Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Rắc rối thuốc hạ cholesterol

Bất chấp những nghiên cứu về tác dụng phụ gây hại của statin, FDA vẫn "trấn an" rằng các khuyến cáo mới không có ý hù dọa người sử dụng nên tẩy chay statin.

Cách đây hơn 3 năm, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã bổ sung những báo động về sự an toàn của một nhóm thuốc được kê toa trong việc điều trị cholesterol cao (nhóm thuốc này gồm nhiều loại statin khác nhau với những tính chất dược lý tương tự).
Theo FDA, những rủi ro mà statin có thể gây ra là mất trí nhớ, đau cơ và bệnh đái tháo đường... Và đó cũng là lần đầu tiên FDA chính thức cho rằng statin có liên hệ tới chức năng nhận thức như tình trạng lú lẫn, mau quên dù những tác dụng phụ này đã được nghiên cứu và khi ấy FDA cho là... "chuyện nhỏ".
Với cái tên "thân mật" là thuốc hạ cholesterol, statin trở thành một trong những loại thuốc kê toa hàng đầu mang lại nhiều lợi nhuận cho các công ty dược. Mỗi năm, statin giúp các hãng dược bỏ túi hàng chục tỉ USD. Chỉ riêng nước Mỹ, mỗi ngày có khoảng 32 triệu người "lai rai" statin.
Bất chấp những khuyến cáo mới đây và những nghiên cứu về tác dụng phụ gây hại của statin nhiều năm trước, FDA vẫn "trấn an" rằng các khuyến cáo mới không có ý hù dọa người sử dụng nên tẩy chay statin.
Cho đến thời điểm này, statin vẫn còn lẫy lừng thành tích ngăn ngừa các bệnh về tim mạch. Công lao của statin không thể phủ nhận được. Tuy nhiên, theo FDA, các thầy thuốc và bệnh nhân cần hiểu rõ hơn về tác dụng phụ của statin và sử dụng với sự cẩn trọng.
Một nghiên cứu thực hiện vào năm 2010 được xuất bản trong chuyên san British Medical Journal cho thấy thuốc statin giúp ngăn ngừa được 271 trường hợp trên tổng số 10.000 bệnh nhân có chỉ số rủi ro cao về bệnh tim mạch. Nhưng nghiên cứu này cũng phát hiện statin làm tăng tần suất mắc bệnh đục thủy tinh thể, yếu cơ, rối loạn chức năng gan, suy thận...
Những nghiên cứu khác cũng cho thấy statin có thể gây rối loạn nhịp tim nghiêm trọng, gây bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh thần kinh ngoại biên, đau đầu ngón tay, ngón chân, tăng đường huyết, thậm chí ung thư.
Statin ra tay dẹp loạn cholesterol bằng cách ức chế một loại men có tên là HMG-CoA Reductase. Men này đóng vai trò "đinh" trong việc sản xuất cholesterol ở gan. Ai cũng biết cơ thể có quá nhiều cholesterol sẽ gây ra "kẹt đường" trong các mạch máu và làm cho quả tim dễ bị... tổn thương!
Statin cũng ức chế một chất tự nhiên có tên là Co-Enzyme Q10 (CoQ10) mà một trong những nhiệm vụ lớn của nó là giúp tế bào tạo ra năng lượng, nhất là các tế bào cơ tim.
Bản thân statin chất chứa đầy mâu thuẫn! Vậy sử dụng statin như thế nào để đạt lợi ích tối đa mà tác dụng phụ chỉ ở mức tối thiểu? Câu trả lời cũng chẳng lạ gì hơn là... "đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng".
Theo DS Nguyễn Bá Huy Cường - Người lao động




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Mối nguy hiểm khi âm thầm dùng thuốc chuyển giới

Một số người có nhu cầu chuyển giới thường tự ý sử dụng hormone mà không lường trước việc sức khỏe và tính mạng đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tác động của thuốc chuyển giới 
Đại tá, TS.BS Nguyễn Huy Thọ - nguyên Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình BV Trung ương Quân đội 108, Phó Chủ tịch Hội Phẫu thuật Tạo hình và Thẩm mỹ Hà Nội cho hay hiện nay nước ta chưa cho phép phẫu thuật chuyển giới, những người có nhu cầu phải sang nước ngoài thực hiện. Hơn nữa, một ca chuyển giới rất tốn kém và phức tạp nên không phải ai cũng có thể thực hiện.
Do đó, để giải tỏa sự mâu thuẫn giữa tinh thần và thể xác, một số người đã tự uống thuốc bổ sung hormone hoặc tiêm thẳng thuốc chứa hormone vào cơ thể để ức chế cơ thể trở về đúng với giới tính.
Đối với thuốc bổ sung hormone, thông thường người nam hay sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài với liều cao để nữ hóa. Còn người nữ uống thuốc cường dương để tăng hormone nam trong cơ thể.
Sau đó, họ sẽ dần có những biểu hiện giới tính mới sau một thời gian sử dụng nhất định như nữ mọc ria, giọng nói nam hóa (ồm ồm), rậm lông, còn nam giới thì ngực có thể nhú cao hơn bình thường, người gầy yếu hơn.
“Đáng lo ngại là việc tùy tiện mua các loại thuốc hormone dạng tiêm được bán tràn lan trên mạng hiện nay. Trong khi đó, người muốn chuyển giới mơ hồ và lỏng lẻo về thông tin, họ không có được sự tư vấn và giúp đỡ từ bất kỳ cơ sở y tế nào nên nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe là rất lớn”, TS Nguyễn Huy Thọ lo ngại.
Hệ quả nguy hiểm
Ông cho hay việc sử dụng hormone phải có chỉ định, giám sát chặt chẽ của bác sĩ nội khoa. Việc tạo hình vú, bộ phận sinh dục cũng phải cần bác sĩ chuyên phẫu thuật tạo hình để có thể đảm bảo tính mạng cho người chuyển giới. Tuy nhiên, vì luật không cho phép nên các bác sĩ Việt Nam chưa dám thực hiện hoặc tư vấn cho bệnh nhân.
Do vậy, phần lớn người muốn chuyển giới phải tự tìm hiểu và dùng hormone để mong được là chính mình. Đồng nghĩa với việc họ sẽ phải đối diện nhiều rủi ro.
Vị chuyên gia khuyến cáo nếu dùng các androgen sinh dục thường xuyên không những tác động đến các yếu tố phụ của giới tính như lông, râu, tóc, mô mỡ trên cơ thể mà còn có thể gây các bệnh về tim mạch.
Việc dùng thuốc không đúng sẽ gây các tác dụng phụ nặng nề, thậm chí rất nguy hiểm, có nguy cơ bị rút ngắn tuổi thọ.
"Với những người đã được phẫu thuật chuyển giới, họ phải dùng thuốc nội tiết đúng phác đồ với sự theo dõi chặt chẽ của các bác sĩ chuyên khoa. Đó là cách tốt nhất để đảm bảo sự an toàn cho tính mạng của họ. 
Tuy nhiên, nhiều người sau khi chuyển giới ở nước ngoài về đã mang đơn đến các cơ sở y tế để mua các loại thuốc tương đương. Họ không được bác sĩ theo dõi các chỉ số một cách chặt chẽ nên nguy cơ gặp biến chứng, thậm chí khả năng mất mạng là rất lớn", TS Nguyễn Huy Thọ cảnh báo.
Theo Báo Lao động





NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Khi nào bạn cần thực phẩm chức năng?

Với các kiểu quảng cáo hoa mĩ đầy hứa hẹn về những tác dụng thần kỳ của sản phẩm, như giúp hỗ trợ điều trị tất cả các bệnh mà con người mắc phải, người tiêu dùng ngày càng bị dẫn dắt, thuyết phục và dẫn đến việc có nhận thức sai lệch về công dụng thực sự của các sản phẩm thực phẩm chức năng.
Cần phân biệt giữa thực phẩm chức năng và thuốc
Người tiêu dùng cần nhận thức rõ thực phẩm chức năng KHÔNG phải là thuốc. Thực phẩm chức năng không có những hoạt chất có tác dụng dược lý giúp điều trị và phòng ngựa bệnh như thuốc. Trong bất kì trường hợp nào, thực phẩm chức năng cũng không thể thay thế được thuốc.
Người tiêu dùng đừng nên tin vào những tác dụng chữa bệnh kì diệu trên quảng cáo.Điều đó là không thể. 
Đặc biệt đối với những bệnh quan trọng như mỡ trong máu, ung thư, tim mạch, tai biến mạch máu não, người bệnh cần phải đi khám bác sĩ và uống thuốc theo đơn bác sĩ, không nên tự chữa trị hay tự ý thay thế thuốc bằng các thực phẩm chức năng vì hậu quả sẽ rất khó lường.
Những thành phần chứa trong thực phẩm chức năng:
+ Vitamine, khoáng chất và các nguyên tố vi lượng
+ Lợi khuẩn
+ Thành phần tự nhiên như cây cỏ hay những thành phần gia truyền
+ Những chất khác có giá trị dinh dưỡng và sinh lí
+ Những chất phụ gia, bảo quản... (có thể gây dị ứng cho người dùng)
    Những nguy có thể gặp phải khi tự sử dụng thực phẩm chức năng
    1. Không rõ nguồn gốc xuất xứ và chất lượng sản phẩm:
    Hiện trên thị trường tồn tại vô vàng những mặt hàng trôi nổi không rõ nguồn gốc. Chất lượng sản phẩm cũng rất khó đánh giá, ngay cả với những mặt hàng biết rõ xuất xứ vì các chuẩn được đặt ra để có thể kiểm tra, đánh giá những thực phẩm chức năng trên thị trường còn rất hạn chế.
    2. Giá cả:
    Đôi khi, người mua sẽ phải trả một giá quá đắt cho những sản phẩm mà không được khoa học thừa nhận. Thậm chí, tiền mất tật mang.
    3. Sử dụng quá liều:
    Trong một số trường hợp, những thành phần dinh dưỡng mà thực phẩm chức năng mang đến cho cơ thể vượt quá những nhu cầu cần thiết hàng ngày của cơ thể.Một thành phần, vitamin D chẳng hạn, vừa có mặt trong sản phẩm này vừa có mặt trong sản phẩm kia, khi dùng nhiều sản phẩm cùng lúc sẽ dẫn đến quá liều vitamin D, gây sỏi thận.
    4. Làm bệnh tình nặng thêm:
    + Những quảng cáo về thực phẩm chức năng dễ làm lung lạc lòng người về những lợi ích cho sức khỏe. Người bệnh tin tưởng vào các tác dụng được quảng cảo và lầm tưởng với thuốc như nêu trên. 
    Người tiêu dùng cần lưu ý rằng thực phẩm chức năng không có tác dụng chữa bệnh và càng không phải lá một phương thuốc diệu kì khiến bách bệnh tiêu tán hay vạn bệnh tiêu trừ.
    + Thực phẩm chức năng chứa rất nhiều những thành phần khác nhau. Một thực phẩm chức năng được sử dụng cho tác dụng này có thể âm thầm khiến một bệnh tình khác trở nặng thêm.
      Ví dụ. Tảo biển Nhật Bản được mua cho mục đích làm đẹp da. Nhưng vì tảo biển cơ bản chứa nhiều iode nên có thể gây ra những rối loạn cho những người có bệnh về tuyến giáp.
      5. Tương tác với thuốc:
      Việc sử dụng đồng thời thuốc và thực phẩm chức năng có thể làm giảm tác dụng của thuốc hoặc tăng tác dụng phụ của thuốc.
      Ví dụ: Dùng song song các thuốc thuộc nhóm statine và men gạo đỏ có thể làm tăng nguy cơ tổn thương cơ.
      Khi nào cần dùng thực phẩm chức năng?
      Đa phần các chất dinh dưỡng trong thực phẩm chức năng đều có thể tìm thấy trong thức ăn hàng ngày. Vậy nên, một chế độ ăn dinh dưỡng, đầy đủ và đa dạng sẽ khiến cơ thể có được những nhu cầu cần thiết.
      Tuy vậy, không phải mọi thức phẩm chức năng đều xấu. Chỉ có điều cần biết cách chọn lựa và sử dụng phù hợp.
      Cơ thể mỗi người đều đòi hỏi những nhu cầu riêng. Cuộc sống bận rộn hay mệt mỏi có thể khiến ta lơ là việc ăn uống, dẫn đến thiếu hụt những chất dinh dưỡng cần thiết. Hoặc một vài trường hợp bệnh lý cần những bổ sung đặc biệt cho cơ thể. Thực phẩm chức năng có thể được sử dụng trong những trường hợp này, dưới sự tư vấn của bác sĩ hay dược sĩ.
      Tóm tắt lại, người tiêu dùng không nên tự mình mua và sử dụng những thực phẩm chức năng. Người tiêu dùng nên hỏi ý kiến bác sĩ hay dược sĩ trước khi quyết định để có được những lời khuyên khoa học, phù hợp với từng thể trạng của mình.
      Theo DS Nguyễn Vũ Thuỳ Anh - Một thế giới




      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


      Gọi cho chúng tôi 0902233317

      Cảm cúm uống thuốc gì?

      Cảm cúm còn được gọi cảm sổ mũi vì cảm giác khó chịu, thấy người yếu hơn bình thường lại kèm theo ho, sổ mũi, nhảy mũi hoặc có khi bị nghẹt mũi. Có hai triệu chứng thường gặp kèm với cảm cúm là sốt và đau nhức, đặc biệt là nhức đầu.
      Cảm cúm là bệnh nhiễm siêu vi (virus) cấp tính đường hô hấp. Do nhiễm virus cúm A, B và C. Hiện nay, cúm A phân týp H1N1 đang gây lo lắng trên toàn thế giới. Cúm thường gây bệnh cảnh đường hô hấp nặng hơn như sốt cao và có thể gây viêm phổi nặng.

      Triệu chứng sốt và nhức đầu khi bị cảm cúm

      Sốt là hiện tượng thân nhiệt tăng cao hơn bình thường, được quy ước khi thân nhiệt trên 38oC. Sốt nhẹ từ 38oC- 38,9oC, trên 39oC là sốt cao. Nên lưu ý, nếu sốt quá cao có thể gây co giật, thậm chí có thể gây tổn thương não trầm trọng ở trẻ sơ sinh.
      Nhức đầu là có triệu chứng đau ở vùng đầu, không chỉ là sự khó chịu về mặt cảm giác mà còn liên quan đến vấn đề tình cảm, tâm lý. Các thống kê ở các phòng khám ước tính một nửa bệnh nhân đến bác sĩ vì bị nhức đầu. Nên lưu ý, không chỉ cảm cúm mà còn có rất nhiều nguyên nhân khác đưa đến nhức đầu.

      Dùng thuốc để hạ sốt và nhức đầu

      Để hạ sốt giảm đau đặc biệt trị nhức đầu, thuốc thường được dùng là: aspirin, paracetamol. Trong 2 loại thuốc này, paracetamol được xem là tương đối an toàn. Aspirin giảm đau hạ nhiệt tốt nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ, đặc biệt gây tổn hại niêm mạc dạ dày tá tràng và tăng nguy cơ xuất huyết, nên lưu ý không được dùng aspirin khi nghi ngờ sốt xuất huyết. 
      Phụ nữ có thai và trẻ em cũng không nên dùng aspirin. Nên lựa chọn paracetamol nhưng cũng cần lưu ý paracetamol không phải hoàn toàn vô hại, không nên dùng paracetamol quá thường xuyên và phải dùng thật đúng liều.
      Nên lưu ý có hai loại thuốc hạ sốt giảm đau chứa dược chất paracetamol. Một là thuốc chỉ chứa paracetamol (nhiều dược phẩm xem kỹ sẽ thấy trong công thức chỉ chứa paracetamol), đây có thể xem là thuốc giảm đau hạ nhiệt thông thường. 
      Loại thuốc thứ hai là loại phải thật thận trọng trong sử dụng: đó là thuốc phối hợp đến ba dược chất: paracetamol; kháng histamin trị dị ứng là clorpheniramin; và phenylpropanolamin có tác dụng co mạch, làm tan máu chống sung huyết ở niêm mạc mũi dùng để trị nghẹt mũi, sổ mũi. Nếu dùng thuốc trị cảm cúm, nhức đầu là loại phối hợp phải lưu ý xem thuốc có chứa thêm 2 dược chất ngoài paracetamol hay không. 
      Nếu thuốc có chứa thuốc kháng histamin nên tránh dùng đối với phụ nữ có thai đặc biệt 3 tháng đầu, cũng tránh dùng đối với người đòi hỏi sự tỉnh táo, tập trung như lái xe, vận hành máy móc vì thuốc kháng histamin gây buồn ngủ. Nếu thuốc có chứa chất co mạch giảm sung huyết phải tránh dùng đối với người bị cao huyết áp, người bị cường tuyến giáp, vì huyết áp có thể tăng khi dùng thuốc.

      Những lưu ý khi dùng thuốc

      Người cao tuổi thường hay bị tăng huyết áp phải tránh dùng thuốc trị cảm cúm, nhức đầu có chứa chất co mạch giảm sung huyết là phenylpropanolamin (hay ephedrin, pseudoephedrin) đã kể ở trên. Ngoài ra, người cao tuổi tuyệt đối không dùng thuốc dạng sủi bọt (kể cả các thuốc khác ngoài thuốc trị cảm cúm, nhức đầu). 
      Vì dạng thuốc sủi bọt luôn chứa tá dược rã sinh khí là natri bicarbonat hoặc natri carbonat (khi cho vào nước sẽ phản ứng với acid citric cũng là tá dược phóng thích khí CO2 gây sủi bọt), tức thuốc sủi bọt luôn chứa natri có thể gây tăng huyết áp đối với người bị sẵn bệnh lý này và đang kiêng muối.
      Đối với trẻ còn quá nhỏ, tránh dùng thuốc trị cảm cúm có chứa chất co mạch chống sung huyết cho các cháu, thậm chí không được dùng thuốc nhỏ mũi có chứa chất co mạch để nhỏ mũi. Bởi vì thuốc không chỉ có tác dụng làm co mạch ở niêm mạc mũi mà còn có tác dụng gây co mạch ở các nơi khác như: gan, tim, thận… của trẻ, và trẻ nhỏ thì cơ thể chưa phát triển hoàn chỉnh để có thể chấp nhận được tình trạng này. 
      Đối với trẻ bị sốt chỉ nên cho dùng paracetamol và nên dùng dạng thuốc lỏng có mùi vị thơm ngon để cho trẻ dễ uống. Hiện nay, có thuốc paracetamol dạng hỗn dịch giống như sirô rất thích hợp cho trẻ.
      Trong thuốc trị cảm cúm, paracetamol chỉ trị triệu chứng sốt và nhức đầu, đang dùng thuốc sẽ hết sốt, đau nhức nhưng hết thuốc có thể sẽ đau nhức trở lại khi nguyên nhân bệnh lý gây sốt, đau nhức vẫn còn.
      Vì vậy, chỉ dùng thuốc paracetamol trong một thời gian thường 3-4 ngày, nếu sốt hay đau nhức tái diễn hoặc tăng thêm, rất cần đi khám bác sĩ hoặc đến bệnh viện để được chẩn đoán và cho hướng điều trị thích hợp.
      Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Đức - Sức khỏe và Đời sống




      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


      Gọi cho chúng tôi 0902233317

      Người Việt sử dụng kháng sinh cao gấp 5 lần

      Sử dụng bừa bãi, lạm dụng kháng sinh khiến gia tăng tình trạng kháng thuốc, tạo ra sự khan hiếm, thiếu hụt các thuốc kháng khuẩn mới, người bệnh đối diện với nguy cơ tử vong.

      Nhiều vi khuẩn đã nhờn với kháng sinh đặc trị 

      Người Việt sử dụng kháng sinh gấp 5 lần so với các nước Châu Âu
      Kháng thuốc ngày nay là vấn đề toàn cầu, đặc biệt nổi trội ở các nước đang phát triển. Thế giới mỗi năm có hàng trăm ngàn người chết do kháng thuốc và phải chi phí hàng trăm tỷ USD cho kháng thuốc.
      Cụ thể năm 2011, toàn cầu có khoảng 640.000 trường hợp lao đa kháng thuốc; khoảng 15% người bệnh được điều trị HIV đã phải dùng đến các thuốc phác đồ bậc 2 và bậc 3 đối với các nhiễm khuẩn kháng.
      Ký sinh trùng sốt rét Falciparum kháng với artemisinin đang nổi lên ở Đông Nam Á, kháng với chloroquine phổ biến ở hầu hết các nước lưu hành sốt rét. Nhiều chủng vi khuẩn đã kháng nhiều loại kháng sinh, kể cả kháng sinh thế hệ mới.
      Trong khi đó, việc phát triển các kháng sinh mới đã chững lại từ hơn 30 năm nay và chỉ có một vài kháng sinh mới ra đời, trong khi tỷ lệ kháng của vi khuẩn ngày càng gia tăng. 
      Đó là lý do tại sao WHO và các cơ quan quốc tế khác chỉ ra rằng kháng kháng sinh là một mối đe dọa nghiêm trọng, thách thức đối với điều trị trong tương lai. Điều này được hiểu, nếu chúng ta không kịp thời ngăn chặn tình trạng kháng kháng sinh thì trong tương lai không xa, chúng ta không có thuốc để trị bệnh.
      Tại Việt Nam, theo số liệu báo cáo của 15 bệnh viện trực thuộc Bộ Y, bệnh viện đa khoa tỉnh ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh,… về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh năm 2009 cho thấy có đến 30 - 70% vi khuẩn gram âm đã kháng với cephalosporin thế hệ 3 và thế hệ 4, gần 40 - 60% kháng với aminoglycosid và fluoroquinolon. Gần 40% chủng vi khuẩn Acinetobacter giảm nhạy cảm với imipenem.
      Ngoài ra,báo cáo cũng chỉ ra tỷ lệ sử dụng kháng sinh trung bình ở nước ta là 274,7 DDD/100 ngày/giường. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với báo cáo của Hà Lan (58,1 DDD/100 ngày/giường và báo cáo từ 139 bệnh viện của 30 nước châu Âu là 49,6 DDD/100 ngày/giường).
      Nguy cơ tử vong cao
      Tại buổi lễ ký kết văn bản thỏa thuận về phòng chống kháng thuốc Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho hay, hiện nay, mô hình bệnh tật của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, tỷ lệ bệnh lây nhiễm vẫn còn ở mức cao, tiếp tục gia tăng và diễn biến phức tạp, vì thế việc sử dụng kháng sinh là hết sức cần thiết để điều trị cho người bệnh.
      Song việc sử dụng kháng sinh không thích hợp, lạm dụng kháng sinh, điều trị kháng sinh khi không mắc bệnh lý nhiễm khuẩn… đã làm gia tăng tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, tạo ra sự khan hiếm, thiếu hụt các thuốc kháng khuẩn mới. 
      Đặc biệt thuốc để điều trị cho người bệnh nhiễm vi sinh vật đa kháng; chính vì thế các chi phí xã hội và tài chính trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn kháng thuốc đặt gánh nặng đáng kể lên mỗi cá nhân, gia đình và xã hội do thời gian điều trị kéo dài, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao.
      Kháng thuốc và xu hướng gia tăng kháng thuốc đã và đang trở thành một nguy cơ lớn cho toàn thể nhân loại: là mối hiểm họa nhiều mặt đối với sự sống còn của loài người, đối với sức khỏe cộng đồng, đối với kinh tế - thương mại và sự phát triển­­­­­ bền vững của mỗi quốc gia; làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị kinh điển.
      Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cũng nhấn mạnh, kháng thuốc có thể đảo lộn các thành tựu đạt được trong nhiều chương trình y tế và tác động nghiêm trọng tới công tác quản lý và kiểm soát các bệnh lây nhiễm, đồng thời là nguy cơ làm ảnh hưởng tới sự thành công của các phương pháp điều trị và can thiệp y học hiện đại.
      Vị Bộ trưởng cũng cảnh báo, kháng thuốc là hiểm họa ngày càng lớn đối với con người và nền kinh tế Việt Nam do việc sử dụng kháng sinh ngày càng gia tăng và thiếu kiểm soát trong y tế cũng như trong nông nghiệp và càng đáng báo động hơn khi nó xâm nhập vào chuỗi thức ăn và môi trường sinh thái của chúng ta.
      Chung quan điểm này, ông Jeffery Kobza, quyền Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam (WHO) nhấn mạnh: "Cuộc khủng hoảng kháng thuốc mở rộng nhiều năm nay. Nhiều bệnh nhiễm trùng phổ biến trước có thể điều trị dễ dàng bằng kháng sinh thì giờ đây lại đe dọa tính mạng. Sự phát triển của kháng thuốc nhanh hơn sự phát triển của thuốc mới. Chúng ta có thể quay trở lại kỷ nguyên trước khi có kháng sinh".
      Trong khi đó, theo Bộ trưởng thì khung pháp lý và hệ thống các văn bản quy định hiện hành chưa đủ để đối phó, giám sát và ngăn chặn những nguy cơ đa chiều của việc kháng thuốc. Vì thế, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng sự phối hợp về chính sách và hành động giữa các Bộ, ngành dưới sự chỉ đạo của Chính phủ với sự hỗ trợ toàn diện của cộng đồng và các đối tác phát triển là hết sức cần thiết. Điều này giúp cải thiện tình trạng kháng kháng thuốc hiện nay ở nước ta.
      Sáng 24/6, lần đầu tiên Bộ Y tế tổ chức lễ ký kết văn bản thỏa thuận về phòng chống kháng thuốc với sự tham gia của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên Môi trường và nhiều tổ chức quốc tế khác. Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương ký cam kết về phòng chống kháng thuốc.
      Theo N. Huyền - Infonet





      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


      Gọi cho chúng tôi 0902233317

      Giữ thuốc trong nhà: Chuyện không nhỏ!

      Nhiều nước thống kê hằng năm con số không nhỏ làm buồn lòng giới chức y tế về các trường hợp ngộ độc trong quá trình cất giữ, sử dụng thuốc trong gia đình.

      Do không cất giữ thuốc tốt, để thuốc lẫn lộn với những vật dụng khác; trẻ em dễ dàng lấy thuốc, người lớn nhầm lẫn thuốc; thuốc cần giữ ở nhiệt độ thấp, cần để trong tủ lạnh nhưng lại để bên ngoài, lại bị ánh nắng chiếu vào, thế là thuốc hỏng, dùng chỉ có hại... Đó là nguyên nhân dẫn đến biết bao tai nạn, để lại những hậu quả đáng tiếc mà lẽ ra có thể phòng ngừa được.
      Để thuốc nơi thoáng mát, khô ráo, không có nắng
      Trong cuộc sống hằng ngày, có lúc chúng ta phải dùng đến thuốc. Hoặc là thuốc do bác sĩ khám bệnh ghi đơn để người bệnh đến nhà thuốc mua về dùng trong nhiều ngày; hoặc một số thuốc thông thường dùng để trị một số rối loạn nhẹ như sốt, đau nhức, ho, tiêu chảy, khó tiêu, đầy bụng... mà nhiều người thường mua sẵn trữ trong nhà để lúc hữu sự có thuốc dùng ngay.
      Thuốc là sản phẩm đặc biệt liên quan đến sức khỏe, thậm chí đến tính mạng con người, nên cần phải cất giữ, bảo quản tốt chứ không thể để bừa bãi, lẫn lộn với mọi vật dụng khác trong gia đình. Có người để thuốc đang dùng trị bệnh một cách bừa bãi, đến giờ uống thuốc tìm mãi chẳng thấy đâu hoặc tìm được thì thuốc đã bị hỏng do để nơi không thích hợp.
      Thuốc là sản phẩm đặc biệt liên quan đến sức khỏe, phải luôn bảo quản cẩn trọng Ảnh: Hoàng Triều
      Thuốc là sản phẩm đặc biệt liên quan đến sức khỏe, phải luôn bảo quản cẩn trọng Ảnh: Hoàng Triều
      Trong mỗi gia đình, với điều kiện cho phép, chúng ta nên mua hay đóng một cái tủ nhỏ có thể treo lên tường, vách hoặc đặt ở nơi dễ nhìn thấy với điều kiện: khô ráo, mát, không bị ánh nắng chiếu vào (không nên để trong buồng tắm vì sự ẩm ướt làm cho thuốc mau hỏng). Tủ đặt như thế nào để trẻ con không tìm cách với tới được hoặc nếu trẻ con có thể với tới thì tủ phải có khóa cẩn thận.
      Nếu không có điều kiện đóng hoặc mua tủ nhỏ, có thể tạm đặt thuốc trong ngăn kéo hoặc trong hộc tủ lớn. Cần phải đặc biệt lưu ý, nơi đặt thuốc phải là nơi thoáng mát, khô, không có ánh nắng chiếu vào và phải có khóa để trẻ con không mở ra lấy thuốc được.
      Đối với thuốc dùng trong (tức loại để uống), ta nên sắp xếp riêng: thuốc dành cho người lớn và thuốc dành cho trẻ con, không nên để lẫn lộn.
      Nếu thuốc có bao bì, nên để thuốc trong bao bì, kể cả bảng hướng dẫn sử dụng thuốc. Xin lưu ý, tất cả loại thuốc là viên rời đều phải đựng trong chai, lọ sạch có nắp đậy và các chai lọ này đều phải dán nhãn ghi rõ tên thuốc. 
      Nếu là thuốc dành cho người lớn, nên ghi chú trên nhãn: "Người lớn". Nếu có hạn dùng (thường gọi là "đát", từ chữ expiry date) phải ghi rõ và thường xuyên theo dõi, nếu thuốc quá hạn dùng phải bỏ đi, thay thuốc mới vào. Để giữ nhãn tốt, có thể dùng băng keo trong dán chồng lên nhãn.
      Bảo quản thuốc đặc biệt trong tủ lạnh
      Ở đây xin đề cập thêm việc bảo quản một số thuốc rất đặc biệt tại nhà. Đó là các thuốc là chế phẩm sinh học cần được giữ ở nhiệt độ thấp, thí dụ thuốc insulin trị bệnh tiểu đường. Insulin là thuốc có bản chất là protein (chất đạm) cần phải giữ ở nhiệt độ thấp từ 4-80C, không được tiếp xúc với nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh. 
      Vì vậy, có lời khuyên khi mua insulin tại nhà thuốc, phải chắc chắn nhà thuốc bảo quản trong tủ lạnh và lấy từ tủ lạnh ra đưa cho bạn. Mua về nhà, trước khi dùng insulin, thuốc phải được cất giữ trong tủ lạnh (không để trong ngăn đá vì ở đó nhiệt độ rất thấp - 00C hoặc thấp hơn - để nước đông thành đá).
      Khi lấy insulin ra khỏi tủ lạnh để dùng, cũng có lời khuyên: "Nên lấy thuốc insulin sắp được sử dụng ra khỏi tủ lạnh trước 4 giờ, bởi vì tiêm insulin lạnh sẽ đau hơn rất nhiều so với tiêm insulin ở nhiệt độ bình thường". Như vậy, cần lưu ý thêm, ngoài chỗ cất giữ thuốc thông thường trong nhà phải có thêm tủ lạnh để bảo quản các thuốc đặc biệt.
      Tóm lại, xin hãy xem việc cất giữ thuốc trong gia đình là quan trọng. Thuốc chỉ an toàn và phát huy tác dụng cao nhất khi sử dụng thuốc đúng và tồn trữ, cất giữ thuốc tốt.
      Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Đức - Người lao động




      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


      Gọi cho chúng tôi 0902233317

      Viêm mũi do lạm dụng thuốc nhỏ mũi

      Thời tiết nóng nực, mấy ông trong xóm rủ nhau ra quán nước dưới gốc cây đa đầu làng ngồi cho mát. Khi đi, ông Long không quên cho lọ thuốc nhỏ mũi vào túi áo.
      Gặp nhau ai cũng ta thán về cái thời tiết đầy khắc nghiệt này. Riêng ông Long còn thấy ngột ngạt hơn vì mũi cứ hay bị tắc làm ông không thở được. Giờ cũng vậy, ông thò tay vào trong túi áo lấy ngay ra lọ thuốc, rồi ngửa mặt lên nhỏ thuốc vào cả hai bên mũi. Một lúc sau ông phân bua:
      - Quái lạ, sao dạo này nhỏ thuốc vào mà chẳng ăn thua gì cả, mãi mới có tác dụng và cũng chỉ được một lúc mũi lại ngạt tắc trở lại, hay là mình mua phải thuốc "rởm"?
      - Để tôi nhỏ thử xem sao, sáng nay tôi cũng thấy có hiện tượng ngạt mũi mà chưa kịp mua thuốc nhỏ.
      Nói vậy rồi ông San mượn ông Long lọ thuốc và nhỏ vào mũi của mình. Chỉ mấy phút sau ông San thấy mũi thông thoáng dễ chịu hẳn:
      - Không phải thuốc rởm đâu. Tôi nhỏ đây này tác dụng ngay đấy chứ.
      - Vậy mà tôi nhỏ thấy chẳng ăn thua gì, lại còn chẳng ngửi thấy cái gì nữa…
      - Thế thì ông phải đi khám đi, có cái mũi để ngửi thì lại bị hỏng thế sao được.
      - Vâng thế để sáng sớm mai tôi xuống huyện khám xem sao, chứ cứ lúc nào cũng phải gắn với lọ thuốc như thế này cũng không phải là tốt ông nhỉ.
      Nói rồi hôm sau ông Long xuống bệnh viện huyện sớm. Ông phân bua với bác sĩ:
      - Từ trước tới nay tôi có dùng thuốc lung tung đâu, chỉ dùng có đúng một loại thuốc này mà mũi bây giờ vẫn cứ bị ngạt tắc, lại còn nặng hơn thời kỳ đầu dùng thuốc nữa chứ. Bây giờ tôi chẳng còn phân biệt được mùi vị nữa… Đoạn vừa nói ông Long vừa rút ra trong túi áo mình lọ thuốc nhỏ mũi có tên xylomethazolin.
      Nghe ông Long nói rồi mang cả vật chứng đến nữa, sau khi khám bác sĩ cho biết:
      - Ông bị viêm mũi do thuốc. Do ông dùng quá nhiều thuốc gây co mạch này nên đã dẫn tới hiện tượng thiếu máu "chai lỳ" niêm mạc làm cho niêm mạc mũi đã bị xơ hóa, mất tính mềm mại, mất khả năng tự co hồi, giãn nở và còn làm mất khả năng đề kháng chống lại các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập cơ thể qua đường mũi. 
      Việc điều trị sẽ khó khăn và phức tạp hơn, trường họp nặng có thể phải phẫu thuật để cắt cuốn mũi. Rồi bác sĩ giải thích thêm, xylomethazolin là một loại thuốc có tác dụng co mạch, khi nhỏ vào làm mũi dễ thở, nên dễ bị lạm dụng và dẫn đến hậu quả mũi sung huyết trở lại, nặng hơn. 
      Một số người còn bị tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp… do thuốc nhỏ mũi thấm xuống họng gây tác dụng toàn thân rất nguy hiểm. Vì vậy, để dùng thuốc an toàn, không nên dùng thuốc quá 3 ngày và thời gian dùng liên tục tối đa là 5 ngày.
      Theo Bảo Lâm - Sức khỏe và Đời sống




      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

      NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


      Gọi cho chúng tôi 0902233317

       
      Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons