Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

Các thuốc gây nhiễm mỡ gan

Gan nhiễm mỡ là căn bệnh gặp khá phổ biến hiện nay. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó những người béo phì và dùng nhiều rượu bia có nguy cơ cao bị gan nhiễm mỡ. Còn có nguyên nhân mà nhiều người không ngờ tới đó là gan nhiễm mỡ do sử dụng thuốc. Vậy thuốc nào có nguy cơ gây ra bệnh lý này?
Nhóm glucocorticoid (prednisolon, dexamethason..)
Khi dùng liều cao các thuốc trong nhóm glucocorticoids có thể gây ra gan nhiễm mỡ. Tác động này phần lớn xuất hiện ở trẻ em. Nguyên nhân chính gây ra gan nhiễm mỡ là do tăng giải phóng acid béo từ các mô mỡ. Tình trạng gan nhiễm mỡ có thể giảm dần và hết hẳn khi ngưng sử dụng glucocorticoid.
Các thuốc gây nhiễm mỡ ganHình ảnh gan nhiễm mỡ
Amiodaron
Là một thuốc chữa loạn nhịp tim. Việc sử dụng hoạt chất này thường liên quan đến sự tăng nồng độ aminotransferase trong huyết thanh. Dùng thuốc kéo dài có thể gây ra gan nhiễm mỡ dạng bọng lớn và những biến đổi bệnh lý tương tự trong viêm gan do rượu. Khi có dấu hiệu tổn thương gan, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ để dừng hoặc đổi thuốc.
Tetracyclin
Tetracyclin dùng qua dạng uống có thể gây ra thâm nhiễm mỡ dạng bọng nhỏ, thường không để lại hậu quả về lâm sàng. Sự xuất hiện và mức độ của thoái hóa mỡ có mối liên hệ chặt chẽ với liều dùng.
Valproic acid
Là một thuốc chống co giật, acid valproic có thể gây bất thường ở gan sau dùng thuốc 2 - 4 tháng.
Ngoài ra, còn một số thuốc khác có thể gây nhiễm mỡ ở gan như: methotrexat (thuốc ức chế miễn dịch dùng trong điều trị ung thư), estrogen (thường dùng trong ngừa thai), perhexilin (thuốc trị cơn đau thắt ngực) và tất cả các thuốc gây độc cho tế bào gan như: thuốc kháng virut, thuốc chống lao, thuốc giảm đau hạ sốt, thuốc kháng giáp tổng hợp...
Gan nhiễm mỡ là căn bệnh gặp khá phổ biến hiện nay. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây nênMọi loại thuốc vào cơ thể đều được chuyển hóa ở gan. Vì vậy mọi người không nên tự ý mua thuốc chữa bệnh mà không có đơn của bác sĩ để tránh tác dụng có hại của thuốc đến chức năng gan, gây nên các bệnh lý nguy hiểm đến sức khỏe.
Khi bệnh nhân buộc phải dùng một trong các loại thuốc nêu ở trên, cần phải tuân thủ theo điều trị của bác sĩ và phải được theo dõi chức năng gan định kỳ.
Ngoài gan nhiễm mỡ, việc uống thuốc không theo chỉ định của bác sĩ có thể dẫn đến xơ gan, thậm chí là ung thư gan nếu người bệnh uống phải loại thuốc có hại cho gan trong một thời gian dài. Do đó, người bệnh nên trao đổi với bác sĩ trước khi sử dụng một loại thuốc nào đó.
Theo DS Hà Lê - Sức khỏe và Đời sống




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Hạn chế bất lợi khi dùng thuốc ở người cao tuổi

Trung bình một người cao tuổi mắc gần 3 bệnh nên trong điều trị có khi phải sử dụng nhiều thuốc một lúc và chủ yếu là các bệnh mạn tính, phải sử dụng thuốc lâu dài.

Vì vậy, dùng thuốc ở lứa tuổi này cần hết sức thận trọng để tránh sự tương tác thuốc và những tác dụng không mong muốn do thuốc gây ra.
Các bệnh hay gặp nhất ở người cao tuổi là tim mạch (tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, suy tĩnh mạch mạn tính), bệnh xương khớp (loãng xương, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa), nội tiết chuyển hóa (đái tháo đường typ 2), tâm thần kinh (sa sút trí tuệ, trầm cảm, Parkinson), bệnh phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính, ung thư và các rối loạn về thị giác, thính giác... 
Do vậy, khi đi khám bệnh người bệnh cần thông báo cho bác sĩ biết về những bệnh mà mình mắc phải và những thuốc đang sử dụng, tiền sử dị ứng hay các tác dụng phụ của thuốc mà mình gặp phải... để bác sĩ cân nhắc, lựa chọn thuốc dùng cho phù hợp. Bác sĩ cần hỏi kỹ bệnh nhân về các thông tin trên. Tránh cho thuốc khi chưa có chẩn đoán bệnh hoặc khi còn phân vân giữa lợi và hại khi dùng thuốc.
Hạn chế bất lợi khi dùng thuốc ở người cao tuổiNgười cao tuổi phải tuyệt đối tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ.
Sau mỗi đợt điều trị cần kiểm tra lại bệnh nhân để xem hiệu quả điều trị của thuốc đến đâu, các tác dụng phụ của thuốc... để điều chỉnh thuốc và liều dùng cho phù hợp.
Đối với người cao tuổi, khi dùng thuốc nên bắt đầu bằng liều thấp, sau đó nếu cần thì tăng dần liều cho đến liều điều trị thích hợp. Đơn thuốc phải thích hợp với từng trường hợp cụ thể, có tính đến sức chịu đựng của bệnh nhân và các bệnh khác kèm theo. Nếu có một thuốc có thể điều trị hai bệnh một lúc thì nên chọn thuốc đó, cần giải thích rõ về mục tiêu điều trị, các tác dụng phụ có thể gặp trong quá trình dùng thuốc.
Do bệnh ở người cao tuổi thường là bệnh mạn tính nên chỉ định dùng thuốc có khi kéo dài trong nhiều tháng, nhiều năm. Việc dùng thuốc từng đợt dài hay ngắn tùy thuộc vào bệnh, tùy loại thuốc hoặc tùy kết quả chữa bệnh. 
Người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ theo chỉ định của thầy thuốc về liều lượng, số lần uống trong ngày và thời gian dùng thuốc để đạt được hiệu quả điều trị và hạn chế thấp nhất các tai biến do thuốc gây ra. Người bệnh cũng cần biết phát hiện các bất thường có thể xảy ra trong quá trình dùng thuốc, thông báo kịp thời cho bác sĩ điều trị biết để được xử lý kịp thời, thích hợp...
Ngoài ra, cũng cần lưu ý thêm, ở người già do có hiện tượng đau xương khớp khiến cho người cao tuổi ngại vận động nên nhiều khi ngại dậy để uống thuốc mà uống thuốc trong tư thế nằm làm cho thuốc không xuống tới dạ dày kết hợp với lượng nước uống ít nên thuốc đọng lại ở thực quản gây loét (với một số thuốc), gây sỏi thận (như các sulfamid kháng khuẩn)... Vì vậy không nên uống thuốc ở tư thế này và cần uống thuốc ở tư thế ngồi cùng với nhiều nước.
Theo BS. Nguyễn Thị Bích Ngọc - Sức khỏe và Đời sống




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Uống thuốc đúng cách thế nào?

Nước dùng để uống thuốc nhiều khi chưa được người bệnh chú ý, dẫn đến tình trạng uống thuốc với nước trà, uống thuốc với sữa, hoặc uống thuốc trong khi uống rượu… đã gây nên tình trạng tương tác giữa thuốc với các đồ uống trên, nhiều khi gây nguy hiểm cho người bệnh…
Nước (ở đây là nước đun sôi để nguội, nước lọc tinh khiết) là đồ uống (dung môi) thích hợp nhất cho mọi loại thuốc vì không xảy ra tương kỵ hay tương tác nào khi hòa tan thuốc. 
Nước còn là phương tiện để dẫn thuốc (dạng viên) vào dạ dày - ruột, làm tăng độ tan rã của thuốc và hòa tan hoạt chất, giúp cho thuốc được hấp thu dễ dàng.
Vì vậy, khi uống thuốc cần uống đủ nước (ít nhất từ 100 - 200ml cho mỗi lần uống thuốc) và uống trong tư thế người thẳng để thuốc có thể trôi dễ dàng xuống dạ dày, tránh đọng viên thuốc tại thực quản có thể gây kích ứng, loét thực quản, đặc biệt đối với người cao tuổi.
Uống thuốc đúng cách thế nào?
Không dùng sữa để uống thuốc vì sẽ làm giảm hoặc mất tác dụng chữa bệnh của thuốc. Ảnh: TL
Trong quá trình dùng thuốc điều trị, cũng nên uống nhiều nước hàng ngày, có thể uống từ 1,5 - 2 lít nước/ngày để làm tăng tác dụng của thuốc (đối với các loại thuốc tẩy), tăng thải trừ và làm tan các dẫn xuất chuyển hóa gây hại của thuốc đối với cơ thể. Ví dụ như khi uống các sulfamid kháng khuẩn chẳng hạn… 
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, khi uống các thuốc tẩy sán, tẩy giun như niclosamid, mebendazol thì lại cần uống ít nước hơn bình thường để duy trì nồng độ thuốc cao trong ruột, sẽ có hiệu quả cao hơn.
Không dùng nước quả, nước khoáng hoặc các loại nước ngọt đóng hộp có gas để uống thuốc vì các loại nước này có thể làm hỏng thuốc hoặc gây hấp thu quá nhanh, sẽ gây độc…
Không dùng sữa để uống thuốc vì trong thành phần của sữa có chứa canxi. Nhiều thuốc tạo phức với canxi của sữa sẽ không được hấp thu (ví dụ như kháng sinh tetracyclin, lincomycin, muối Fe...), do đó sẽ giảm hoặc không có tác dụng chữa bệnh.
Bên cạnh đó, cũng không dùng cà phê hay nước chè để uống thuốc. Hoạt chất cafein, tanin có trong cà phê, nước chè cũng sẽ làm tăng hoặc giảm tác dụng hoặc gây kết tủa một số thuốc điều trị… không những làm ảnh hưởng tới kết quả điều trị bệnh mà còn gây tai biến.
Trong quá trình dùng thuốc, nhiều người vẫn uống rượu, điều này vô cùng nguy hiểm. Rượu có rất nhiều ảnh hưởng đến thần kinh trung ương, hệ tim mạch, sự hấp thu của đường tiêu hóa. Người nghiện rượu còn bị giảm protein huyết tương, suy giảm chức năng gan, nhưng lại gây cảm ứng enzym chuyển hóa thuốc của gan, vì thế, rượu có tương tác với rất nhiều thuốc và các tương tác này đều là bất lợi.
Do đó, khi đã dùng thuốc thì không uống rượu. Với người nghiện rượu cần phải dùng thuốc, thầy thuốc cần kiểm tra chức năng gan, tình trạng tâm thần... để chọn thuốc và dùng liều lượng thích hợp, trong thời gian dùng thuốc cũng phải ngừng uống rượu.
Theo DS Hoàng Thu - Sức khỏe và Đời sống




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Những loại vitamin phái nữ cần mỗi ngày

Nếu tuân thủ chế độ ăn uống cân bằng, bạn sẽ có đủ lượng vitamin từ các bữa ăn mỗi ngày. Tuy nhiên, trong trường hợp bị thiếu hụt vitamin, việc uống thêm thuốc bổ dạng vitamin tổng hợp là điều rất cần thiết. Sau đây là danh sách những loại vitamin cần thiết cho cơ thể của người phụ nữ mỗi ngày.
1. Can-xi
Can-xi đứng đầu danh sách những dưỡng chất mà phái nữ cần vì sự thiếu hụt can-xi có thể gây ra bệnh loãng xương - vốn là một trong những căn bệnh thường gặp ở phụ nữ. 
Để duy trì sức khỏe của xương, can-xi là chất không thể thiếu và có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe của phái đẹp. Những nguồn cung cấp can-xi quan trọng nhất từ thực phẩm gồm có các sản phẩm từ sữa và trứng.
2. Vitamin D
Loại vitamin này cần thiết để cơ thể hấp thu được can-xi từ thức ăn. Dù bạn có tiêu thụ nhiều những thực phẩm giàu can-xi nhưng nếu thiếu vitamin D thì cơ thể vẫn khó có khả năng hấp thu được can-xi đầy đủ. Nguồn cung cấp vitamin D tốt nhất chính là ánh nắng mặt trời.
3. Vitamin A
Vitamin A cần thiết trong những trường hợp như chu kỳ "nguyệt san" mất quá nhiều máu, các triệu chứng của thời kỳ tiền kinh nguyệt, các khối u ở vú và viêm nhiễm âm đạo. Đây còn là loại vitamin có lợi trong những trường hợp đang điều trị bệnh ung thư vú. Bạn có thể tìm thấy vitamin A trong gan động vật, các loại cá có nhiều dầu, cà rốt, khoai lang…
4. Vitamin B1
Còn được biết đến với tên gọi là thiamine, loại vitamin thiết yếu này giúp chuyển hóa đường thành năng lượng. Cơ thể luôn cần có nhiều năng lượng để đủ sức hoạt động suốt ngày. Những nguồn cung cấp vitamin B1 đáng kể nhất từ thực phẩm gồm có thịt nạc, các loại quả hạch và lương thực thô.
5. Vitamin B2
Riboflavin hay còn gọi là vitamin B2 luôn nằm trong danh sách những loại vitamin cần có cho phụ nữ mỗi ngày. Một số lợi ích của loại vitamin này bao gồm tăng cường khả năng hoạt động của hệ thống miễn dịch, duy trì sức khỏe của làn da, móng và tóc, làm chậm quá trình lão hóa. 
Vitamin B2 còn có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của hệ thống sinh sản. Những nguồn cung cấp vitamin B2 thiết yếu bao gồm các loại rau có nhiều lá và sữa.
6. Vitamin B6
Vitamin B6 còn được gọi là pyridoxine có ích cho phái nữ trong việc điều trị các triệu chứng tiền kinh nguyệt thường cặp, các rắc rối về chu kỳ "đèn đỏ" cũng như chứng buồn nôn trong giai đoạn đầu của thai kỳ. 
Chúng còn có tác dụng cải thiện tình trạng chậm có sữa sau khi sinh và chứng trầm cảm có liên quan đến việc mang thai. Những nguồn cung cấp vitamin B6 thường gặp nhất là bơ, chuối và các loại quả hạch.
7. A-xít folic
Do có liên quan mật thiết với việc hỗ trợ sức khỏe cho những phụ nữ đang mang thai nên a-xít folic trở thành loại vitamin thiết yếu mà chị em cần bổ sung cho cơ thể mỗi ngày. 
Những phụ nữ đang có kế hoạch mang thai hoặc đang có thai đều được các bác sĩ sản khoa kê đơn bổ sung loại vitamin này dưới dạng thuốc bổ nhằm ngăn ngừa tình trạng xảy ra hoặc phòng tránh nguy cơ bị dị tật cho thai nhi. Các loại rau màu xanh đậm có nhiều lá là một nguồn cung cấp a-xít folic quan trọng và dễ tìm nhất.
8. Vitamin C
Để cơ thể và tinh thần luôn khỏe mạnh, bạn cần bổ sung đủ vitamin C mỗi ngày. Loại vitamin này cần thiết cho cả hai phái nam và nữ. 
Chúng không chỉ giúp đánh bại chứng cảm lạnh thường gặp mà còn mang lại nhiều lợi ích khác cho cơ thể như duy trì sức khỏe cho da, tóc, móng, cải thiện khả năng chịu đựng về thể chất và làm chậm quá trình lão hóa. Những loại trái cây có họ cam, quýt được xem là một trong những nguồn cung cấp vitamin C dồi dào nhất.
9. Vitamin E
Đây là loại vitamin rất quen thuộc với phái nữ vì chúng giúp bạn chăm sóc làn da. Những sản phẩm làm đẹp có chứa nhiều vitamin E luôn là những thứ mà chị em tìm kiếm. 
Bên cạnh đó, vitamin E còn giúp ích trong việc ngăn ngừa các biến chứng có thể xảy ra trong giai đoạn cuối của thai kỳ và các rắc rối có liên quan đến chu kỳ "nguyệt san". Những thực phẩm giàu vitamin E gồm có thịt, thịt gia cầm, trứng và ngũ cốc.
10. Choline
Là loại vitamin nằm cuối cùng trong danh sách các loại vitamin thiết yếu của phái nữ, choline thuộc nhóm các hợp chất vitamin B, vốn rất quan trọng đối với sức khỏe của các bà bầu, giúp ngăn ngừa những khuyết tật có thể xảy ra ở ống thần kinh của thai nhi. Loại vitamin này được sản xuất trong gan nhưng trứng vẫn được đánh giá là nguồn cung cấp choline dồi dào nhất.
Theo Hồng Xuân - Phụ nữ TPHCM




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Magiê quan trọng như thế nào với cơ thể?

Nó tham gia vào hơn 300 phản ứng hóa học giúp cho cơ thể hoạt động bình thường như tổng hợp protein, cơ bắp và chức năng thần kinh, kiểm soát đường (glucos) máu, và quy định huyết áp. 
Bên cạnh đó magiê còn góp phần vào sự phát triển cấu trúc của xương, tổng hợp DNA, RNA, và các chất chống ôxy hóa glutathione, đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển của các ion canxi và kali qua màng tế bào. Quá trình này là rất quan trọng để dẫn truyền thần kinh xung động, co cơ, và nhịp tim bình thường.
Magiê quan trọng như thế nào với cơ thể?Các loại đậu, loại hạt là thực phẩm chứa nhiều magiê.
Dấu hiệu ban đầu của sự thiếu hụt magiê, người bệnh sẽ có cảm giác chán ăn, buồn nôn, nôn, mệt mỏi và suy nhược. 
Khi thiếu hụt magiê nặng hơn người bệnh có cảm giác tê, ngứa ran, co thắt cơ và chuột rút, co giật, thay đổi nhân cách, nhịp tim bất thường, và co thắt mạch vành có thể xảy ra. Nặng hơn nữa có thể dẫn đến giảm canxi máu hoặc hạ kali máu… Vì vậy, khi xảy ra các triệu chứng trên có thể nghĩ tới cơ thể bị thiếu hụt magiê.
Magiê có nhiều trong thực phẩm cả thực vật và động vật và đồ uống như các loại rau lá xanh (rau chân vịt, bông cải xanh), các loại đậu (đậu đen, đậu phộng), các loại hạt (hạt điều, hạnh nhân), thịt bò, thịt gà… Nói chung, các loại thực phẩm có chứa chất xơ là nguồn cung cấp magiê dồi dào.
Những người dễ bị thiếu hụt magiê như chế độ ăn uống không cung cấp đủ (ăn nghèo nàn các thực phẩm có chứa khoáng chất này), người có bệnh đường tiêu hóa (tiêu chảy, viêm ruột), người bệnh đái tháo đường typ 2, người nghiện rượu, người cao tuổi (người cao tuổi có chế độ ăn uống thấp hơn khi còn trẻ, nguy cơ mắc các bệnh mạn tính cao…) và việc dùng một số thuốc trong điều trị bệnh cũng có thể dẫn đến sự thiếu hụt magiê trong cơ thể…
Hầu hết mọi người có thể dung nạp magiê thông qua chế độ ăn uống, nhưng đôi khi việc bổ sung magiê bằng thuốc lại là cần thiết nếu nồng độ magiê trong cơ thể quá thấp.
Khi bổ sung magiê bằng thuốc cần lưu ý để tránh dùng quá liều, dùng thừa. Việc dùng quá nhiều magiê từ thực phẩm không gây hại cho sức khỏe ở người khỏe mạnh vì thận loại bỏ lượng dư thừa trong nước tiểu. 
Tuy nhiên, liều cao từ thuốc thường gây tiêu chảy có thể đi kèm với buồn nôn và đau bụng quặn. Các triệu chứng của ngộ độc magiê bao gồm buồn nôn, nôn, hạ huyết áp, đỏ bừng mặt, bí tiểu, tắc ruột, trầm cảm, yếu cơ, khó thở, nhịp tim không đều, và ngừng tim…
Theo DS Hoàng Thu - Sức khỏe và Đời sống


Các thuốc "cứu sống" tạng sau ghép

Ngày nay, nhờ những thành công của ngành ghép tạng đã cứu sống được nhiều người bệnh mà trước đó được cho là "vô phương cứu chữa". 
Song song với sự thành công của các kỹ thuật ghép tạng, thuốc chống thải ghép cũng đạt được những thành tựu đáng kể nhờ vào sự phát triển của miễn dịch, sinh lý bệnh và công nghiệp dược.
Vì sao phải dùng thuốc chống thải ghép?
Những thành công ban đầu của y học thế giới về ghép thận ở người từ những năm giữa thế kỷ XX đánh dấu một bước phát triển mới của kỹ thuật ghép tạng. Sau ghép thận là ghép tim, ghép gan, ghép tụy đã mở ra ngành ghép tạng. 
Nhưng sau ghép tạng, thải ghép là nguy cơ hàng đầu cho người được ghép - đó là nguyên nhân lớn nhất khiến các ca ghép tạng thất bại. Để khống chế quá trình này, bệnh nhân cần dùng thuốc chống thải ghép.
Thuốc azathiopurin - một dòng thuốc ức chế miễn dịch đầu tiên được dùng để chống thải ghép được sử dụng năm 1957. Cyclosporin được sử dụng trên lâm sàng như thuốc ức chế miễn dịch từ năm 1978 và từ đó ngành ghép tạng trên thế giới bước sang một trang sử mới.
Các thuốc Thuốc chống thải ghép đóng vai trò vô cùng quan trọng vào thành công của ca ghép tạng
Hai nhóm thuốc đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực này là corticoid và azathioprine (thường được phối hợp với nhau). Từ lâu, người ta đã biết corticoid là chất kháng viêm mạnh, đồng thời cũng có tác dụng loại bỏ phản ứng miễn dịch (IMS). Điều bất lợi là việc dùng nhóm corticoid lâu dài sẽ dẫn đến các tác dụng phụ bất lợi cho người bệnh.
Từ thập niên 80 thế kỷ 20, thuốc ciclosporine A bắt đầu được sử dụng để phòng ngừa sự đào thải trong các ca ghép thận, kết hợp với corticoid hoặc azathioprine. Chất này được ly trích từ một vi nấm, cho phép giảm bớt liều dùng corticoid, kéo dài sự sống của mô ghép trong cơ thể. 
Nhưng ciclosporine cũng có những tác dụng phụ, đặc biệt là trên thận. Độc tính ấy giờ đây đã được kiểm soát bằng cách giảm liều qua theo dõi định lượng máu 2 giờ sau khi dùng thuốc. Ngoài ra, ciclosporine còn làm tăng huyết áp và sự phát triển nang lông, dẫn đến chứng rậm lông.
Từ những thuốc ức chế miễn dịch không đặc hiệu như glucocorticoid, azathioprine, hiện nay đã có các thuốc ức chế miễn dịch khác đặc hiệu hơn, tăng tỷ lệ thành công, giảm tỷ lệ thải ghép, an toàn và ít tác dụng không mong muốn.
Các thuốc IMS trở nên phong phú và đa dạng ở những năm 1990. Tacrolimus có mặt trên thị trường và trở thành chất dùng xen kẽ với ciclosporine nhờ được trình bày dưới dạng dễ hấp thu hơn. Rồi acide mycophénolique được các nhà chuyên môn sử dụng để tạo nên cơ chế chống đào thải hiệu quả nhất.
Sự kết hợp nhiều loại dược phẩm nhóm này cho phép bệnh nhân theo đuổi việc điều trị chống đào thải mô ghép, đồng thời kéo dài tuổi thọ của mô ghép.
Cuối thập niên 90, những chất kháng thể mới như basiliximab và daclizumab được tung ra thị trường, góp phần hoàn thiện nhóm thuốc IMS, đạt được tác dụng chống đào thải mô ghép thật hiệu quả trong những ngày đầu sau khi mổ.
Từ năm 2000, nhiều thuốc mới đã xuất hiện như sirolimus, éverolimus, góp phần mang lại hiệu quả trong việc ghép tim.
Hiện nay, các viện nghiên cứu dược phẩm đang tiến hành tìm kiếm những phân tử mới thật đặc biệt, vừa tăng tác dụng chống đào thải vừa làm giảm độc tính của thuốc IMS. 
Mục tiêu của các cuộc nghiên cứu là tìm ra những phương pháp mới cho phép đạt được sự cân bằng tối ưu giữa hiệu quả điều trị và khả năng dung nạp của bệnh nhân, giúp họ có thể theo đuổi lâu dài liệu pháp cấy ghép và nâng cao chất lượng sống của mình.
Lựa chọn thuốc như thế nào?
Không thể áp dụng chung một phác đồ thuốc cho tất cả bệnh nhân ghép thận, bởi các bệnh nhân ghép thận không những khác nhau về nguy cơ thải ghép mà còn khác nhau về khả năng đáp ứng thuốc ức chế miễn dịch.
Nguy cơ về thải ghép cấp thường xảy ra trong vòng 3 tháng đầu sau khi ghép, tỷ lệ cao nhất thường gặp trong tháng đầu tiên, có thể do hiện tượng viêm tiếp theo thời gian thiếu máu trước và trong khi ghép của tạng ghép làm tăng tính miễn dịch của nó. Thuốc ức chế miễn dịch thường được dùng với liều cao trong thời điểm này và sau đó có thể giảm liều từ từ.
Tất cả bệnh nhân được ghép khi nào cũng có nguy cơ thải ghép mặc dầu đã được ghép tạng nhiều năm nếu trong trường hợp thuốc ức chế miễn dịch được giảm liều hoặc ngưng dùng thuốc. Điều này xảy ra khi bệnh nhân tự động ngưng thuốc hay đôi khi do bác sĩ nghĩ rằng cần thiết giảm liều thuốc ức chế miễn dịch và cho chỉ định.
Theo ThS Nguyễn Bạch Đằng - Sức khỏe và Đời sống




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317


Dùng kem chăm sóc da sao cho an toàn?

Trong da liễu hiện nay, dược mỹ phẩm ngày càng đóng vai trò quan trọng và được sử dụng rộng rãi mang lại hiệu quả hỗ trợ điều trị cao trong một số bệnh như viêm da cơ địa (eczema), bệnh vảy nến, các bệnh lý trứng cá, nám da mặt, tăng sắc tố sau viêm, các viêm da kích ứng ở mặt. 
Nếu như thiếu dược mỹ phẩm phối hợp điều trị và chăm sóc thì hiệu quả điều trị sẽ kém đi rất nhiều, cả thầy thuốc và người bệnh sẽ mất đi cơ hội để đạt được hiệu quả cao trong điều trị bệnh.
Ví dụ, vai trò giữ ẩm da trong viêm da cơ địa là rất quan trọng thì dược mỹ phẩm là sản phẩm giúp làm điều đó hay đánh giá vai trò của kem chống nắng trong điều trị nám da. 
Theo công bố kết quả nghiên cứu của các bệnh viện da liễu trên thế giới, nếu không có biện pháp chống nắng và sử dụng kem chống nắng đúng cách triệt để kèm theo sẽ dẫn đến thất bại trong điều trị nám da.
Dùng kem chăm sóc da sao cho an toàn?
Để đảm bảo an toàn, tránh tác dụng phụ không mong muốn, trước khi bôi lên da vùng định điều trị (đặc biệt vùng mặt) thì nên bôi vào mặt trong cánh tay để sau 24 - 72 giờ nếu không có phản ứng gì thì mới dùng và tốt nhất là làm test da bằng phương pháp PUT (Provocative Use Test) hay phương pháp ROAT (Repeat Open Application Test): là phương pháp xác định phản ứng với mỹ phẩm chậm.
Thoa mỹ phẩm lên vùng da mặt trong cánh tay 2 lần một ngày (trong 2 tuần) với diện rộng khoảng 5cm để xác định phản ứng. Nếu vượt quá thời gian trên, vùng da thoa thuốc không có biểu hiện gì (như ngứa, hồng ban, nổi mụn nước...) thì chứng tỏ da không bị dị ứng với mỹ phẩm đó.
Sau khi bôi bất kỳ loại mỹ phẩm nào, nếu thấy da bị nổi sẩn, ngứa, đỏ thì phải ngừng ngay lập tức. Dùng vòi nước rửa mạnh để làm trôi đi mỹ phẩm. Thông thường, sau khi ngưng dùng mỹ phẩm thì các triệu chứng trên sẽ giảm dần và hết hẳn. 
Tuy nhiên, một số người cũng có thể bị dị ứng ngày càng nặng hơn và cần được điều trị. Khi đó cần đến cơ sở y tế để có lời khuyên của nhân viên y tế.
Theo BS Lê Đức - Sức khỏe và Đời sống




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons