
Axit folic/folate là một trong những vitamin nhóm B, một nhóm các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước. Nó được tìm thấy trong các loại rau khác nhau (đặc biệt là rau có màu xanh đậm) và cũng có trong các loại hạt, các sản phẩm từ sữa, thịt gia cầm, chuối, dưa hấu, trứng, hải sản, đậu và đậu Hà Lan...
Thiếu acid folic thường hiếm khi xảy ra đơn độc, nó thường là biểu hiện của một chế độ ăn uống nghèo chất dinh dưỡng, và như vậy thường cùng tồn tại với sự thiếu hụt nhiều loại vitamin và khoáng chất khác. Sự thiếu hụt tổng thể như vậy là do nghèo đói, dinh dưỡng thiếu cân đối, chế độ ăn kiêng và các rối loạn kém hấp thu.
Canxi
Canxi có vai trò quan trọng trong việc hình thành xương và răng của trẻ. Vì vậy, trong thai kỳ cần bổ sung canxi để đảm bảo cung cấp cho nhu cầu phát triển của thai nhi. Nếu không được bổ sung đầy đủ, thai nhi có thể bị còi xương, kém phát triển, biến dạng cấu tạo xương. Người mẹ có thể bị đau mỏi xương khớp, chuột rút, trường hợp nặng có thể co giật do hạ canxi máu. Thiếu canxi, thai nhi sẽ phải lấy canxi từ cơ thể người mẹ (hệ lụy sẽ gây loãng xương sau này ở người phụ nữ).
Thai phụ nên có chế độ ăn giàu canxi, cụ thể là những thức ăn như đồ biển, phomat, bơ... Ngoài ra, việc bổ sung chất canxi có thể được thực hiện thông qua các loại dược phẩm (thuốc có chứa calcium) theo sự chỉ định của bác sĩ.
Sắt
Ở phụ nữ mang thai, tình trạng thiếu máu do thiếu sắt gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cũng như sự phát triển của thai nhi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 50% phụ nữ mang thai trên thế giới bị thiếu máu. Sắt rất cần thiết để sản xuất các tế bào máu đỏ.
Trong giai đoạn thai kỳ, thể tích máu ở người mẹ tăng lên, cơ thể của người mẹ cần bổ sung chất sắt để tạo ra hemoglobin, một phần của các tế bào máu đỏ giúp mang ôxy đến nuôi dưỡng thai nhi. Sự thiếu hụt chất sắt có thể dẫn đến một tình trạng được gọi là thiếu máu thiếu sắt. Vì vậy, cần bổ sung sắt trong thời kỳ này. Tuy nhiên cần lưu ý, các tác dụng phụ thường thấy với việc bổ sung sắt có thể bao gồm buồn nôn, nôn, táo bón và tiêu chảy. Trong thực phẩm, sắt có mặt chủ yếu ở các loại rau như: rau ngót, rau muống, thịt nạc và cá biển...
Khi bổ sung sắt cần lưu ý, một số thuốc có khả năng ức chế hấp thu sắt. Ví dụ như canxi cũng là một bổ sung quan trọng trong quá trình mang thai, điều quan trọng cần lưu ý là canxi có thể gây trở ngại cho sự hấp thu sắt. Điều này bao gồm các loại thực phẩm giàu canxi như các sản phẩm từ sữa. 
Bệnh nhân có thể khắc phục điều này bằng cách tách biệt lượng canxi và sắt không uống cùng một thời điểm. Có đến 50% phụ nữ cũng có thể trải nghiệm trào ngược dạ dày (GERD) trong khi mang thai. Những bệnh nhân này có thể dùng thuốc kháng axít hay một số loại thuốc dùng để điều trị và do các thuốc này có thể thể tương tác với sự hấp thu sắt, nên khi uống cần lưu ý.
Cần làm gì trước khi mang thai?
Axit folic là vô cùng quan trọng trong việc làm giảm nguy cơ dị tật bẩm sinh của bộ não và cột sống. Tuy nhiên, bạn không thể chờ đợi cho đến khi bạn biết mình mang thai mới bổ sung, nên bổ sung trước đó 3 tháng (trước khi bạn có ý định mang thai). Đây là việc đơn giản và không tốn kém.
Hút thuốc và uống rượu trong khi mang thai có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới thai nhi đang phát triển. Vì lý do này, bạn phải ngừng tất cả việc sử dụng rượu và các sản phẩm thuốc lá (bao gồm cả thuốc lá và tất cả các dạng thuốc lá không khói) trước khi bạn mang thai.
Đối với những người có bệnh mạn tính, hãy chắc chắn làm theo tất cả tư vấn y tế để cho bất kỳ tình trạng sức khỏe bạn có thể được kiểm soát, bao gồm cả bệnh tiểu đường, hen suyễn, béo phì, tăng huyết áp, bệnh tuyến giáp, trầm cảm và bệnh động kinh. Cần thực hiện lịch tiêm chủng đầy đủ.
Các chế phẩm thuốc mà bạn đang dùng có thể gây hại cho thai nhi. Gặp bác sĩ để được tư vấn liên quan đến bất kỳ loại thuốc bạn phải dùng thường xuyên khi đang điều trị một bệnh (mạn tính) nào đó để có thể có những lựa chọn thay thế an toàn hơn.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Những điều ít biết về botox


Botox là thuốc hay dùng nhất trong nhóm thuốc botulinum toxin có tác dụng làm liệt tạm thời hoạt động của cơ. Hợp chất này được tạo ra từ vi khuẩn gây ngộ độc thịt. Ngoài tác dụng làm giảm các vết nhăn vùng mặt, botox còn được dùng để điều trị các bệnh khác liên quan đến rối loạn trương lực cơ.
Botox - Nghe quen mà lạ
Botulinum toxin có tác dụng chặn dẫn truyền hóa học ở khớp nối thần kinh. Trong ứng dụng thẩm mỹ, botox có tác dụng tạm thời giãn cơ mặt là các cơ nằm dưới da làm giảm các nếp nhăn. Botox xóa các nếp nhăn ở đường nhăn giữa hai lông mày, vết chân chim, đường tỏa ra ở góc mắt ngoài, các nếp nhăn trán.
Những điều ít biết về botox 1
Trước khi tiêm botox người bệnh cần thông báo cho bác sĩ những loại thuốc đang dùng
Ngoài hiệu quả trong thẩm mỹ, botulinum toxin còn điều trị các bệnh: 
Bệnh co quắp mi vô căn lành tính: là bệnh do cơ vòng mi và các cơ quanh mắt quá hoạt làm mi mắt nhắm kín không kiểm soát, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.
Lác mắt: Do mất cân bằng các cơ vận nhãn để giữ mắt ở tư thế nhìn thẳng.
Rối loạn trương lực cơ cổ: Cơ cổ co quá mức gây đau, vẹo cổ ở tư thế không bình thường.
Bệnh co cứng cơ: Một số bệnh thần kinh như liệt não có thể làm cho các chi bị co cứng, vì vậy có thể tiêm botulinum toxin để giãn cơ.
Tăng tiết mồ hôi: Tuyến mồ hôi tăng tiết kể cả khi thời tiết không nóng bức hoặc bạn không hoạt động mạnh. Một số người bị ra mồ hôi tay nhiều rất khó chịu trong sinh hoạt.
Đau nửa đầu mạn tính: Nếu đau nửa đầu hơn 15 ngày/1 tháng thì tiêm botulinum toxin có thể giúp giảm triệu chứng và tần số các cơn đau.
Rối loạn chức năng bàng quang: Tiêm botulinum toxin có thể giúp giảm tình trạng đái dầm do quá hoạt cơ bàng quang.
Botox có an toàn?
Sử dụng botox chỉ an toàn khi được bác sĩ có kinh nghiệm tiêm. Tác dụng phụ thường gặp là sưng nề hoặc bầm tím tại vị trí tiêm, triệu chứng giống cúm hoặc đau đầu. Thuốc có thể khuếch tán từ vị trí tiêm ra các mô xung quanh gây ra các vấn đề như: sụp mi mắt, lông mày vểnh lên, méo miệng, khô mắt hoặc chảy nước mắt.
Mặc dù hiếm gặp nhưng có thể gặp một số tác dụng phụ khi thuốc có thể đến các bộ phận khác của cơ thể gây ra triệu chứng giống ngộ độc thịt. Bệnh nhân cần gọi ngay cho bác sĩ nếu sau khi tiêm botox vài giờ hoặc vài tuần có các triệu chứng như: yếu cơ toàn thân, giảm thị lực, khó nói, khó nhai, khó thở hoặc mất kiểm soát đi tiểu.
Những điều ít biết về botox 2
Botox có thể chữa được mắt lác
Cần chuẩn bị gì khi tiêm botox?
Người bệnh cần thông báo với bác sĩ nếu có dùng bất cứ loại botulinum toxin nào trong vòng 4 tháng trở lại đây. Nếu bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông máu, cần dừng các thuốc này trong vài ngày trước khi tiêm để giảm nguy cơ chảy máu hay thâm tím sau tiêm. Bệnh nhân cũng cần cung cấp cho bác sĩ thông tin có đang dùng thuốc giãn cơ, thuốc ngủ hoặc thuốc chống dị ứng hay không.
Hầu hết mọi người không quá khó chịu khi tiêm. Có thể làm giảm đau trước khi tiêm bằng cách: tiêm thuốc tê (có thể tiêm tê dưới da), bôi kem tê trước tiêm 60 - 90 phút hoặc phun hơi rất lạnh trực tiếp vào da khoảng 10 giây.
Bác sĩ dùng một kim nhỏ tiêm một lượng nhỏ botulinum toxin vào da hoặc cơ. Số lượng mũi tiêm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tính cả phạm vi vùng điều trị. Tiêm botox thường được thực hiện ở một số cơ sở y tế.
Sau tiêm có thể hoạt động trở lại bình thường ngay. Chú ý không day ấn hoặc chà xát vào vùng da vừa tiêm vì việc làm này có thể làm thuốc khuếch tán rộng ra các vùng xung quanh.
Thuốc thường bắt đầu có tác dụng sau tiêm vài ngày. Phụ thuộc vào bệnh điều trị, tác dụng của thuốc có thể kéo dài 3-12 tháng. Để duy trì hiệu quả điều trị, người bệnh cần tiêm nhắc lại đều đặn.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Truyền dịch khi mệt mỏi, ẩn họa khôn lường


Truyền dịch được nhiều bệnh nhận xem là cách để nhanh hết mệt mỏi, chóng khỏi ốm. Chính vì vậy, không ít người mỗi khi thấy đau đầu, mệt mỏi lại tìm đến việc truyền dịch. Thậm chí có người quan niệm đây là cách tốt nhất để loại bỏ các độc tố, đào thải những virus, vi khuẩn ra ngoài cơ thể nhanh nhất.
Đã có không ít trường hợp tưởng rằng truyền dịch sẽ chữa khỏi mệt mỏi nhưng rốt cục lại phải nhập viện để điều trị do bị sốc. Cách đây không lâu, ông Chu Đình Thành (Ngọc Phụng, Thường Xuân, Thanh Hóa) khi có triệu chứng mệt mỏi trong người đã tìm đến phòng khám tư gần nhà. 
Tại đây, ông được truyền dịch với 2 chai nước. Tuy nhiên, khi đang truyền, ông Thành xuất hiện triệu chứng đau đầu, mệt mỏi, lạnh, sau đó rơi vào tình trạng hôn mê và tử vong. Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy, ông Thành bị tử vong do sốc phản vệ trong quá trình truyền nước.
Tại BV Nhi đồng 2, từng có trường hợp một bé mắc sốt xuất huyết, gia đình chọn truyền dịch nhiều để bé sớm khỏe. Nhưng không ngờ điều này đã khiến cho bé bị phù phổi. 
Được biết, bé đã được truyền dịch trong 3 ngày liền tại một cơ sở y tế gần nhà. Tuy nhiên, khi truyền dịch đến chai thứ 9 thì tình hình sức khỏe của bé có dấu hiệu trở nặng, xấu đi. May mắn cháu bé được đưa đến sớm nên qua khỏi.
Truyền dịch khi mệt mỏi, ẩn họa khôn lường
Dịch truyền cũng là thuốc
Dịch truyền là dung dịch hòa tan, bên trong chứa nhiều chất khác nhau. Dịch truyền cung cấp đường, muối, chất điện giải, năng lượng... Tuy nhiên, hiện nay vẫn có tình trạng, người bệnh hay bị ốm tự nhờ y tá hay người quen biết về nhà truyền dịch mà không đến cơ sở y tế có bác sĩ và đầy đủ trang thiết bị cấp cứu.
Như đã nói ở trên, dịch truyền cung cấp đường, muối, nặng lượng...song bản chất vẫn là một loại thuốc. Cho nên khi sử dụng vẫn cần bác sĩ chỉ định, thăm khám trước khi sử dụng và có liều lượng nhất định. 
Đáng lo ngại nhất là những cú sốc phản vệ do truyền. Cho nên nếu tự truyền tại nhà hoặc ở nhà y tá sẽ khó cấp cứu khi xảy ra phản ứng. Tỷ lệ người bị sốc do truyền dịch không cao nhưng vẫn có thể xảy ra.
Nguyên nhân dịch truyền dù là đường glucose thì vẫn thành chất lạ với cơ thể. Phản ứng phản vệ sau tiếp xúc vật lạ có thể xảy ra tức thì, trong một vài giây hoặc vài giờ. Nếu không được cấp cứu kịp thời, người bệnh rất dễ tử vong.
Nguyên nhân, triệu chứng sốc
Trao đổi với chúng tôi, bác sĩ Tiến Tùng cho hay, nhiều người thườngquan niệm, khi ốm hay mệt mỏi cần phải truyền dịch để khỏe là sai lầm. Bởi, đây cũng là một loại thuốc cần sự chỉ định của bác sĩ. "Trường hợp nào cần truyền, trường hợp nào không, mệt ở mức độ nào cần truyền cũng cần phải lưu ý", bác sĩ nói.
Vấn đề thường gặp khi truyền dịch là sốc phản vệ hay nhiều người còn gọi là sốc. Nguyên nhândo khi bị ốm, cơ thể mệt mỏi dễ bị phản ứng mạnh, có thể do dụng cụ tiêm truyền không được vô trùng, người yếu nhưng nhận lượng dịch vào cơ thể khi truyền với tốc độ nhanh. Mặt khác có những trường hợp tiêm kháng sinh vào chai truyền rất nguy hiểm, có thể gây dị ứng thuốc dẫn đến sốc.
Các triệu chứng nhận biết như lạnh, rét run, mặt tái nhợt, chóng mặt, khó thở...Truyền dịch là một biện pháp tối ưu cho sức khỏe. Tuy nhiên, truyền dịch chỉ thực sự có lợi khi chỉ số trung bình trong máu, các chất đạm, đường, muối, các chất điện giải... thấp hơn mức độ chỉ số bình thường cho phép.
Truyền dịch chỉ an toàn khi có chỉ định của bác sĩ và phải tuân thủ tuyệt đối các quy định trong truyền dịch về tốc độ, thời gian, số lượng... Không nên lạm dụng tiêm truyền với các mục đích không do nhu cầu chữa bệnh. 
Những trường hợp tự mua dịch truyền có đạm hoặc các vitamin phối hợp để truyền với mục đích làm đẹp da, nâng cao sức khỏe cần phải cân nhắc thận trọng, tránh tai biến nguy hiểm. Với trẻ em, nếu chỉ bị sốt thông thường chưa rõ nguyên nhân mà vội truyền dịch là rất sai lầm.
Cho nên, khi cần truyền dịch phải đến cơ sở y tế để được thăm khám bởi bác sĩ chuyên khoa. Kiểm tra mức độ các chất trong máu để xác định có cần thiết phải truyền hay không. 
Bên cạnh đó, không được tự tiện truyền tại nhà hoặc nhà y tá, bác sĩ không có đủ thiết bị. Cần phải nhấn mạnh rằng, người bệnh không nên tự tiện, không nên yêu cầu phải truyền dịch để khỏe, vấn đề này do bác sĩ chỉ định.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thiếu canxi: Vì sao, tác hại thế nào?


Phụ huynh luôn lo lắng con mình bị còi xương, phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh và người cao tuổi luôn sợ mình bị xốp xương, loãng xương. Điều gì làm họ quan tâm vậy? Những nguyên nhân nào làm giảm lượng canxi trong cơ thể và bổ sung như thế nào cho đúng?
Canxi là cội nguồn của sự sống, là một trong 5 nguyên tố vi lượng quan trọng bậc nhất cho cơ thể (carbon, oxy, hydrô, nitơ canxi), vì vậy, thiếu canxi sẽ gây ra một số bệnh ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là trẻ em, phụ nữ mãn kinh và người cao tuổi.
Nguyên nhân và tác hại của thiếu canxi
Canxi cần cho sự sống của con người là vậy, nhưng cơ thể lại không thể tổng hợp được mà phải đưa từ bên ngoài vào qua các loại thực phẩm hoặc dược phẩm (thuốc). Thường ngày, ăn uống các loại thực phẩm ít có canxi, thực phẩm chứa nhiều xenlulô có thể làm giảm sự hấp thụ canxi của ruột. Hoặc cơ thể mắc một số bệnh ảnh hưởng đến hấp thu canxi (bệnh đường ruột) hoặc do quá trình lão hóa cũng làm ảnh hưởng đến hấp thụ canxi. Nếu ăn nhiều protein sẽ làm gia tăng bài tiết canxi qua đường tiểu gây thiếu canxi, trong khi đó lại ăn ít rau, củ, quả cũng làm giảm lượng canxi hấp thu được qua thực phẩm.
Thiếu canxi: Vì sao, tác hại thế nào?
Biểu hiện của bệnh còi xương do thiếu canxi ở trẻ nhỏ. Ảnh: SKĐS
Khi canxi kết hợp được với vitamin D thì tác dụng của chúng sẽ được phát huy mạnh mẽ, vì vậy, khi sống thiếu ánh sáng mặt trời hoặc thực phẩm thiếu vitamin D cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu và tác dụng của canxi.
Ngày nay, trẻ em thường dùng nhiều đồ uống đóng chai cũng làm giảm hấp thu canxi vì trong đồ uống đóng chai có nhiều hàm lượng phốtpho sẽ cản trở sự hấp thụ canxi.
Ngoài ra, do điều kiện kinh tế không cho phép hoặc do thói quen không uống sữa, trong khi sữa và chế phẩm của sữa có hàm lượng canxi rất phong phú (một lít sữa bò tiêu chuẩn có hàm lượng canxi là 600 - 700mg) cũng khiến cho nhiều người bị thiếu canxi.
Do đó, thiếu canxi trong khẩu phần, hấp thu canxi kém hoặc mất quá nhiều canxi dẫn đến bệnh lý. Bởi vì khi khả năng hấp thụ canxi trong thức ăn không đủ cho nhu cầu của cơ thể thì nồng độ canxi trong máu tạm thời giảm xuống, hệ thần kinh ngay lập tức kích thích tuyến giáp tiết ra hormon để chuyển hóa canxi trong xương thành ion canxi đưa vào máu.
Ở trẻ, thiếu canxi máu (ion canxi), nhẹ thì hay khóc đêm, khó ngủ, hay cáu gắt, không tập trung cho nên học tập sa sút; nặng có thể dẫn đến tình trạng co giật các cơ (chân, tay, mặt, miệng méo). Và nếu thiếu canxi kéo dài, còi xương ở trẻ em sẽ xuất hiện. Còi xương là bệnh rất hay gặp ở trẻ nhỏ đang trong thời kỳ phát triển nhanh, nhẹ thì làm trẻ tăng trưởng kém, chậm mọc răng, nặng thì làm trẻ chậm phát triển chiều cao, biến dạng xương (chân hình chữ X, chữ 0), gây biến dạng lồng ngực, xương sọ hoặc biến dạng khung xương chậu, nguy hiểm nhất là xảy ra ở bé gái, khi lớn lên, sinh nở sẽ gặp khó khăn.
Đối với người trưởng thành, đặc biệt là người tuổi cao, phụ nữ tiền mãn kinh hoặc đã mãn kinh, thiếu canxi mạn tính do nhiều nguyên nhân khác nhau sẽ dẫn đến giảm trọng lượng xương, tăng quá trình tiêu xương. Bên cạnh đó, có thể thần kinh suy nhược, hay quên, tinh thần không ổn định, mất ngủ hoặc ngủ li bì, dễ cáu hay ngủ mơ, đau đầu, tính tình thay đổi thất thường và có thể dẫn tới bệnh xốp xương, loãng xương, tăng huyết áp. 
Thực ra, thiếu canxi huyết sẽ gây hội chứng hạ canxi huyết, có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Khi thiếu canxi huyết thể nhẹ, thường bắt đầu bằng các dấu hiệu như tê ở một số bộ phận trong cơ thể (lưỡi, môi, các đầu ngón tay, đầu ngón chân), nặng thì có thể có hiện tượng co cơ xảy ra trên toàn bộ cơ thể (chân, tay đột nhiên bị co rút, cứng lại, khó cử động, đau đớn, co giật khu trú hoặc một vùng nào đó) và có thể bị co thắt các cơ hô hấp gây khó thở, dễ nhầm với bệnh uốn ván. Ngoài ra, người bệnh có thể bị tiểu buốt, trướng bụng.
Để xác định thiếu canxi, cần xét nghiệm hàm lượng canxi trong máu. Với xương, có thể đo mật độ của xương, chụp Xquang...
Phòng giảm, thiếu canxi
Để đề phòng thiếu, giảm canxi, cần có chế độ ăn uống hợp lý. Nên bổ sung các loại thức ăn giàu canxi như tôm, cua, sụn xương, các loại đậu, hoa cải xanh, bắp cải, hạt hạnh nhân, sữa, phomat. Không nên ở thường xuyên trong nhà, cần ra sưởi nắng ngày một vài lần, mỗi lần khoảng 10 - 15 phút. 
Khi nghi ngờ thiếu canxi, cần đi khám bệnh để được điều trị và tư vấn của bác sĩ, không nên tự mua thuốc để điều trị đề phòng việc bổ sung canxi trong một thời gian dài gây thừa canxi sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe (sỏi thận, thoái hóa khớp, gai xương, hội chứng canxi máu cao hoặc giảm sự hấp thu các vi chất khác như sắt, kẽm, magiê và phospho).



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

“Hàng độc” làm thuốc

Nếu không phải là nhà khoa học, chắc chắn bạn sẽ “í ẹ” với tuyến tụy của bò, heo, nước tiểu ngựa, nọc rắn, nước miếng các loài bò sát... Tuy nhiên, những thứ này là kho dược phẩm vô cùng quý giá mà tạo hóa đã hào phóng ban tặng cho con người. Trong đó, một số có khả năng giành lại mạng sống từ tay tử thần. Nền công nghiệp dược “nhúng tay” vào những tài nguyên này được gọi là “pharmazooticals”.
“Căn bệnh đường”
Những nghiên cứu quy mô và hiện đại về những tài nguyên từ động vật dùng làm thuốc chữa bệnh bắt đầu từ năm 1921 khi bệnh đái tháo đường được hiểu một cách “chín chắn” hơn. Thời đó, người ta gọi bệnh này là “căn bệnh đường” (sugar disease). Cho đến năm 1923, khi một bác sĩ Canada là Frederick Banting và cộng sự là Charles Best nhận được giải Nobel do khám phá ra insulin và khả năng hạ đường huyết của chúng, người ta ước tính rằng insulin được phân lập từ tuyến tụy của heo và bò đã cứu sống trên 15 triệu bệnh nhânđái tháo đường.
Chất intergrelin lấy từ protein trong nọc của một số loài rắn có thể trị các bệnh mạch vành… Ảnh: TẤN THẠNH
Chất intergrelin lấy từ protein trong nọc của một số loài rắn có thể trị các bệnh mạch vành… Ảnh: TẤN THẠNH
Gần đây, một số sinh vật khác cũng mang lại hy vọng cho những bệnh nhân bị đái tháo đường type 2 khi hàm lượng đường huyết vẫn quá cao mặc dù được điều trị. Một loại thuốc tiềm năng có tên là exenatide được lấy từ nước miếng của một số loài thằn lằn và nhất là từ enzyme có trong nọc của thằn lằn Gila (một giống bò sát có hình dạng giống kỳ nhông, tập trung nhiều ở châu Mỹ). Exenatide cũng rất hiệu quả trong việc giảm cân và vì thế càng có lợi cho bệnh nhân bị đái tháo đường.
Chúng ta có cả một thế giới động vật mang lại những dược phẩm vô cùng quý giá đang được bệnh nhân sử dụng. Chẳng hạn, một loại thuốc trị cao huyết áp thuộc nhóm ức chế men chuyển Angiotensin tên là captopril vốn được phân lập từ một loài rắn Brazil có đầu giống hình mũi tên. Hoặc như ARA-C được phân lập từ con bọt biển dùng trị ung thư máu (leukemia), ung thư hệ bạch huyết (lymphoma) hay chất intergrelin lấy từ protein có trong nọc của một số loài rắn dùng để trị các bệnh mạch vành…
Loại thuốc gây “ồn ào” nhất
Một loại thuốc được sử dụng rộng rãi và cũng gây “ồn ào” nhất là Premarin. Đây là một loại estrogen dùng trong các liệu pháp hormone. Thuốc này được phân lập từ nước tiểu của những con ngựa đang mang thai. Tuy nhiên, việc phân lập thuốc này bị các tổ chức bảo vệ động vật phản đối kịch liệt vì cách thức lấy nước tiểu làm đau đớn, tổn thương, thậm chí gây tử vong đối với những chú ngựa con đang chờ ngày “cất tiếng khóc chào đời”. 
Có lẽ vì các tổ chức bảo vệ động vật thường “la làng” nên các nhà khoa học cũng thấy “khớp”. Họ chuyển hướng nghiên cứu vào các loài nhện, bò sát, sinh vật biển... hơn là các loài động vật hữu nhũ.
Công ty Dược phẩm NPS Pharmaceuticals chuyên phát triển những loại thuốc lấy từ nọc của nhện và bò cạp đã góp công rất lớn trong việc khám phá các sản phẩm có nguồn gốc động vật. Một loại thuốc đang được công ty này nghiền ngẫm là delucemines (NPS 1560) vốn có tác dụng bảo vệ tế bào não và hạn chế “sự ra đi tức tưởi” của các tế bào não ở những bệnh nhân đột quỵ cho đến khi lưu lượng máu được ổn định. Thuốc này cũng đang được nghiên cứu thêm để ứng dụng trong điều trị các chứng trầm cảm.
Trong thiên nhiên có một loại ốc hình nón rất đẹp nhưng cũng rất độc, từng lấy mạng của nhiều người. Tuy nhiên, chính nọc của loài ốc này lại có thể cứu sống rất nhiều người. Trong nọc loài ốc này chứa chất conopeptides có nhiều ứng dụng trong y học. Loài ốc này đã được Tập đoàn Dược phẩm Cognetix nghiên cứu, chế tạo ra những loại thuốc giảm đau, trị động kinh, thuốc gây tê cục bộ, các bệnh tim mạch, đột quỵ, thần kinh cơ, đa xơ cứng, chấn thương cột sống... Hiện các nhà khoa học ra sức bảo tồn loài “ốc độc” này vì chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Các thuốc có “gốc gác” động vật
Rất nhiều hợp chất có nguồn gốc từ động vật đã và đang được nghiên cứu để bào chế dược phẩm. Dưới đây là những ví dụ điển hình:
Thuốc giảm đau: Chất ABT 594 có nguồn gốc từ da của một loài ếch Nam Mỹ. Chất này được xem là có tác dụng giảm đau gấp nhiều lần morphine nhưng không hề gây ra tình trạng nghiện thuốc.
Thuốc trị ung thư: Chất TM 601 được phân lập từ bò cạp vàng Israel có tác dụng tấn công vào những bướu não. Loại bướu não này gọi là bướu glioma vốn gây ra khoảng 2/3 trường hợp ung thư não. Điểm “ăn tiền” của TM 601 là chỉ tấn công tế bào bướu não chứ không hề tấn công những tế bào khỏe mạnh.
Thuốc chống đột quỵ: Ancrod (khi được chào hàng ở Mỹ có tên là Viprinex) là một chất kháng đông máu tuyệt hảo, đồng thời có tác dụng ngăn chặn sự hủy hoại tế bào não ở những bệnh nhân bị đột quỵ. Thành phần chính của loại thuốc này được phân lập từ nọc của một loài rắn lục Malaysia. Hiện ở Đức có nhiều trại nuôi loài rắn này để bào chế dược phẩm.
Kháng sinh: Một hợp chất có tên là magainin 2 được phân lập từ da ếch có thể sẽ tạo ra những dòng kháng sinh mới mà các loại vi khuẩn không có khả năng đề kháng. Ý tưởng phân lập ra chất này đã nảy sinh khi nhà nghiên cứu, TS Michael Zasloff, công tác tại ĐH Georgetown (Mỹ), thắc mắc rằng loài ếch cứ bơi lội trong những ao hồ bẩn thỉu mà sức khỏe vẫn không hề hấn gì!
Những cánh rừng ở Brazil được xem là nơi cung cấp những loài động vật đầy tiềm năng và hứa hẹn cho các loại dược phẩm tương lai. Vấn đề hiện nay là những loài động vật này đang mai một dần.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Các thuốc có tác dụng sát khuẩn


Thuốc sát khuẩn có tác dụng diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi sinh vật trên bề mặt của mô sống mà không gây tổn hại cho mô này. Chúng được dùng cho các vết thương trên da, niêm mạc, vết bỏng…
Clorhexidin
Đây là thuốc có tác dụng sát khuẩn và khử khuẩn có các dạng: chế phẩm rà miệng (thường phối hợp với thuốc tê như tetracain, lidocain dưới các dạng viên ngậm, dung dịch súc miệng hoặc khí dung vào miệng), dung dịch rửa, kem dùng ngoài hoặc gel.
Clorhexidin được dùng để khử khuẩn ở da, vết thương, vết bỏng, đường âm đạo, làm sạch dụng cụ và các mặt cứng (mặt bàn bằng gạch men hoặc thép không gỉ). Ngoài ra, clorhexidin có thể phòng ngừa việc tạo thành cao răng và bảo vệ chống lại viêm lợi, thậm chí ở nồng độ rất thấp. Thuốc có tác dụng phòng ngừa sâu răng. Cũng đã xác định được là sau một lần súc miệng, hoạt tính kháng khuẩn còn duy trì được đến 8 giờ.
Các phản ứng mẫn cảm (kích ứng da) có thể xảy ra trong điều trị viêm da tiếp xúc. Dung dịch nồng độ cao có thể gây kích ứng kết mạc và các mô nhạy cảm khác. Phản ứng dị ứng nặng có thể dẫn đến hạ huyết áp rất nhiều hoặc đỏ bừng toàn thân.  Thuốc có thể gây ra màu nâu ở lưỡi và răng, nhưng hồi phục sau khi ngừng điều trị…
Các thuốc có tác dụng sát khuẩn
Cần sát khuẩn trước khi băng bó vết thương
Cồn 70 độ
Được dùng để sát khuẩn da trước khi tiêm, trước khi chọc, chích tĩnh mạch hay phẫu thuật. Các dùng: bôi trực tiếp lên da, không pha loãng. Cần thận trọng khi dùng với các vết thương hở, vết bỏng nặng…. Khi dùng da có thể bị khô và dễ bị kích ứng khi dùng nhiều lần.
Nước ôxy già (Hydrogen peroxyd)
Dung dịch có các nồng độ 1,5%, 3%, 6% được dùng để súc miệng và rửa vết thương. Để súc miệng, rửa miệng pha loãng dung dịch 1,5%, 3% với nước theo tỷ lệ 1:1. Bôi miệng, lợi dùng dung dịch 1,5%. Rửa vết thương, vết loét dùng dung dịch 1,5%, 3%.
Không dùng nước ôxy già để súc miệng, rửa miệng, rửa vết thương trong thời gian dài. Không dùng cho những vết thương đang lành và không nên giữ thuốc trong thời gian dài. Khi dùng thuốc có thể xảy ra kích ứng, bỏng da và niêm mạc.
Cồn iod (dung dịch iod 5%)
Được dùng để sát khuẩn các vết thương và da, niêm mạc trước khi phẫu thuật, chống một số nấm da. Cách dùng: bôi thuốc  lên vùng da để khử khuẩn hoặc vào vùng da tổn thương để tránh nhiễm khuẩn. Ngày bôi 2 lần. Thuốc có thể gây kích ứng tại chỗ, gây bỏng rát, đau. Dùng diện quá rộng và vết thương tổn sâu có thể gây nhiễm độc iod.
Không dùng thuốc cho người mẫn cảm với iod, không bôi trực tiếp trên niêm mạc, không dùng cho trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, đặc biệt là trẻ sơ sinh. Tránh dùng cho các thương tổn sâu.
Povidon iod
Dùng để sát khuẩn vết thương, da, niêm mạc; lau rửa các dụng cụ y tế trước khi tiệt khuẩn. Có nhiều dạng thuốc như:
Dung dịch 10%: người lớn và trẻ em, ngày bôi 2 lần (dung dịch không pha loãng), nếu cần phủ gạc lên vết thương.
Bột khô để phun 2,5%: người lớn và trẻ em trên 2 tuổi, lắc kỹ lọ, phun thuốc vào vùng tổn thương, không phun vào các khoang niêm mạc.
Dung dịch súc miệng 1%: người lớn và trẻ em trên 6 tuổi dùng dung dịch không pha loãng hoặc pha loãng 1/2 với nước ấm. Mỗi lần súc miệng khoảng 10 ml trong 30 giây (không được nuốt).
Viên đặt âm đạo 200 mg: Đặt vào buổi sáng và tối, mỗi lần 1 viên, dùng liên tục 14 ngày. Trước khi đặt phải làm ẩm viên thuốc bằng nước  để thuốc khuếch tán tốt và không gây kích ứng tại chỗ...
Không dùng cho người mẫn cảm với thuốc, tránh dùng thường xuyên hoặc kéo dài ở bệnh nhân bướu giáp nhân coloid; không dùng cho các trường hợp phụ nữ có thai, cho con bú, thủng màng nhĩ, khoang bị tổn thương nặng; trẻ nhỏ dưới 2 tuổi (đặc biệt là trẻ sơ sinh).
Thuốc có thể gây kích ứng da và niêm mạc. Nếu dùng trên diện rộng có thể gây giảm năng tuyến giáp (gây cơn nhiễm độc giáp), nhiễm acid chuyển hóa, tăng natri huyết, suy giảm chức năng thận (ở người bị bỏng nặng) hoặc co giật (ở người điều trị kéo dài).



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Những vấn đề ở đường tiêu hóa và lưu ý khi dùng thuốc

Khi dùng thuốc theo đường này, một số vấn đề có thể xảy ra ở đường tiêu hóa mà người dùng thuốc cần lưu ý để đảm bảo được an toàn, hiệu quả.

Rối loạn nuốt
Một số sản phẩm thuốc được cảnh báo khi dùng nếu bệnh nhân có vấn đề trong việc nuốt thức ăn. Tình trạng nuốt khó (khó nuốt) thường xảy ra ở những bệnh nhân như Parkinson, đột quỵ, chấn thương sọ não hoặc ung thư đầu, cổ, thực quản. Khi nuốt khó, viên thuốc sẽ không trôi ngay xuống dạ dày, sẽ mắc lại ở thực quản, gây loét thực quản (đối với những thuốc kích ứng như kháng sinh doxycycline) hoặc trương nở có thể gây khó thở...
Loét dạ dày dùng thuốc dễ bị chảy máu dạ dày.
Loét dạ dày dùng thuốc dễ bị chảy máu dạ dày
Vì vậy, khi có cảm giác khó nuốt hoặc bị viên thuốc mắc kẹt ở cổ họng... người bệnh cần thông báo cho nhân viên y tế biết để được xử lý kịp thời.
Có “vấn đề” ở dạ dày
Nếu bệnh nhân có vấn đề ở dạ dày như ợ nóng, đau bụng hoặc đau dạ dày hoặc viêm loét dạ dày cần thận trọng khi sử dụng các thuốc có tác dụng phụ gây hại dạ dày như các loại thuốc kháng viêm không steroid (aspirin, ibuprofen, naproxen...). Khi bị viêm loét dạ dày hoặc có tiền sử viêm loét dạ dày dùng các thuốc này sẽ làm trầm trọng thêm bệnh, sẽ gây chảy máu dạ dày.
Buồn nôn, nôn
Buồn nôn, nôn là các triệu chứng gây phiền hà trong quá trình uống thuốc. Vì rất nhiều thuốc uống có tác dụng phụ trên đường tiêu hóa gây buồn nôn, nôn ảnh hưởng tới quá trình dùng thuốc. Trường hợp các triệu chứng trên nặng cần phải thay đổi đường dùng thuốc, ví dụ từ thuốc uống chuyển sang dùng dạng thuốc đặt, tiêm...
Vì vậy, trong quá trình dùng thuốc, người bệnh cần thông báo tình trạng của mình cho bác sĩ biết, ví dụ như đang mắc các bệnh gì, từng bị dị ứng với những thuốc nào... và kịp thời thông báo những bất thường có thể xảy ra trong quá trình dùng thuốc để được xử lý kịp thời, thích hợp.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons