Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

Sắp có thuốc tránh thai chung cho cả nam lẫn nữ?


Các nhà nghiên cứu Mỹ đã nhận diện được một protein có tên gọi ABHD2 ở tinh trùng, chuyên trách việc cung cấp năng lượng cho "con giống" tìm tới chỗ trứng và xâm nhập để thụ tinh. Do đó, theo nhóm nghiên cứu, việc vô hiệu hóa protein này có thể ngăn chặn cuộc gặp gỡ giữa tinh trùng và trứng, khiến việc thụ thai không thể xảy ra.

Tiến sĩ Stuart Moss đến từ Viện sức khỏe quốc gia Mỹ - cơ quan tài trợ nghiên cứu trên, nhấn mạnh, việc phát triển các hợp chất mới, vô hiệu hóa ABHD2 rốt cuộc sẽ tạo ra các phương pháp tránh thai mới. Và điều thú vị là, chúng có thể dùng chung cho cả hai giới.
Về mặt lý thuyết, một viên thuốc tránh thai như vậy có thể dùng chung cho cả nam lẫn nữ, cho phép cánh mày râu chia sẻ nhiều hơn gánh nặng tránh thai.
Mặc dù phái yếu đã có các thuốc uống tránh thai từ hơn nửa thế kỷ qua, nhưng những nỗ lực cho ra đời một viên thuốc tránh thai cho phái mạnh đang bị các đặc tính sinh vật học ngáng trở. Trong khi một phụ nữ thường chỉ rụng một quả trứng mỗi tháng, thì một người đàn ông khỏe mạnh sản sinh ra tới 1.000 tinh trùng mỗi nhịp tim đập và chỉ một trong số các "con giống" đó là cần cho quá trình thụ thai.
Ngoài ra, nhiều người cũng lo lắng rằng liệu cánh mày râu có sẵn sàng uống loại thuốc dễ bị coi là làm suy giảm sự nam tính của họ hay không và liệu phụ nữ có phó mặc cho họ làm điều đó hay không.
Phát hiện mới được công bố sau khi một nhóm nghiên cứu khác của Mỹ cho biết đã đạt tiến triển trong việc bào chế một loại thuốc dành riêng cho nam giới mà không gây ra tác dụng phụ. Giáo sư Gunda Gerog thuộc Đại học Minnesota thông báo tại hội nghị thường niên của Hiệp hội hóa học Mỹ rằng, bà đã thực hiện các điều chỉnh nhỏ giúp tiến gần hơn tới việc phát triển thành công thuốc tránh thai cho phái mạnh. Thuốc của bà dựa vào việc khám phá ra một enzym được tinh trùng sử dụng để thâm nhập vào bên trong trứng.
Dù rất vui mừng trước các thông tin khám phá trên, nhưng một số chuyên gia vẫn thận trọng cảnh báo dư luận chờ tới khi các viên thuốc tránh thai kiểu mới đó chính thức được trình làng.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Cơ thể thừa chất sắt gây ung thư, đột quỵ



Theo một nghiên cứu của trường Đại học Hoàng gia London, ngay khi vừa uống thuốc viên bổ sung chất sắt, bạn đã có thể gây hại cho DNA của mình trong vòng 10 phút.
Các nhà nghiên cứu đã lên tiếng cảnh báo mọi người cần chú ý về lượng chất sắt hấp thu vào cơ thể.
Lượng sắt thích hợp rất cần thiết cho cơ thể vì sắt đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển oxy từ phổi tới các mô. Thiếu sắt có thể gây ra thiếu máu. Thuốc bổ sung chất sắt do đó rất phổ biến, đa dạng, thông thường mỗi viên chứa 18mg sắt.
Nhưng mỗi người chỉ nên nạp khoảng 50mg sắt mỗi ngày vì này hoàn toàn có khả năng nạp đủ qua đường ăn uống.

Nếu nạp quá nhiều chất sắt cho cơ thể có thể sẽ gây ung thư, đột quỵ.
Trong nghiên cứu, các nhà khoa học đã thêm sắt vào tế bào nội mô trích từ thành mạch máu của người. Lượng sắt này tương đương với lượng thường thấy trong mạch máu sau khi uống thuốc viên cung cấp sắt.
Họ phát hiện ra rằng chỉ trong vòng 10 phút, lượng sắt thêm vào đã kích hoạt hệ thống phục hồi của DNA. Hiệu ứng này kéo dài khoảng sáu tiếng.
Lượng sắt quá cao đã được biết là sẽ gây hại cho tế bào con người. Tuy nhiên, nghiên cứu này còn cho thấy rằng lượng sắt thường có trong thuốc bổ sung dưỡng chất cũng có thể gây hại cho tế bào, ít nhất là với kết quả trong phòng thí nghiệm. Các tế bào có vẻ nhạy cảm với sắt hơn mức con người thường nghĩ.
Các bệnh nhân nếu được kê đơn từ bác sĩ nên tiếp tục uống thuốc, vì họ thực sự thiếu sắt. Nhưng những người khác nên cẩn thận với các loại thuốc bổ sung chất. Hơn nữa, các bác sĩ cũng nên cẩn trọng về lượng sắt trong thuốc kê đơn cho bệnh nhân.
Thừa sắt là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh tật. Nhiều nghiên cứu trước đó đã cho thấy người nạp qúa nhiều sắt hơn mức thường tăng cao nguy cơ bị trụy tim, đột quỵ, tiểu đường, ung thư và nhiều chứng bệnh thần kinh khác. Đặc biệt, nguy cơ trụy tim, đột quỵ sẽ cao hơn ở phụ nữ.
Trong thí nghiệm với động vật, thừa sắt làm tăng tốc độ xơ vữa động mạch. Sắt thừa kích hoạt sản sinh các gốc tự do, gây hại cho mạch máu và oxy hóa LDL cholesterol. Sắt thừa cũng làm tăng nguy cơ sưng viêm, gây ra rất nhiều loại bệnh tật.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Sai lầm khi dùng thuốc kháng sinh tổn hại sức khỏe của bạn


Theo nghiên cứu (năm 2009-2010) do Cục Quản lý khám chữa bệnh thực hiện, về thực trạng sử dụng kháng sinh trên hơn 1.000 hồ sơ bệnh án tại các khoa điều trị tích cực của 19 bệnh viện lớn thuộc Hà Nội, Hải Phòng, TPHCM, cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh không phù hợp chiếm tới 74%.
Việc sử dụng kháng sinh không phù hợp khiến thất bại điều trị ở nhóm bệnh nhân này lên tới 63% so với 40% ở nhóm dùng kháng sinh phù hợp. 88% nhà thuốc thành thị và 91% là ở nông thôn bán kháng sinh không theo đơn.
Theo BS Nguyễn Văn Kính, Giám đốc BV Bệnh nhiệt đới T.Ư, điều trị kháng sinh cho bệnh nhân không nhiễm trùng, lạm dụng kết hợp kháng sinh, tiếp tục dùng kháng sinh cho bệnh nhân không có đáp ứng... là những sai lầm thường gặp trong sử dụng kháng sinh.
Dưới đây là những sai lầm thường gặp khi uống thuốc kháng sinh ai cũng nên biết để không hủy hoại sức khỏe của bạn:
Kéo dài hay rút ngắn liệu trình
Sau thời gian dùng kháng sinh nhưng không cải thiện, nhiều người quyết định tự ý kéo dài thêm liệu trình, hoặc rút ngắn liệu trình khi tình trạng thuyên giảm mà không tái khám đúng hẹn. Không ít phụ huynh còn tự chữa bệnh cho con mình bằng toa thuốc của bé khác, dẫn đến bệnh trở nặng hơn.
“Việc không tuân thủ điều trị kháng sinh nói chung khiến bệnh không hết hẳn, dễ tái phát khiến người bệnh đáp ứng với điều trị kém hơn, tăng thể bệnh nặng và dễ có biến chứng. Từ đó, chi phí bỏ ra tốn kém hơn do phải điều trị, nhập viện và phải đổi sang kháng sinh khác thường đắt tiền hơn”, ThS. BS Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa hô hấp BV Nhi Đồng 1 phân tích.
Tự kê toa
Việc sử dụng kháng sinh nhất thiết phải có ý kiến của bác sĩ, bởi ở trình độ của họ mới có thể xác định đúng bệnh, loại kháng sinh, liều dùng và thời gian uống. Trên thực tế, kháng sinh chỉ được dùng khi trẻ xác định bị nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, nhiều người đã lạm dụng kháng sinh ngay khi gặp các triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp như hắt hơi, sổ mũi, ho…
Uống nhầm liều
Thuốc được kê bằng nhiều đơn vị đo lường khác nhau, các đơn vị thường được viết tắt và chỉ cần nhầm lẫn một dấu chấm thôi thì cũng đủ gây họa, chẳng hạn 1.0 mg và 10 mg.
Sự nhầm lẫn thường xảy ra nhất ở đơn vị microgram (mcg) và milligram (mg, 1 mg = 1.000 mcg). Đ
iều này thường xảy ra ở bệnh viện khi bệnh nhân được tiêm tĩnh mạch và cũng thường gặp ở bệnh nhân ngoại trú.
Vì vậy, bác sĩ cần viết chữ rõ ràng trên toa thuốc.
Dùng lại kháng sinh thừa từ các đợt kê toa trước
Không ít bệnh nhân khỏi bệnh từ đợt kháng sinh trước, thấy thuốc có hiệu quả nên khi có những triệu chứng bệnh gần giống như vậy liền mang thuốc thừa ra dùng lại. Nguyên tắc là thuốc thừa nên được loại bỏ, không giữ lại để dùng cho lần sau.
Kê toa hoặc uống thuốc của người khác
Tình trạng này được các chuyên gia y tế đánh giá là khá phổ biến ở Việt Nam. Nhiều người thường uống thuốc theo kinh nghiệm của các “bác sĩ nhân dân”, khi thấy triệu chứng bệnh tương tự nhau. Uống kháng sinh không đúng có thể gây biến chứng, nặng thêm tình trạng bệnh và làm khuẩn gây bệnh sinh sôi nảy nở, góp phần vào tình trạng kháng thuốc thêm trầm trọng.
Tổ chức Y tế Thế giới cho hay, tình trạng đề kháng kháng sinh hay còn gọi nôm na là “lờn thuốc” của Việt Nam hiện đang nằm trong những nước cao nhất thế giới.
Quan niệm kháng sinh liệu trình điều trị ngắn ngày không hiệu quả
Trong khi nhiều bệnh nhân thường không tuân thủ đầy đủ liệu trình điều trị kháng sinh dài ngày thì số khác lại nghĩ rằng kháng sinh liệu trình điều trị ngắn ngày không đủ thời gian để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh.
Theo ThS. BS Trần Anh Tuấn, kháng sinh liệu trình điều trị ngắn ngày đang là xu hướng điều trị nhiễm khuẩn, vì các lợi ích mang lại. Người bệnh sử dụng kháng sinh liệu trình điều trị ngắn ngày (3 -5 ngày) thường dễ tuân thủ liệu trình, không bỏ ngang, mang lại hiệu quả điều trị tối đa.
“Sử dụng kháng sinh có liệu trình điều trị ngắn ngày vẫn đủ khả năng khỏi bệnh hoàn toàn và tránh tái phát. Ngoài ra, sử dụng kháng sinh có liệu trình điều trị ngắn ngày cũng ít tốn kém chi phí hơn, hạn chế tác dụng phụ và giảm thiểu nguy cơ kháng kháng sinh.
Tuy nhiên, cần lưu ý là không phải bệnh nào, người bệnh nào, kháng sinh nào cũng có thể áp dụng biện pháp này. Chỉ qua thăm khám và đánh giá đầy đủ, bác sĩ của bạn mới quyết định được điều này”, ông nhấn mạnh.
Dùng thuốc không an toàn so với độ tuổi
Khi lớn tuổi, cơ thể chúng ta xử lý thuốc hoàn toàn khác với khi chúng ta còn trẻ. Người cao tuổi còn bị “dính” thêm nhiều vấn nạn khác như mất trí, xây xẩm, dễ té ngã, huyết áp cao...
Vì vậy, những loại thuốc gây ra tác dụng phụ như trên càng làm tần suất rủi ro tăng cao, nhất là những người bước qua tuổi 65.
Nhà thuốc nên giúp bệnh nhân uống thuốc thuận lợi bằng cách chia liều thuốc sẵn trong một dụng cụ để uống trong tuần.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Thuốc mới trị bệnh ung thư phổi hiếm gặp


Thuốc có tên xalkori (crizotinib) đã được sử dụng để điều trị một số dạng ung thư phổi, nay được FDA tiếp tục mở rộng để sử dụng điều trị các khối u dương tính với một đột biến di truyền có tên ROS-1 được tìm thấy trong nhóm ung thư phổi tế bào không nhỏ (NSCLC), dạng bệnh nguy hiểm nhất của ung thư phổi bởi tỷ lệ tử vong rất cao.
Thuốc mới trị bệnh ung thư phổi hiếm gặp
Bệnh nhân ung thư phổi có cơ hội được điều trị hiệu quả với loại thuốc mới. Ảnh:Cityofhope.
Theo TS. Richard Pazdur, Giám đốc, Phân ban Huyết học và sản phẩm Ung thư của FDA, ung thư phổi là căn bệnh khó điều trị, một phần vì bệnh nhân có các đột biến khác nhau, trong số này có những đột biến rất hiếm gặp, chiếm khoảng 1% trong nhóm bệnh nhân NSCLC.
Việc mở rộng sử dụng thuốc xalkori sẽ cung cấp lựa chọn điều trị cho những bệnh nhân có đột biến gen ROS-1 hiếm gặp và khó điều trị. Bằng cách ngăn chặn hoạt động của các protein ROS-1 trong các khối u, crizotinib có thể ngăn chặn bệnh NSCLC phát triển và di căn.

ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Chọn thực đơn phù hợp... cho thuốc


Cả thực phẩm và thuốc đều cần thiết cho cơ thể nhưng đôi khi sự hòa lẫn với nhau lại mang đến những phản ứng bất lợi. Do vậy, để thuốc phát huy tối đa hiệu quả điều trị cần cân nhắc trước khi kết hợp hai yếu tố này cùng một lúc.
Ảnh hưởng qua lại giữa thực phẩm và thuốc
Nguy cơ gây tương tác giữa thực phẩm và thuốc uống tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe tổng quát của cơ thể, tình trạng bệnh, chế độ ăn uống, chủng loại thực phẩm, sử dụng nhiều loại dược phẩm… Thuốc có thể làm tăng hoặc giảm dinh dưỡng của thực phẩm. 
Ngược lại, tình trạng dinh dưỡng của người bệnh có thể làm giảm tác dụng hoặc làm tăng độc tính của thuốc. Ngoài ra, thực phẩm có thể làm trì hoãn hoặc gây khó khăn cho sự hấp thụ thuốc, làm sự chuyển hóa mau hoặc chậm, ngăn chặn tác dụng của thuốc. Cần lưu ý là thức ăn đặc biệt ảnh hưởng lớn đến sự hấp thu của các dạng thuốc phóng thích chậm.
Một số thực phẩm có thể gây khó khăn cho sự hấp thụ thuốc
Nếu thuốc được uống vào sau bữa ăn thì thức ăn có thể gây ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng hấp thu của thuốc. Thức ăn còn tạo thành rào cản vật lý ngăn cản việc hoà tan của thuốc và sự tiếp xúc của thuốc với niêm mạc ruột hoặc tạo ra các liên kết và các phản ứng hoá học với thuốc, từ đó gây cản trở sự hấp thu của thuốc.
Những thức ăn chứa nhiều lipid thường nổi ở bên trên nên chậm tống ra khỏi dạ dày hơn so với các thức ăn chứa nhiều glucid và protid. Các loại thuốc dưới dạng không ion hóa có ái tính cao với lipid, nếu được uống sau bữa ăn có thể hòa tan trong lớp lipid của thức ăn và do đó sẽ chậm được đưa xuống ruột và cũng sẽ chậm được hấp thu vào máu. Bữa ăn chứa nhiều protid làm tăng lượng máu đến ruột, trong khi lipid gây giảm lượng máu này. 
Thông qua nhiều cơ chế khác nhau, thức ăn có thể làm chậm hoặc làm giảm sự hấp thu của khá nhiều loại thuốc như alendronate (thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp), doxazosin (thuốc chữa bệnh tim mạch), levodopa (thuốc chữa bệnh parkinson), atenolol (thuốc chống tăng huyết áp)... 
Tuy nhiên, thức ăn có thể làm tăng đáng kể sự hấp thu của nhiều loại thuốc như: kháng sinh clarithromycin, cefuroxime; danazol (nội tiết tố); itraconazole (thuốc trị ký sinh trùng, chống nấm)...
Kết hợp thuốc và thức ăn như thế nào?
Thực phẩm có thể gây cho thuốc nhiều trở ngại trong việc phát huy tác dụng và hiệu quả điều trị, nhưng nếu sử dụng thực phẩm và thuốc đúng cách sẽ làm tăng hiệu quả của thuốc, đồng thời thức ăn có khả năng bảo vệ niêm mạc dạ dày và ruột trước sự kích thích của thuốc, giúp tránh được nhiều bệnh đối với hệ tiêu hóa khi dùng thuốc kéo dài. Vì vậy, việc biết được loại thuốc mình đang dùng phù hợp hoặc không phù hợp với lọai thực phẩm nào sẽ giúp cho hiệu quả dùng thuốc cao hơn.
Thông thường, trong khi kê đơn, bác sĩ sẽ dặn dò người bệnh thời điểm dùng thuốc phù hợp và trong các tờ hướng dẫn sử dụng thuốc có ghi thời gian dùng: trước, trong hay sau khi ăn, nhưng không bao giờ nhà sản xuất nói rõ là nên hay không nên ăn thức ăn gì khi đang dùng thuốc. Vì vậy, người dùng thuốc cần biết một số nét cơ bản về tính tương thích của các thực phẩm và thuốc chữa bệnh.
Các loại thuốc glicozid chữa bệnh tim mạch rất giống về mặt hóa học so với protein. Do đó, khi dùng chúng, cần giảm lượng protein trong thức ăn (ăn ít thịt, gia cầm, cá, phô mai, đậu đỗ). Đừng bỏ hoàn toàn các thực phẩm này, nhưng cần giảm bớt lượng sử dụng và tuân thủ nghiêm ngặt thời gian uống được nêu trong hướng dẫn hay do bác sĩ chỉ định.
Mỡ (lipid) làm giảm sự tiết dịch vị dạ dày, làm cho quá trình tiêu hóa thức ăn chậm đi, điều đó có nghĩa sau khi ăn, thuốc sẽ được hấp thu chậm hơn. Nhưng lipid lại cần cho sự hấp thu các loại thuốc tan trong mỡ (vitamin A, D, E, K, thuốc chống đông máu...). Ngược lại, khi phải dùng thuốc aspirin, nên ăn thức ăn có ít chất đạm, mỡ.
Đường và các thực phẩm ngọt làm chậm sự tác động của các chất có trong dạ dày, dẫn đến sự hấp thu các loại thuốc sulphadimetoxin, sulphametoxipiridazin, các thuốc tương tự với chúng và nhiều thuốc khác chậm đi. 
Thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa thường có vị đắng để kích thích dịch vị dạ dày, tăng cảm giác thèm ăn và giúp quá trình tiêu hóa dễ dàng hơn. Nếu ăn đồ ngọt trong khi sử dụng thuốc tiêu hóa sẽ làm giảm hiệu quả vốn có của thuốc và gây ra tác dụng phụ ngoài mong muốn.
Dịch tiêu hóa có ảnh hưởng mạnh đến quá trình biến đổi thuốc trong cơ thể. Khi đói, độ acid của dịch dạ dày thấp, tốt cho những loại thuốc như glicozid chữa bệnh tim mạch cũng như những loại thuốc không kích thích niêm mạc dạ dày. Các thuốc này uống khi đói sẽ được hấp thu nhanh hơn.
Trong thời gian ăn, độ acid của dịch dạ dày rất cao, do đó ảnh hưởng đáng kể đến độ ổn định của thuốc và sự hấp thu chúng vào máu. Trong môi trường acid, tác dụng của erytromixin, lincomixin  và các thuốc kháng sinh khác bị giảm một phần.
Hiệu quả trị liệu của các thuốc sulphanilamid (kháng sinh) bị suy giảm đáng kể hay mất hoàn toàn khi dùng cùng thực phẩm giàu acid folic (có nhiều trong gan, thận, rau bina, xà lách và bí đỏ).
Khi uống các loại thuốc tẩy giun sán, cần ăn nhiều thức ăn giàu chất xơ như trái cây, rau xanh để tăng thêm nhu động của ruột, giúp nhanh chóng tống giun sán ra khỏi cơ thể. Bên cạnh đó, không nên ăn những thức ăn nhiều mỡ vì thuốc tẩy giun sán có khả năng hòa tan trong mỡ, làm tăng độc tính đối với cơ thể, hạ thấp hiệu quả trị giun.

ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Chọn thuốc trị ho ở người cao tuổi


Ho là một triệu chứng mà người cao tuổi hay gặp, họ thường đến gặp thầy thuốc với dáng vẻ thiểu não do ho làm trầm trọng thêm tình trạng mất ngủ, làm cho bệnh mạn tính nặng hơn và nhiều khi làm cho họ không kiểm soát được tiểu tiện. Do đó, giảm và chấm dứt cơn ho là yêu cầu cần thiết giúp người cao tuổi tránh được nỗi lo lắng, bất an.
Có nhiều nguyên nhân gây ra ho. Đối với mỗi nguyên nhân thì cách sử dụng thuốc cũng khác nhau nhưng có một nguyên tắc chung là dùng thuốc điều trị nguyên nhân gây ho và không nên dùng thuốc làm ngắt cơn ho. Dưới đây là một số nguyên nhân gây ho và thuốc điều trị.
Nhiễm vi khuẩn ở phế quản, thanh quản gây ho khan
Ho do nhiễm khuẩn
Trước hết phải dùng thuốc kháng sinh để điều trị nguyên nhân gây ho. ở người cao tuổi, do sức đề kháng đã giảm, mức độ hấp thu thuốc kháng sinh, việc thải độc qua gan thận cũng giảm theo, nhất là các loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm amynoglycoside, sulfamide (co-trimoxazol)... 
Bên cạnh đó, chức năng thận suy giảm làm cho kháng sinh dễ gây độc cho gan nên cần phải giảm liều. Từ những lưu ý như vậy nên khi được chẩn đoán ho do nhiễm khuẩn trong các bệnh viêm mũi xoang, viêm họng, viêm phế quản... thì người cao tuổi cần phải được sử dụng kháng sinh sớm. 
Nhóm kháng sinh được lựa chọn an toàn nhất là nhóm beta lactam. Nếu cần phối hợp thuốc, phải cân nhắc tính đối kháng hay tính hiệp đồng của thuốc. Nắm vững cơ địa, tiền sử bệnh và các thuốc đang sử dụng của người bệnh. 
Ngoài ra, đối với người bị ho do viêm phế quản mạn tính thì cần cân nhắc sử dụng thuốc long đờm nhằm tạo điều kiện để phản xạ ho tống chất tiết ra ngoài làm thông đường dẫn khí.
Nếu chất tiết ít nhưng đặc khó tống ra ngoài thì dùng thuốc làm loãng chất tiết như natri benzoat, terpinhydrat. Nếu chất tiết nhiều và đặc, việc làm loãng sẽ tăng thể tích gây khó khăn cho việc thông khí thì dùng các chất khử chứa lưu huỳnh như acetylstein, carboxystein. 
Có thể dùng thuốc làm giảm ho nhưng với liều thích hợp chứ không vì muốn hết ho ngay mà dùng liều quá cao, vì liều quá cao sẽ làm mất hết phản xạ ho, nghĩa là làm cho việc tống chất tiết bị trở ngại. Sử dụng thuốc kháng viêm để tránh tình trạng thông khí bị trở ngại. 
Có thể dùng corticoid uống, xông hay hít nhưng phải tuyệt đối tuân theo chỉ định của bác sĩ vì thuốc có thể gây tác dụng phụ toàn thân. Trong một số trường hợp cần thiết, người bệnh còn được sử dụng thuốc chống tắc nghẽn phế quản làm giãn phế quản nhằm giảm sự tắc nghẽn đường dẫn khí như theophylin, các thuốc chủ vận beta 2 (loại tác dụng ngắn như salbutamol, terbutalin, fenoterol và loại có tác dụng dài như salmeterol, formoterol).
Khám cho người cao tuổi để phát hiện sớm ho. Ảnh: TM
Ho do thuốc điều trị tăng huyết áp
Đối với người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp, việc sử dụng thuốc, nhất là coversyl để hạ huyết áp có thể gây ho do kích ứng niêm mạc. Thực tế cho thấy, hiện tượng ho khan thành cơn khi sử dụng coversyl chiếm tới 1/3 số người sử dụng thuốc. 
Việc điều trị cắt cơn ho sẽ khó khăn nếu không phát hiện ra nguyên nhân này, có bệnh nhân đã phải chịu đựng cơn ho tới hàng năm. Trong các trường hợp này, biện pháp xử trí tốt nhất là phải đổi thuốc điều trị huyết áp kết hợp với sử dụng thuốc ức chế cơn ho và chống dị ứng trong giai đoạn đầu. 
Thuốc ức chế cơn ho có codein có tác dụng giảm ho do tác dụng ức chế trung tâm hô hấp. Sau khi uống, tác dụng giảm ho xuất hiện trong vòng 1 - 2 giờ và có thể kéo dài 4 - 6 giờ. Codein được chuyển hóa ở gan và thải trừ ở thận dưới dạng tự do hoặc kết hợp với acid glucuronic. Ở liều điều trị codein ít gây co thắt mật và gây nghiện hơn so với morphin. 
Tuy nhiên không sử dụng thuốc này cho người có tiền sử hen phế quản, COPD - tâm phế mãn ở người cao tuổi. Ngoài ra, cần sử dụng thêm thuốc kháng histamin H1. Loại thuốc này được hấp thu nhanh sau khi uống và đều có chuyển hóa trong gan. Do thời gian bán thải ở người cao tuổi kéo dài hơn nên thường phải giảm liều và sử dụng trong thời gian ngắn.
Ho do trào ngược dạ dày - thực quản
Ho do trào ngược dạ dày - thực quản xảy ra khi cơ vòng thực quản bất thường, không khép kín hẳn sau khi thức ăn đã xuống dạ dày và làm dịch chứa acid chảy ngược từ dạ dày lên trên thực quản, đi đến họng, gây kích thích phản xạ thực quản - khí quản - phế quản và gây ho. Để điều trị chứng ho này cho người bệnh, bác sĩ thường sử dụng thuốc kháng histamin H2 như: cimetidin, ranitidin, famotidin, nizatidin. 
Chúng ức chế cạnh tranh với histamin tại thụ thể H2 ở tế bào thành dạ dày, nên ức chế bài tiết cả dịch acid cơ bản (khi đói) và dịch acid do kích thích (bởi thức ăn, histamin, cafein, insulin...). Các thuốc nhóm này có tác dụng làm liền các vết loét dạ dày và tá tràng, làm giảm bệnh trào ngược dạ dày - thực quản, từng bước giảm và ngắt cơn ho.
Ho do các khối u của đường thở hoặc chèn ép đường thở
Loại ho do bệnh lý này thường giảm khi dùng thuốc ức chế cơn ho nhưng không bao giờ hết triệu chứng, do đó phải kết hợp với loại bỏ khối u nếu có thể.

ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Cho trẻ uống thuốc: Tưởng dễ mà khó


Sau khi đưa trẻ rời bệnh viện về nhà thì các bậc cha mẹ phải làm thêm một việc quan trọng mà trong những ngày trẻ nằm viện, họ không cần phải làm. Đó là cho trẻ uống thuốc. Nhiều người lo lắng nên cho trẻ uống bao nhiêu là vừa và uống như thế nào.
Cần nắm rõ liều lượng thuốc
Liều lượng thuốc thường do bác sĩ chỉ định hoặc với những thuốc không cần kê toa thì liều lượng được ghi trên vỏ hộp thuốc. Cần phải biết rõ liều lượng thuốc cho trẻ uống trước khi đưa trẻ về nhà. Đối với trẻ nhỏ thì liều lượng thuốc thường được xác định theo trọng lượng của trẻ. Cho trẻ uống thuốc quá ít hoặc quá nhiều đều mang đến rủi ro cho sức khỏe. Vì vậy, phụ huynh cần biết rõ trọng lượng của con mình.
Ngoài ra, phụ huynh cần hỏi kỹ bác sĩ tại bệnh viện về thời gian cho trẻ em uống thuốc. Nếu trẻ dùng nhiều loại thuốc ở những thời điểm khác nhau trong ngày, tốt nhất nên nhờ y sĩ hay điều dưỡng viết ra một thời khóa biểu dùng thuốc rõ ràng.
Dụng cụ dùng để đong thuốc cũng rất quan trọng. Đối với dạng thuốc lỏng nên dùng muỗng, tách có chia vạch được bán kèm theo chai thuốc. Không nên dùng các loại muỗng ăn thông thường ở nhà bếp vì có thể làm sai lệch liều lượng thuốc. Riêng đối với ống nhỏ đếm giọt thuốc, lọ thuốc nào phải dùng ống nhỏ ấy, không được dùng ống nhỏ của lọ thuốc này để đếm giọt ở lọ thuốc khác.
Đối với dạng thuốc lỏng, nếu nhãn thuốc yêu cầu phải lắc lọ trước khi dùng thì cần lắc mạnh lọ thuốc liên tục trong khoảng 30 giây.

Dùng thuốc trong thời gian bao lâu cần theo chỉ dẫn của bác sĩ. Ảnh: Tấn Thạnh
Dùng thuốc trong thời gian bao lâu cần theo chỉ dẫn của bác sĩ. Ảnh: Tấn Thạnh
Thận trọng hơn với trẻ sơ sinh
Trẻ sơ sinh chỉ có thể thích hợp với thuốc dạng lỏng. Để trẻ ở vị trí giống như khi cho trẻ bú mẹ hoặc cho ngồi ở ghế cao. Từ từ cho thuốc vào một bên má trong của trẻ (không nên cho thuốc nước vào ngay sau cuống họng vì thuốc có thể làm cho trẻ bị ho, sặc, nghẹt thở...), sau đó dùng tay ấn nhẹ 2 bên má của trẻ để thuốc đi vào dễ dàng. 
Cũng có thể dùng núm vú cao su để đưa thuốc vào cơ thể của trẻ. Cho thuốc vào bình sạch, cho thêm vài muỗng nước sạch và đảo đều, sau đó cho trẻ bú đến hết thuốc. Tráng bình bằng 2 hoặc 3 muỗng canh nước sạch rồi cho trẻ bú tiếp.
Đối với những trẻ lớn hơn thì có thể dùng thuốc dưới dạng viên nén hoặc viên nang. Một số loại viên nén có thể cà nhuyễn và một số viên nang có thể tháo ra để lấy phần bột thuốc bên trong. Tuy nhiên, vì không phải thuốc nào cũng có thể cà nhuyễn hoặc tháo bỏ nang thuốc, do đó cần hỏi ý kiến bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng tại bệnh viện xem những loại thuốc trẻ sẽ dùng có thể cà nhuyễn hoặc tháo rời nang hay không. Lưu ý rằng thuốc sau khi cà nhuyễn hoặc tháo ra khỏi nang phải cho trẻ uống ngay, không nên để lâu vì thuốc sẽ biến chất.
Đừng “đánh lừa” trẻ
Thông thường, trẻ em thường thích một loại hương vị “ruột” nào đó. Vì vậy, cần tìm hiểu sở thích của trẻ để chúng dễ dàng chấp nhận việc uống thuốc. Đa số các loại thuốc dạng lỏng dành cho trẻ em đã được bào chế với nhiều mùi vị khác nhau, như cam, dâu, vanilla, sô-cô-la...
Đối với những loại thuốc quá đắng, cần nên cho trẻ ngậm một mẩu nước đá nhỏ vì nhiệt độ lạnh trên lưỡi sẽ khiến trẻ không còn cảm nhận được vị đắng. Điều quan trọng phụ huynh cần lưu ý là không nên “đánh lừa” trẻ bằng cách nói thuốc là kẹo, là chè hay xi-rô..., bởi sẽ có lúc, khi gặp một viên thuốc rơi đâu đó thì chúng sẽ nghĩ là kẹo hoặc nhìn thấy một chai thuốc lỏng lại chắc đó là xi-rô.
Trong trường hợp bận công việc hoặc vì lý do nào đó mà bạn quên cho trẻ uống thuốc, hãy lập tức cho chúng uống ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu ở thời điểm mà bạn nhớ ra gần với thời điểm để uống liều kế tiếp thì bỏ hẳn liều đã quên. Chờ đến thời gian liều kế rồi cho trẻ uống như bình thường (chỉ một liều bình thường chứ không được cho uống bù liều đã quên).
Trước khi cho trẻ uống thuốc cần rửa tay sạch bằng xà phòng và lau tay khô bằng khăn sạch. Tất cả dược phẩm đều phải để xa tầm với của trẻ em.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Paracetamol không hiệu quả với thoái hóa khớp


Khảo sát trên 74 thử nghiệm lâm sàng gồm gần 60.000 bệnh nhân chỉ ra rằng khi được dùng để giảm đau hoặc tăng cường khả năng vận động, thuốc này chỉ cho thấy tác dụng tốt hơn một chút, hầu như không có ý nghĩa so với giả dược.
Theo Sven Trelle ở ĐH Bern ở Thụy Điển, kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng paracetamol ở mọi liều đều không có hiệu quả giảm đau trong bệnh lý thoái hóa khớp.
 Trelle và cộng sự đã đánh giá 8 loại thuốc chống viêm không steroid khác nhau, cho từng người uống các liều khác nhau và kết hợp với các thuốc khác.
Loại thuốc có tác dụng tốt nhất ở bệnh nhân viêm khớp là diclofenac, được bán dưới các tên biệt dược khác nhau ở các nước như Voltaren, Aclonac và Cataflam.
Kết quả này được công bố trên tờ The Lancet.
Thoái hóa khớp là một trong dạng bệnh khớp phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây đau ở người già. Bệnh xuất hiện khi sụn bảo vệ ở đầu xương mòn dần theo thời gian gây cứng và đau cấp. Các khớp bị ảnh hưởng nhiều nhất là tay, gối, háng và cột sống.
Tình trạng này nặng dần và không có cách chữa dứt điểm. Bệnh ảnh hưởng tới khoảng 18% phụ nữ và 9,5% nam giới trên 60 tuổi.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Cảnh giác với thuốc giảm cân nhanh



Khoảng 1,5 tỉ người béo phì trên thế giới đang muốn giảm cân, riêng ở nước ta, hơn 22 triệu người Việt Nam thừa cân cũng mong “ép ký” để trở về một thân hình hoàn hảo. Không ít người trong số họ từng vô cùng hào hứng và tràn trề hy vọng khi thử nghiệm chế độ ăn kiêng mới nhưng không đạt kết quả, đành… tự trách mình.
Ai sở hữu một thân hình quá khổ mới thấu hiểu những khó khăn trong sinh hoạt, nguy cơ bệnh tật và cảm giác kém tự tin. Là phụ nữ thì càng phải giảm cân để cập nhật những xu hướng thời trang mới, người đứng tuổi một chút thì mong giảm cân để… “lấy lại những gì đã mất”!
Ảnh minh họa. Internet
Ảnh minh họa. Internet

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, người béo phì nên tập trung tập luyện cho những bộ phận dư thừa mỡ. Ở nam giới, mỡ thường tập trung ở phần trên cơ thể như ngực, vai, bụng. Trong khi đó, ở phụ nữ, mỡ lại tích tụ ở phần bụng, eo, hông, mông, đùi. Tùy theo môn thể thao mà cơ thể có thể đốt cháy ít hay nhiều năng lượng. Nếu tập luyện nhẹ thì mỗi giờ chỉ tiêu tốn 200kCal, tập luyện trung bình đốt được 300kCal, còn tập nặng mới cho 400kCal đào thoát khỏi cơ thể.

Vì quá nóng vội với việc giảm cân nhiều người đã tìm đến các loại thuốc giảm cân cấp tốc được quảng cáo rất hấp dẫn như có thể giảm 3 – 5kg chỉ sau một tuần sử dụng. Điều đáng nói, nhiều loại thuốc mập mờ nguồn gốc, xuất xứ, nhãn mác cũng như hướng dẫn sử dụng, kém chất lượng. Một số khác được quảng cáo sản xuất tại Mỹ, Nhật nhưng lại xuất hiện chữ Trung Quốc trên bao bì, không có hạn sử dụng, giấu nhẹm các thành phần có hại. Các loại thuốc này là những chiếc bẫy với những ai muốn giảm cân nhanh chóng.

TS-BS Hồ Thu Mai, khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, cho biết: “Mỗi loại thuốc có tác dụng và cơ chế giảm cân khác nhau. Thuốc thường gây tiêu chảy để giảm hấp thu. Khoảng 70% cơ thể là nước, khi ta mất nước nhiều có nghĩa cân nặng cũng giảm, vì vậy khi sử dụng thuốc giảm cân còn làm lợi tiểu”.

Bác sĩ Mai nhấn mạnh, thuốc giảm cân cấp tốc làm mất điện giải nhanh, ức chế hấp thu, giảm cảm giác ngon miệng và thèm ăn của người uống. Về lâu dài, cân nặng giảm đồng thời cũng làm mất đi cảm giác thèm ăn, gây biếng ăn, khó hấp thu. Ngoài ra, thuốc giảm cân có thể gây ảnh hưởng đến chức năng của một số bộ phận trong cơ thể như suy thận, suy tim, đột quỵ, dị ứng.

Theo lời khuyên của các bác sĩ, phương pháp giảm cân tích cực và an toàn nhất là:

– Có chế độ ăn kiêng phù hợp, tránh xa các loại thực phẩm chứa nhiều chất béo, dầu mỡ, tinh bột.

– Ăn nhiều rau xanh và củ quả.

– Uống nhiều nước làm tăng khả năng hòa tan chất béo và là yếu tố đầu tiên trong giảm cân.

– Không nên uống những thức uống có chứa soda như nước ngọt có ga, sinh tố.

– Vận động tập thể dục với các bài như đi bộ, leo núi, đi xe đạp, bơi giúp đốt mỡ thừa và tiêu thụ calo nhanh chóng. Bạn nên duy trì tập luyện thường xuyên.

– Bạn nên ăn uống đầy đủ, chú ý ăn nhiều vào buổi sáng và ít vào buổi tối.

– Ăn chậm. Việc ăn chậm giúp bộ não phân loại được thức ăn dễ dàng. Bạn sẽ hấp thụ và no bụng nhanh hơn.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Công thức làm đẹp bằng aspirin chắc chắn thành công

Aspirin là một loại thuốc được biết đến nhiều nhất với công dụng giảm đau. Với thành phần từ axit salicylic, aspirin còn có tác dụng rất tốt trong điều trị hiện tượng mụn trứng cá. Axit salicylic giúp làm sạch lỗ chân lông, loại bỏ các tế bào da chết và chữa lành các vết thương nhanh chóng. Vì vậy, chỉ cần đắp mặt nạ aspirin trong vài phút, làn da sẽ giảm sưng tấy, mẩn đỏ và các đầu mụn cũng được se lại.
trị mụn aspirin
Aspirin có thể giúp bạn làm trắng da hiệu quả.
Làm trắng da
Lấy 3-6 viên aspirin, 1 quả chanh, 1 cốc baking soda và mật ong. Đầu tiên, bạn nghiền nhuyễn aspirin rồi trộn với nước cốt chanh, mật ong. Nếu bạn sở hữu làn da khô thì có thể thêm một chút ít dầu dừa hay dầu olive để tăng độ dưỡng ẩm.
Với hỗn hợp có được, bạn đắp lên mặt trong vòng 15-20p rồi nhúng khăn ướt vào baking soda để làm sạch mặt nạ và thoa tinh dầu dưỡng ẩm. Thực hiện 1 lần/tuần. Không chỉ trị mụn, loại mặt nạ này còn giúp làm da trắng sáng, căng mịn hơn.
Trị mụn từ aspirin, mật ong
Nghiền lấy 2-3 viên aspirin cho thật nhỏ, trộn với một ít mật ong cho thật đều. Rửa mặt sạch rồi thoa hỗn hợp này lên mặt, thoa nhiều hơn ở những nơi có mụn.
Sau 10 phút thì rửa mặt lại với nước sạch. Mặt nạ này có tác dụng loại bỏ tế bào chết, kháng viêm và giảm sưng mụn. Nên thực hiện việc đắp mặt nạ thường xuyên mỗi tuần 3 lần để có nốt mụn giảm bớt và tránh hiện tượng thâm mụn.
Một số lưu ý khi sử dụng thuốc aspirin làm đẹp
Nên sử dụng mặt nạ ngay khi đã nghiền nhỏ aspirin bởi các axit salicylic rất dễ bị mất chức năng khi tiếp xúc với không khí.
Không sử dụng aspirin quá hạn bởi điều đó sẽ gây kích ứng da nghiêm trọng
Một số mẹo trị mụn khác với aspirin
Trị mụn cóc
Áp dụng một lượng thuốc aspirin trộn với nước đắp vào mụn cóc sau đó dùng băng keo băng lại. Bằng cách này bạn sẽ làm cho các mụn cóc sẽ biến mất dần dần.
Tẩy da chết
Salicylic acid được tìm thấy trong aspirin thường được sử dụng trong tẩy da chết. Thay vì mua những sản phẩm đắt tiền bạn chỉ cần sử dụng một hỗn hợp thuốc aspirin để làm cho làn da của bạn trông đẹp hơn.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Kháng sinh: Không phải loại nào cũng hại thai


thuoc khang sinh
Nói đến uống thuốc thời kỳ mang thai, chắc hẳn phụ nữ nào cũng e dè, nhất là với kháng sinh. Chính vì thế, không ít người dù được bác sỹ kê toa chỉ định vẫn nói đi nói lại “Em đang có bầu” vì sợ bác sỹ nhầm.
Chị Thanh Mai, Q.3, TPHCM cũng là người nằm trong số đó. Mang thai được 3 tháng, chị bị viêm nướu, mỗi lần đánh răng là bị chảy máu, đau nhức. Khi các bác sỹ chỉ định chị dùng kháng sinh để điều trị bệnh răng miệng thì chị nhất định từ chối vì sợ ảnh hưởng đến thai nhi. Sau đó, chị nhất định không chịu dùng thuốc và chỉ dùng nước muối.
Tình trạng bệnh của chị cứ tái đi tái lại. Đến tháng thứ 7, chị phải nhập viện vì đau bụng dữ dội. Bác sỹ kiểm tra và kết luận chị có dấu hiệu dọa sinh non, cần chăm sóc đặc biệt. Bác sỹ cũng phân tích cho chị thấy tình trạng răng nướu của chị có thể đã khiến vi khuẩn tấn công thai nhi.
Kháng sinh không phải ngáo ộp
Kháng sinh là một hợp chất mà ngay ở nồng độ thấp đã có khả năng ức chế (không cho vi khuẩn sinh sôi nảy nở) hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Cũng vì tính đặc hiệu đó nên nhiều người cho rằng kháng sinh rất nguy hiểm với thai, cần phải tẩy chay. 
TS. BS Lê Vương Văn Vệ, Giám đốc BV Chuyên khoa Nam học và Hiếm muộn Hà Nội cho biết  khi cơ thể mắc bệnh do nhiễm vi khuẩn như bệnh răng miệng, nhiễm giun, nhiễm nấm hoặc viêm nhiễm phụ khoa…, việc sử dụng kháng sinh để điều trị là rất cần thiết kể cả khi bạn đang mang bầu. 
Thuốc kháng sinh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi nhưng nếu không điều trị bệnh thì những nguy cơ do bệnh gây ra có thể lớn hơn nhiều lần. Tuy nhiên để điều trị cùng một bệnh, bác sĩ có thể chọn lựa một trong nhiều loại kháng sinh khác nhau. 
Trong trường hợp phụ nữ có thai, bác sĩ sẽ chỉ định loại kháng sinh phù hợp nhất, giảm thiểu ảnh hưởng tới thai mà vẫn khỏi bệnh. Lựa chọn liều lượng thuốc, thời gian uống thuốc và thời điểm uống đang mang thai tháng thứ mấy… cũng sẽ giảm thiểu những nguy hiểm mà thuốc kháng sinh có thể mang đến cho em bé của bạn.
Bà bầu có thể dùng loại nào?
Theo BS Vệ, với bà bầu, thuốc kháng sinh có thể xếp thành 3 nhóm:
Nhóm có thể dùng: gồm có beta-lactamin (như: penicillin, ampicillin, amoxicillin, cephalosporin...) dùng trong điều trị các bệnh răng miệng, viêm đường hô hấp trên, viêm màng não…; macrolid (như: erythromycin, clarithromycin, roxithromycin...) để điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp (viêm phổi, viêm phế quản, viêm amidan...), nhiễm trùng tai, mũi, họng, viêm phế quản, viêm xoang... Đây là nhóm kháng sinh tương đối an toàn đối với thai nghén, lượng thuốc đi qua rau thai tương đối ít so với các kháng sinh khác nên nồng độ thuốc trong máu thai nhi thấp.
Nhóm không thể dùng: gồm có: Nhóm tetracycline (doxycylin, minocyclin…) vì nguy cơ làm hỏng men răng của trẻ; Nhóm aminoglycosid (streptomycin, kanamycin…) vì có thể gây tổn thương thận và gây độc cho tai trong của em bé (gây điếc không hồi phục hồi. Nhóm quinolon (offloxacin, ciprofloxacin…) có nguy cơ gây ra rối loạn sự phát triển xương khớp trẻ em. Ketoconazol có thể gây ra dị tật dính ngón tay cho em bé.Biseptol gây thiếu máu nặng cho cả mẹ và bé.
Nhóm thuốc dùng thận trọng: Rifamycin không nên dùng trong 3 tháng đầu thai kỳ; nitrofuran, acid nalidixic không nên dùng cuối thai kỳ; metronidazol, trimethoprim, sulfamid không nên dùng giai đoạn đầu và cuối thai kỳ.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Cảnh giác với độc chất trong thuốc giả gây nguy hiểm tính mạng

Thuốc là sản phẩm không thể thiếu, sản phẩm này cũng được làm giả nhiều nhất và đa số là người sử dụng và bác sĩ cũng không thể phát hiện ra thuốc giả, thuốc thật.

Những hoá chất cực độc trong thuốc giả

Bệnh nhân Nguyễn Văn Ng. Hà Nội phải cấp cứu ở Trung tâm Chống độc BV Bạch Mai với biểu hiện đau bụng kéo dài, sốt không rõ nguyên nhân, nôn thốc tháo, hoa mày chóng mặt…

Đến khi siêu âm, các bác sĩ mới tá hỏa khi thấy trong dạ dày của bệnh nhân đầy… vỏ thuốc hình con nhộng.

Nguyên nhân là do uống phải thuốc giả, kém chất lượng nên chất bột có trong thuốc đã đọng thành lớp trong dạ dày gây đau bụng và ngộ độc toàn thân. Cùng với đó, vỏ thuốc không tiêu hóa được cũng góp phần làm cho bệnh nhân trở nên như vậy.

Nhưng bệnh nhân này là trường hợp hiếm hoi được cứu sống. Còn một số bệnh nhân khác bị ngộ độc nặng lại đi cấp cứu muộn vì vậy không điều trị kịp dẫn đến tử vong.

Bà Samson Chiu - Giám đốc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của viện An ninh dược phẩm đã cảnh báo tới người dân về nạn thuốc giả hiện nay, đây đã trở thành vấn nạn toàn cầu với các tổ chức lừa đảo mang tính xuyên quốc gia.

Mỗi lần, bạn bị ốm có khi nào bạn chắc chắn thứ mình đưa vào miệng có an toàn tuyệt đối, có giúp bạn sẽ khỏi bệnh ngay không - đó là một câu hỏi lớn còn bỏ ngỏ.

Đại đa số người dân hiện nay ốm ra hiệu thuốc mua về uống và người ta làm ngơ với thuốc giả bởi thực tế người ta thấy chưa có ai chết vì thuốc giả.

Theo bà Samson Chiu loại thuốc được làm giả phổ biến hiện nay là thuốc làm từ thức ăn cho lợn và gà, viên nang làm từ chất thải của ngành công nghiệp da, thuốc giả trong bao bì thật.

Các nhân viên y tế tiêu hủy số thuốc giả bị tịch thu ở Bắc Kinh (Trung Quốc) - Ảnh: AFPCác nhân viên y tế tiêu hủy số thuốc giả bị tịch thu ở Bắc Kinh (Trung Quốc) - Ảnh: AFP

Các cơ quan chức năng đã phát hiện các chất độc hại có trong thuốc giả như kim loại nặng, các loại dược chất không mong muốn và một số loại thuốc hoàn toàn không có dược chất.

Những chất cực kỳ nguy hiểm đã được cơ quan chức năng phát hiện trong thời gian qua ở thuốc giả đó là các loại kim loại nặng như thuỷ ngân, nhôm, chì, cát mi, asen, crom, urani, Stronti, selen.

Thậm chí, một số loại thuốc giả còn có độc dược thuốc diệt chuột, axit boric, chất chống đông, benzopyrene.

Các loại thuốc giả còn được tẩm ướp các chất có ngay trong vật dụng gia đình như sơn tường, sơn đường, bụi gạch, chấy tẩy rửa sàn, tấm thạch cao, chất pha loãng sơn.

Một số loại thuốc giả hoàn toàn không có dược chất chỉ thành phần lactose, tinh bột, nước muối, muối, dextrin, dextrose…

BS Nguyễn Văn Đoàn - Giám đốc Trung tâm miễn dịch - BV Bạch Mai cho biết tại Việt Nam thuốc giả có ở nhiều nơi. Cơ quan chức năng thường xuyên phát hiện các lô thuốc giả.
Khi sử dụng phải thuốc giả không chỉ gây thiệt hại về kinh tế cho người sử dụng mà còn vô hiệu hóa các liệu pháp điều trị để cứu sống người bệnh.

Ngoài ra, khi uống phải thuốc giả, thuốc kém chất lượng, người bệnh hay gặp phải tình trạng dị ứng, phản ứng thuốc, có thể xuất hiện sau khi dùng thuốc 15- 30 phút hoặc một vài ngày.

Các phản ứng dị ứng có nhiều cấp độ khác nhau, từ nhẹ như buồn nôn, ói mửa cho đến các trường hợp nặng có thể đe dọa tính mạng người bệnh

Vì sao thuốc giả dễ sống?

Các loại thuốc giả luồn lách vào đủ các thị trường đặc biệt là mua bán trên mạng. Bà Samson Chiu cũng nhấn mạnh vào bất cứ thời điểm nào cũng có khoảng 40 -50 nghìn người bán thuốc trực tuyến trên toàn cầu trong đó có tới 90 -95 % không hợp pháp.

WHO đã khuyến cáo có tới 50 % thuốc bán trên mạng internet là thuốc giả.

Đa số thuốc giả đều không phân biệt được bằng mắt thường, người dân lại không kêu ca gì, đặc biệt các chế tài chưa đủ tính răn đe tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất và buôn bán thuốc giả tăng. Lợi nhuận của ngành công nghiệp thuốc giả khổng lồ.

Một bác sĩ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội tâm sự là bác sĩ nhưng bản thân anh cũng khó có thể phân biệt được đâu là thuốc giả, thuốc thật nên người bệnh cũng khó mà phát hiện ra bệnh được.

Các mẫu thuốc giả có nhãn, bao bì đóng gói giống tới 99% mẫu nhãn, bao bì của thuốc thật, không có dấu hiệu rõ ràng nào để phân biệt.

Những loại thuốc giả có chứa hoá chất cực độc có thể gây ra các bệnh ngộ độc trường diễn lâu dài sẽ sinh bệnh trong đó có bệnh ung thư là điển hình.

ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   

Để sử dụng thuốc huyết áp an toàn

Đối với bệnh nhân tăng huyết áp đã phải dùng thuốc thì cần dùng thuốc liên tục, đều đặn hàng ngày... mà không được tự ý ngừng thuốc hoặc thay đổi liều dùng.

Amlodipin
Đây là thuốc có tác dụng chẹn canxi qua màng tế bào, được sử dụng phổ biến trong điều trị tăng huyết áp. Thuốc có tác dụng chống tăng huyết áp bằng cách trực tiếp làm giãn cơ trơn quanh động mạch ngoại biên. Do không có ảnh hưởng xấu đến nồng độ lipid trong huyết tương hoặc chuyển hóa glucose nên có thể dùng amlodipin để điều trị tăng huyết áp ở người bệnh đái tháo đường.
Khi dùng thuốc cần lưu ý, ở động vật thực nghiệm thuốc có thể gây quái thai ở dạng dị tật xương. Vì vậy, tránh dùng amlodipin cho người mang thai, đặc biệt trong 3 tháng đầu của thai kỳ. 
Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất của thuốc là phù cổ chân từ nhẹ đến trung bình (liên quan đến liều dùng), nhức đầu, chóng mặt, đỏ bừng mặt và có cảm giác nóng, mệt mỏi, suy nhược. 
Người bệnh có cảm giác đánh trống ngực hoặc buồn nôn, đau bụng khó tiêu hay hạ huyết áp quá mức, nhịp tim nhanh, đau ngực (ít gặp). Người bệnh cần thông báo cho bác sĩ điều trị biết khi gặp phải các tác dụng không mong muốn này.
Captopril
Captopril là chất ức chế enzym chuyển dạng angiotensin I, được dùng trong điều trị tăng huyết áp. Tác dụng hạ huyết áp của captopril xảy ra trong khoảng 60 - 90 phút sau khi uống liều thứ nhất. 
Thời gian tác dụng phụ thuộc vào liều: Sau một liều bình thường, tác dụng thường duy trì ít nhất 12 giờ. Trong điều trị tăng huyết áp, đáp ứng điều trị tối đa đạt được sau 4 tuần điều trị. Tác dụng hạ huyết áp không phụ thuộc vào tư thế đứng hay nằm.
Khi dùng thuốc hạ huyết áp tư thế (hạ huyết áp thế đứng) thường ít gặp, nhưng có thể xảy ra, đặc biệt ở người có thể tích máu giảm nên người dùng cần thận trọng. Các tác dụng không mong muốn thường gặp là chóng mặt, ngoại ban (khoảng 2%) và ho. Các phản ứng này thường phụ thuộc vào liều dùng và liên quan đến những yếu tố biến chứng như suy thận, bệnh mô liên kết ở mạch máu ở người bệnh.
Kiểm soát bệnh nhân cao huyết áp tại BV Bạch Mai
Methyldopa
Là thuốc chống tăng huyết áp thuộc loại liệt giao cảm. Thuốc làm giảm huyết áp cả ở tư thế đứng và tư thế nằm, không có ảnh hưởng trực tiếp tới chức năng thận và tim. Tác dụng giảm huyết áp có thể được duy trì cả ở những người bệnh suy thận. Khi dùng thuốc này hiếm gặp các triệu chứng hạ huyết áp tư thế, hạ huyết áp trong lúc hoạt động và thay đổi huyết áp nhiều trong ngày.
Methyldopa có thể được sử dụng kết hợp với các thuốc hạ huyết áp khác, đặc biệt là thuốc lợi niệu thiazid hoặc các thuốc chẹn beta.
Khi dùng thuốc này có thể gây buồn ngủ, nên người bệnh không nên lái xe hoặc đứng máy, làm việc cần có sự tỉnh táo. Thuốc có thể dùng cho người tăng huyết áp do mang thai gây ra. Không nên dùng thuốc cho người cho con bú (vì thuốc bài thiết vào sữa mẹ có thể gây nguy cơ đối với trẻ).
Các tác dụng phụ thường gặp nhất là an thần (tác dụng an thần có thể xảy ra ở lúc bắt đầu dùng thuốc hoặc khi tăng liều, nhưng tác dụng không mong muốn này sẽ hết khi thực hiện điều trị duy trì), chóng mặt và khô miệng. Hiện tượng nhức đầu thường xuất hiện khi mới điều trị sau hết hẳn. Thuốc có thể gây hạ huyết áp tư thế, hạ huyết áp khi đứng, phù và giảm tình dục.
Propranolol
Là thuốc chống tăng huyết áp chẹn beta-adrenergic không chọn lọc. Ở người bệnh tăng huyết áp thuốc gây tăng nhẹ kali huyết. Không dùng thuốc cho các trường hợp sốc tim, hội chứng Raynaud, nhịp xoang chậm và blog nhĩ thất độ 2 - 3, hen phế quản, bệnh nhược cơ...
Hầu hết tác dụng không mong muốn của thuốc thường nhẹ và thoáng qua, rất hiếm khi phải ngừng thuốc. Các tác dụng phụ có thể xảy ra (ít gặp) như nhịp chậm, suy tim sung huyết, blog nhĩ thất, hạ huyết áp, ban xuất huyết giảm tiểu cầu. Một số tác dụng với thần kinh thường hồi phục khi ngừng thuốc. Khi điều trị kéo dài với liều cao có thể gặp: đau đầu nhẹ, chóng mặt, mất điều hòa, dễ bị kích thích, giảm thính giác, rối loạn thị giác...
Liều lượng của thuốc dựa trên đáp ứng của mỗi cơ thể nên người bệnh cần đi khám bệnh để được dùng thuốc cho phù hợp. Có thể dùng một mình hoặc phối hợp với thuốc lợi tiểu (theo chỉ định của bác sĩ). Thời gian để đạt được đáp ứng hạ áp từ vài ngày tới vài tuần.
Trong quá trình điều trị nếu có bất thường trong quá trình dùng thuốc hoặc dùng thuốc mà vẫn không kiểm soát được huyết áp, người bệnh cần thông báo cho bác sĩ điều trị biết để được xử lý, điều chỉnh thuốc hoặc thay thuốc kịp thời, thích hợp...

ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN
                               

     DIỆN CHẨN SỐNG KHỎE       
           VĂN PHÒNG 0906143408   
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons