Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Một số loại thuốc phổ biến có thể gây tổn hại sức khỏe

Dưới đây là các loại thuốc phổ biến nhất có thể gây tổn hại sức khỏe của bạn và các phòng tránh tác dụng phụ nghiêm trọng của chúng.

Một vài loại thuốc phổ biến nhất mà chúng ta thường uống có thể làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng thiết yếu trong cơ thể cũng như dẫn đến các triệu chứng khác thường.

Nhiều loại thuốc theo quy định làm cạn kiệt chất dinh dưỡng cụ thể trong cơ thể của bạn, khiến bạn cần phải bổ sung các chất dinh dưỡng. Các loại thuốc này làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng trong ruột và đẩy các chất dinh dưỡng ra khỏi cơ thể thông qua hệ tiêu hóa.

Dưới đây là các loại thuốc phổ biến nhất có thể gây tổn hại sức khỏe của bạn:

Thuốc làm giảm cholesterol

Statins là một nhóm các thuốc phổ biến theo quy định của bác sĩ để giúp giảm cholesterol và ngăn ngừa các cơn đau tim và đột quỵ. Atorvastatin (Lipitor), lovastatin (Mevacor) và pravastatin (Pravachol) là một số thuốc statin phổ biến. Statins làm cạn kiệt nguồn Vitamin D trong cơ thể.

Tác dụng phụ có thể có: Kiệt sức, suy nhược, đau cơ, mất trí nhớ, khó thở, bệnh gan, tăng nguy cơ ung thư, nhiễm khuẩn tái phát và bệnh tim.

Cách khắc tác dụng phụ của thuốc giảm cholesterol: CoQ10, Vitamin D, Vitamin B12, và vitamin tổng hợp khác.

Một số loại thuốc phổ biến có thể gây tổn hại sức khỏe 1Một vài loại thuốc phổ biến nhất mà chúng ta thường uống có thể làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng thiết yếu trong cơ thể cũng như dẫn đến các triệu chứng khác thường. Ảnh minh họa
Thuốc kháng axit

Thuốc ức chế bơm proton và chặn H2 là loại thuốc làm giảm lượng axit trong dạ dày. Thuốc kháng axit làm cạn kiệt nghiêm trọng lượng magiê trong cơ thể. Thiếu hụt magiê gây ra vấn đề về tim, cao huyết áp và rối loạn tâm trạng.
Tác dụng phụ có thể có: Bệnh tim, mệt mỏi, hội chứng ruột kích thích, làm tăng nguy cơ ung thư, thị lực kém, huyết áp cao, thiếu máu, móng tay dễ gãy, rụng tóc và sâu răng.

Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc kháng axit: thuốc kháng axit làm cạn kiệt nhiều chất dinh dưỡng trong cơ thể vì chúng ảnh hưởng đến pH của ruột. Bạn có thể cần bổ sung B6, CoQ10, và khoáng chất.

Thuốc huyết áp

Thuốc lợi tiểu và thuốc huyết áp làm cạn kiệt nguồn magiê, canxi và nguồn dự trữ các khoáng chất khác trong cơ thể. Những yếu tố này là rất quan trọng đến sự an toàn của xương.

Tác dụng phụ có thể có: loãng xương, bệnh tim, nhiễm trùng tái phát, co rút cơ bắp, trầm cảm, giảm khả năng miễn dịch, thị lực kém, tuyến tiền liệt mở rộng, tăng cân, tóc rụng, mệt mỏi, thay đổi tâm trạng, và mất trí nhớ.

Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc huyết áp: Bổ sung magiê, canxi, vitamin B, vitamin C, kẽm và kali cho cơ thể.

Thuốc tránh thai

Thuốc tránh thai làm cạn kiệt nhiều chất dinh dưỡng trong cơ thể. Thuốc tránh thai làm cạn kiệt chất dinh dưỡng cần thiết để cơ thể của bạn để tạo ra dẫn truyền thần kinh tự nhiên và hormone giới tính.

Tác dụng phụ có thể: Sử dụng lâu dài có thể gây ra các cơn hoảng loạn, mệt mỏi, trầm cảm, suy giáp, bệnh tim, tăng cân, khó chịu, đau thần kinh, và tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.

Cách khắc phục tác dụng phụ của thuốc tránh thai: Bổ sung thêm magiê, kẽm, khoáng chất, vitamin B và vitamin C... trong chế độ ăn uống hàng ngày.

Lưu ý: Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ của bạn khi dùng thuốc hoặc thay đổi chế độ chăm sóc sức khỏe.

Theo Nguyễn Trang - Màn ảnh sân khấu

Nguy cơ giảm thính lực do thuốc

Một số thuốc có thể gây độc cho tai, làm giảm thính lực, thậm chí dẫn đến điếc vĩnh viễn.

Tác dụng phụ là một trong những nguy cơ tiềm ẩn khi dùng thuốc. Loại thuốc nào cũng có những tác dụng không mong muốn nhất định. Một số thuốc có thể gây độc cho tai, làm giảm khả năng nghe, thậm chí dẫn đến điếc vĩnh viễn.

Vì sao suy giảm thính lực do thuốc?

Đột nhiên bạn bị ù tai, nghe kém, chóng mặt rồi dần dần nặng tai... sau đó đi khám, bác sĩ chẩn đoán bạn bị suy giảm thính lực. Tác nhân gây suy giảm thính lực có thể do dùng một số thuốc điều trị bệnh hoặc hoá chất gây suy kém chức năng và tổn thương tế bào tai trong, đặc biệt sau ốc tai và các tế bào thần kinh thính giác. 

Suy giảm thính lực gặp phải do tác dụng phụ của thuốc có thể xảy ra khi đang dùng thuốc hoặc sau vài tuần, thậm chí vài tháng khi đã ngưng sử dụng. Dấu hiệu của suy giảm thính lực thường không xảy ra đột ngột mà có diễn biến từ từ, nên người bệnh thường dễ bỏ qua.

Triệu chứng điển hình của suy giảm thính lực do tác dụng phụ của thuốc là ù một bên hoặc cả hai tai. Có trường hợp không ù tai mà chỉ thấy chóng mặt, mất thăng bằng, nghe kém... 

Các triệu chứng này có thể xuất hiện tạm thời, không liên tục nên nhiều người lại nghĩ do mệt mỏi hay bị rối loạn tiền đình và cứ thế chịu đựng. 

Dần dần, biến chứng suy giảm thính lực càng trở nên nặng nề hơn nếu người bệnh không đi khám bác sĩ. Có trường hợp chỉ phát hiện ra khi ngưỡng nghe đã ở mức rất cao và nguy cơ điếc không hồi phục đang cận kề.

Nguy cơ giảm thính lực do thuốc 1
Suy giảm thính lực do thuốc có thể khó phục hồi nếu đến bác sĩ chậm trễ

Những loại thuốc gây suy giảm thính lực

Có một số loại thuốc gây suy giảm thính lực, có thể dẫn đến điếc. Đứng đầu trong nhóm nguy cơ này là kháng sinh, đặc biệt là nhóm aminoglycosid.

Nhóm kháng sinh aminoglycosid:

Neomycin là kháng sinh gây hại nhất cho tai. Khi dùng bằng đường uống với liều cao để diệt khuẩn đường ruột hoặc dùng liều cao để bôi vết thương là đã có thể gây điếc. 

Kanamycin và amikacin cũng gây độc hại mạnh như neomycin. Streptomycin gây tổn hại nhanh chóng cho bộ phận tiền đình, dẫn đến chóng mặt, mất cân bằng, loạng choạng, khó bước đi ở nơi thiếu ánh sáng.

Nếu sử dụng 1g/ngày thì sau 7 - 10 ngày, bệnh nhân sẽ suy giảm sức nghe. Nếu tiếp tục điều trị sẽ dẫn tới điếc nặng, vĩnh viễn không phục hồi được. Đã có trường hợp dùng streptomycin điều trị viêm phổi cho trẻ rồi dẫn tới hậu quả trẻ bị câm điếc. Gentamycin cũng gây độc cho tai như streptomycin nhưng nhẹ hơn.

Có tới 10% trường hợp bị ngộ độc tai, suy giảm thính lực do dùng nhóm kháng sinh aminoglycosid. Nguy cơ bị ngộ độc tai, suy giảm thính lực do aminoglycoside tăng nếu bệnh nhân có trước một trong những yếu tố sau: suy yếu chức năng thận, tiếp xúc trực tiếp với tiếng ồn, tuổi cao, đã từng dùng aminoglycoside.

Những kháng sinh khác cũng có thể gây hại cho tai:

Trước tiên là erythromycin. Nếu tiêm tĩnh mạch liều cao 4g/ngày (để điều trị viêm phổi cho bệnh nhân cao tuổi, suy gan, thận) thì có thể gây điếc và chóng mặt. 

Triệu chứng này sẽ giảm và hết nếu ngưng thuốc kịp thời. Ampicillin khi dùng liều cao điều trị viêm màng não do Hemophillus influenzae có thể làm suy giảm thính lực. Chloramphenicol cũng giống như ampicillin, khi dùng điều trị viêm màng não cũng làm giảm sút sức nghe.

Các kháng sinh như viomycin, vancomycin, capreomycin cũng có nguy cơ làm suy giảm thính lực, gây điếc. Triệu chứng suy giảm thính lực do các kháng sinh này gây ra cũng tùy từng trường hợp mà bị nghe kém, ù tai tiếng thổi, thỉnh thoảng chóng mặt, nếu dùng quá liều lâu ngày có thể gây điếc thần kinh giác quan không phục hồi, gây hư hại cả ốc tai và tiền đình.

Thuốc chống viêm:

Các thuốc chống viêm salicylat thường gây ù tai và giảm thính lực, nhưng có khả năng hồi phục. Aspirin liều cao cũng gây ù tai và giảm thính lực nhưng ngưỡng nghe có thể phục hồi sau khi ngừng thuốc. Các thuốc chống viêm không steroid như ibuprofen, indomethacin, piroxicam... cũng có tác dụng phụ làm suy giảm sức nghe, gây điếc.

Thuốc lợi tiểu tác động ở quai Henlé:

Đây là một nhóm thuốc gây hại nặng nhất cho tai, bao gồm acid ethacrynic, furosemid, bumetanid. Thuốc gây độc mạnh nhất ở người cao tuổi, người suy gan, suy thận. Độc tính tăng thêm khi dùng đồng thời với kháng sinh nhóm aminoglycosid.

Ngoài ra, một số loại thuốc trị sốt rét, thuốc chống ung thư cũng có thể gây suy giảm thính lực ở các mức độ khác nhau.

Lời khuyên của thầy thuốc:

An toàn khi dùng thuốc là mong ước lớn nhất của cả thầy thuốc và bệnh nhân. Do vậy, người bệnh không nên tự dùng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ. 

Cần thông báo cho bác sĩ những loại thuốc mình đang dùng và tiền sử bệnh để bác sĩ có hướng điều trị. Để hạn chế tác dụng phụ của thuốc lên thính lực, người bệnh nên tham khảo sự tư vấn của bác sĩ trước khi sử dụng thuốc.

Với bệnh nhân cao tuổi, phụ nữ có thai, người bị suy gan thận không được dùng các thuốc có khả năng gây độc cho tai, mà phải thay thế bằng các thuốc khác có cùng tác dụng. 

Nếu bắt buộc phải dùng, bệnh nhân cần được đo thính lực và theo dõi thường xuyên trong suốt quá trình dùng thuốc (đặc biệt là các kháng sinh). Trong và sau thời gian dùng thuốc nếu thấy biểu hiện ù tai, nghe kém nên đến ngay bác sĩ kiểm tra để được điều trị kịp thời.

Một số lưu ý khi điều trị viêm đại tràng

Người bị bệnh viêm đại tràng mãn tính sẽ thấy mệt mỏi, ăn ngủ kém, chán ăn, đầy bụng,… Bệnh kéo dài lâu ngày dẫn đến cơ thể gầy sút hốc hác.
Một số lưu ý khi điều trị viêm đại tràng 1
Bệnh viêm đại tràng mãn tính là bệnh rất hay gặp ở nước ta, bệnh xuất hiện sau nhiễm khuẩn, nhiễm ký sinh vật ở ruột. Viêm đại tràng mãn tính thường có triệu chứng đau bụng âm ỉ ở phần dưới bụng hoặc đau dọc khung đại tràng, chướng hơi, sôi bụng, rối loạn tiêu hóa kéo dài, phân không ổn định lúc bón, lúc nát, phân có thể có nhiều chất nhầy...
Người bị bệnh viêm đại tràng mãn tính sẽ thấy mệt mỏi, ăn ngủ kém, chán ăn, đầy bụng, giảm trí nhớ, hay cáu gắt, sốt,… Bệnh kéo dài lâu ngày dẫn đến cơ thể gầy sút hốc hác. Khi viêm loét đại tràng kéo dài, tế bào biểu mô bị loạn sản chuyển biến thành ung thư đại tràng.
Một số lưu ý khi điều trị viêm đại tràng 2
Để hạn chế tối đa sự khó chịu mà bệnh lý này mang lại, chúng ta cần lưu ý nếu thấy cơ thể có các triệu chứng của bệnh Viêm đại tràng thì nên đi thăm khám bác sĩ để xác định nguyên nhân và có những biện pháp điều trị thích hợp.
Hiện nay có hai hướng điều trị bệnh viêm đại tràng mãn tính: 
Thứ nhất là điều trị bằng thuốc Tây y nhưng cần kết hợp nhiều loại thuốc để điều trị cả nguyên nhân & triệu chứng bệnh. Ưu điểm của hướng điều trị này là giảm nhanh các triệu chứng. Chính vì thế nên người bệnh thường chủ quan, bỏ dở liệu trình khiến cho bệnh không chữa khỏi triệt để.
Thứ hai, sử dụng thuốc Đông y kết hợp điều trị triệu chứng lẫn nguyên nhân chỉ trong một loại thuốc. Phương pháp này phải điều trị kéo dài (khoảng hơn 1 tháng đến 3 tháng tùy độ bệnh). Các dược thảo dùng trị viêm đại tràng trong đông y như Ngưu nhĩ, La liễu.. 
Khi kết hợp với nhau có tác dụng khu phong, trừ thấp, thanh nhiệt, tiêu viêm, chỉ tả, ôn lượng cùng dùng, dĩ hòa âm lượng, thuận lý thăng giáng, làm cho tràng vị đắc hòa, thăng giáng trở nên bình thường. 
Nói theo quan điểm của tây y, bài thuốc có tác dụng kháng khuẩn, giảm tiết dịch vị, giảm nồng độ acid dịch vị, ổn định nhu động ruột, chống co thắt cơ trơn, điều hòa chức năng sinh lý dạ dày, ruột.
Một số lưu ý khi điều trị viêm đại tràng 3
Tuy nhiên, cần lưu ý là các sản phẩm thuốc đông dược điều trị viêm đại tràng mãn hiện có trên thị trường rất nhiều chủng loại, trong đó có cả thực phẩm chức năng. Người bệnh cần cân nhắc và thận trọng tìm hiểu kỹ thông tin trước khi quyết định lực chọn sản phẩm phù hợp.
Ngoài ra, để điều trị bệnh viêm đại tràng mãn tính có kết quả tốt, ngoài việc dùng thuốc, người bệnh phải chú ý không nên kiêng khem quá mức khiến cơ thể suy kiệt, cần duy trì một chế độ ăn uống hợp lý, đại tiện đúng giờ, nghỉ ngơi, không lo nghĩ nhiều vì đó chính là nguyên nhân khiến bệnh có nguy cơ nặng thêm.

Cách uống thuốc đúng để đạt hiệu quả cao nhất

Do khí huyết trong cơ thể vận động theo một quy luật nhất định nên uống thuốc đúng lúc mới phát huy hết hiệu quả. Mặt khác, sự tương tác giữa các thuốc với nhau hoặc đôi lúc giữa thuốc và thức ăn cũng có thể nâng cao hoặc làm giảm tác dụng của thuốc, gây nên những hậu quả có khi rất nghiêm trọng.
Dưới đây là một số lưu ý (có tính khái quát) về cách uống thuốc nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.
Các thuốc uống trước khi ăn
Những loại thuốc cầm tiêu chảy: Uống trước bữa ăn sẽ giúp rút ngắn thời gian thuốc đi vào ruột và duy trì nồng độ cao của thuốc.
Thuốc chống loãng xương: Phần lớn các thuốc này được bác sĩ khuyến khích uống vào buổi sáng, trước khi ăn.
Các loại thuốc được bác sĩ kê toa uống 1 lần hằng tuần: Sẽ phát huy tác dụng tối ưu khi dùng trước bữa ăn sáng.
Loại thuốc chữa chứng axít trào ngược và ợ nóng: Để các loại thuốc này phát huy tối đa hiệu quả và giúp dạ dày dễ chịu, nên uống trước khi ăn 20-30 phút.
Thuốc paracetamol, thuốc trợ tim digoxin: Nên uống trước khi ăn bởi nếu uống sau, chất xơ trong thức ăn sẽ hạn chế khả năng hấp thụ những loại thuốc này.
Cách uống thuốc đúng để đạt hiệu quả cao nhất 1
Uống thuốc giảm đau vào lúc 11 - 12h là tốt nhất Ảnh: Hoàng Triều
Các thuốc uống sau bữa ăn
Đó là các loại thuốc có tính chất gây kích ứng đường tiêu hóa như aspirin, chống viêm, giảm đau, sắt sunfat... Sau khi bị thức ăn pha loãng ra, sự kích thích của những loại thuốc này với niêm mạc dạ dày sẽ giảm bớt.
Thuốc hỗ trợ tiêu hóa như pepsin, amylase... khi được hòa trộn vào thức ăn sẽ phát huy hiệu quả điều trị lớn nhất.
Uống sau bữa ăn tối
Thuốc hạ cholesterol cần uống thời điểm này vì gan sản xuất phần lớn các cholesterol trong khi ngủ vào ban đêm. Vì vậy, nếu dùng thuốc điều chỉnh cholesterol sau khi ăn tối sẽ giúp gan điều tiết và duy trì nồng độ cholesterol phù hợp trong máu.
Các nhà khoa học cho biết nhiều loại thuốc cần phải được uống 2 lần/ngày, đặc biệt là khi tự mua tại các tiệm thuốc tây. Liều thứ nhất có thể uống thời điểm bất kỳ vào bữa sáng hoặc trưa nhưng liều thứ hai (còn được gọilà liều bổ sung) chỉ phát huy hiệu quả tốt nhất khi uống sau bữa ăn tối.
Một số thuốc khác
Thuốc kháng histamine: Uống vào buổi sáng. Thực nghiệm đã chứng minh rằng cùng một lượng thuốc, nếu uống lúc 7h thì kết quả điều trị sẽ kéo dài trong 15 - 17h, nếu uống lúc 19h thì hiệu quả điều trị chỉ duy trì được 6 - 8h.
Thuốc nội tiết tố cũng nên uống 1 lần vào buổi sáng, tốt nhất là lúc 6 - 8h. Đối với những người cần uống nội tiết tố dài ngày, dùng thuốc 1 lần lúc sáng sớm sẽ khiến tác dụng phụ (nếu có) nhẹ đi rất nhiều so với uống 2 - 3 lần trong ngày. 
Bởi lẽ, trong khoảng 6 - 8h, tuyến thượng thận tiết ra nhiều nội tiết tố nhất trong ngày (22h là thời điểm nội tiết tố giảm tiết dần).
Thuốc giảm đau: Uống lúc 11 - 12 giờ là tốt nhất. Đây là thời điểm cơ thể nhạy với cảm giác đau nhất trong ngày.
Các thuốc hạ áp: Nên uống vào sáng sớm vì đây là lúc huyết áp có trị số thấp nhất trong ngày. Thời điểm này chỉ nên dùng một lượng nhỏ thuốc hạ áp để tránh tình trạng tụt nhanh huyết áp. Sau bữa cơm tối (trước và sau 19h), huyết áp có trị số cao nhất trong ngày. Đây là thời điểm cần uống thuốc hạ áp nhất.
Thuốc chống hen: Tốt nhất là uống trước khi đi ngủ vì từ 0 - 2h là khoảng thời gian người bệnh hen dễ mẫn cảm nhất với những phản ứng của acetyl choline và histamine, dẫn tới co thắt phế quản. Việc uống thuốc chống hen trước khi đi ngủ sẽ giúp đề phòng và giảm nhẹ cơn hen xảy ra.
Theo BS Hoàng Xuân Đại - Người lao động

Một số loại thuốc không nên dùng khi có kinh nguyệt

Một trong những "đặc trưng" của người phụ nữ, khác hẳn với nam giới là có những ngày "đèn đỏ". Đây là những ngày đặc biệt và vô cùng quan trọng của người phụ nữ vì nó có thể gây ra những thay đổi không nhỏ trong cơ thể họ. 

Vào những ngày này, sự thay đổi về nội tiết có thể khiến cho người phụ nữ nhạy cảm hơn, dễ mắc bệnh và thay đổi tâm trạng. Vì vậy, khi có "đèn đỏ", chị em cần hết sức lưu ý để bảo vệ sức khỏe của mình. Một trong những việc chị em cần làm là lưu ý khi sử dụng bất kì loại thuốc nào.

Một số loại thuốc không được khuyến khích sử dụng khi chị em đang trong những ngày "đèn đỏ", vì nó có thể ảnh hưởng đến lưu lượng kinh nguyệt nội tiết, cơ quan sinh sản... Bất kì chị em nào cũng cần nắm được điều này để bảo vệ sức khỏe của mình tốt hơn.

Những loại thuốc bạn nên tránh dùng khi đến kì kinh nguyệt bao gồm:

- Thuốc trị viêm nhiễm phụ khoa: Trong thời kỳ kinh nguyệt, niêm mạc tử cung bị bong ra ngoài, cổ tử cung giãn ra, môi trường âm đạo cũng ẩm ướt tạo điều kiện tốt cho vi khuẩn phát triển. Nếu sử dụng các loại thuốc chống nhiễm khuẩn, nấm “vùng kín” sẽ dẫn đến khả năng khoang tử cung bị vi khuẩn xâm lấn ngược lên trên do cổ tử cung đã bị giãn ra.

- Thuốc nội tiết: Trong những ngày có “đèn đỏ”, nội tiết trong cơ thể người phụ nữ không được ổn định, nếu dùng thêm các loại thuốc nội tiết sẽ có thể dẫn đến rối loạn kinh nguyệt và ảnh hưởng sức khỏe.

- Thuốc chống đông máu: Nếu dùng thuốc này có thể gây ra hiện tượng rong kinh, thậm chí chảy máu nặng hơn trong kỳ kinh nguyệt.

- Thuốc chống thèm ăn, thuốc giảm béo: Các loại thuốc này chứa thành phần ức chế sự thèm ăn, nếu dùng trong chu kì kinh nguyệt có thể dẫn tới rối loạn kinh nguyệt, tiểu khó, hay đánh trống ngực, lo âu và có thể dẫn tới vô kinh.

- Thuốc cầm máu: Thuốc cầm máu như vitamin K… có thể làm giảm tính thấm của mao mạch, gây co thắt các mao mạch để thúc đẩy việc tống máu ra ngoài dẫn đến ứ huyết. 

Khi bị dị ứng thức ăn, dùng thuốc gì?

Trên thị trường, thực phẩm chế biến sẵn được bày bán rất nhiều, phục vụ nhiều tầng lớp người tiêu dùng trong xã hội như: bánh mứt, thịt - cá, bánh chưng, giò chả… đây là những thức ăn thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi và phát triển, nên dễ xảy ra dị ứng thực phẩm và ngày có xu hướng tăng cao, đặc biệt là người già và trẻ em.
Dị ứng thực phẩm là tình trạng cơ thể không thích ứng với thức ăn hay nước uống khi vào cơ thể, bằng cách chống lại một chất mà cơ thể không dung nạp gọi là kháng nguyên hay còn gọi là histamin, qua hệ thống kháng thể của cơ thể gọi là globulin E (lgE) để chống lại những tác nhân gây ra dị ứng.
Về nguyên nhân, gây dị ứng thức ăn thường gặp nhất được các nhà y học ghi nhận, đó là ở thức ăn động vật có đạm cao như: tôm, cua, bò gà, vịt xiêm, baba, ngỗng, cá biển như: cá ngừ, cá thu, trứng…
Về triệu chứng, thường gặp nhất của dị ứng thực phẩm là do histamin phóng thích ở da làm cho các mao mạch máu bị giãn ra, huyết tương thoát ra tạo thành mảng đỏ, còn gọi là phát ban, thường kèm theo rất ngứa, xuất hiện theo từng mảng hoặc thành vùng rộng trên cơ thể. Nếu nhẹ thì các triệu chứng sẽ thoáng qua và tự khỏi. 
Nếu nặng hơn thường kèm theo đỏ da nhiều hơn, sưng phù quanh mắt, mũi, môi- miệng, có thể xuất hiện mụn nước hay bóng nước ở vùng niêm mạc như: miệng, cơ quan sinh dục, quanh mi mắt dưới; có thể có hắt hơi, chảy nước mũi, nặng ngực, khó thở, lên cơn suyễn, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn ói; nhức đầu, mệt mỏi. Trường hợp dị ứng nặng có thể gây tử vong.
Về xử trí, trước một bệnh nhân hay một em bé hay người già có biểu hiện dị ứng thức ăn, thì nhanh chóng dừng ngay thức ăn đó, sau đó dùng ngay thuốc kháng histamin. Nếu trẻ em trên 12 tuổi và người lớn thì uống 1 viên loratadine 10mg, với tên thường mại là Clarityne hay 1 viên Cetirizine 10mg, thuốc này gây buồn ngủ nên không sử dụng khi lái xe hay lao động có tính chất nguy hiểm. 
Đối với trẻ em có thể dùng Aerius sirô, uống 2ml lần duy nhất trong ngày, hoặc Chlorpheniramine 4mg, tăng cường uống nhiều nước, uống vitamin C để cơ thể nhanh chóng đào thải chất gây dị ứng ra ngoài. Trường hợp chưa đỡ, nặng hơn như khó thở, xuất hiện mụn nước hay bóng nước thì nhanh chóng nhập viện để điều trị.
Khi bị dị ứng thức ăn, dùng thuốc gì?
Về phòng bệnh, trước hết mỗi người cần có ý thức giữ gìn vệ sinh trong ăn uống. Trong chế biến cũng như trong chọn lựa thực phẩm, chú ý chất lượng cũng như hạn dùng. Tuyệt đối không ăn những thức ăn lạ. 
Nếu có dùng thì nên ăn ít, khi phát hiện dị ứng thực phẩm đã dùng thì tuyệt đối không dùng lại, trong một thời gian dài. Nếu muốn dùng lại thì nên dùng có tính chất thăm dò từ ít rồi tăng dần, nếu dị ứng trở lại tuyệt đối không nữa.

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Thận trọng khi dùng thuốc cho trẻ em

Trẻ em là đối tượng nhạy cảm rất dễ có nguy cơ mắc nhiều loại bệnh khác nhau. Khi bị mắc bệnh, phụ huynh không được tự ý tùy tiện mua và sử dụng thuốc điều trị mà phải đưa trẻ đi khám để thầy thuốc kê đơn, tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc một cách an toàn, hợp lý vì trẻ có những đặc điểm cần lưu ý nếu phải dùng thuốc.
Các nhà khoa học khuyến cáo trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ, vì trẻ có những đặc điểm cần lưu ý khi sử dụng thuốc điều trị. Thực tế liều thuốc dùng cho trẻ em khác hẳn với liều thuốc dùng cho người lớn, do đó tuyệt đối không được dùng liều thuốc người lớn rồi tùy tiện suy diễn tính ra liều thuốc đối với trẻ em; đặc biệt là trẻ sơ sinh, trẻ sinh thiếu tháng, trẻ đang còn bú sữa mẹ. 
Theo quy định, có những loại thuốc được chỉ định sử dụng dành cho người lớn nhưng lại cấm dùng đối với trẻ em như: thuốc kháng sinh chloramphenicol, tetracyclin; các chế phẩm từ thuốc phiện, nội tiết tố sinh dục, thuốc amphetamin... 
Do đó, phụ huynh cần giám sát chặt chẽ, không được cho trẻ tự ý dùng thuốc và phải để thuốc ở vị trí kín đáo, ngoài tầm tay với đến của trẻ nhằm bảo đảm sự an toàn. Trẻ em có các đặc điểm về sự hấp thu thuốc, phân phối thuốc trong cơ thể; có hàng rào máu-não chưa hoàn chỉnh, có sự chuyển hóa thuốc và thải trừ thuốc qua thận khác biệt so với người lớn.
Hấp thu thuốc ở trẻ em
Trẻ em có đặc điểm niêm mạc dà dày chưa phát triển đầy đủ nên thiếu chất axít chlorhydric trong dịch vị, độ acid của dạ dày chỉ đạt đến mức của người lớn khi trẻ đủ 20 - 30 tháng tuổi. Thời gian tháo sạch của dạ dày trẻ thường kéo dài và không đều, chỉ đạt mức độ như người lớn khi trẻ được 6 - 8 tháng tuổi. 
Đồng thời, nhu động ruột của trẻ hoạt động thất thường cùng với niêm mạc ruột chưa trưởng thành, chức năng mật chưa phát triển đầy đủ... nên việc hấp thu thuốc ở hệ tiêu hóa của trẻ sơ sinh và trẻ đang bú sữa mẹ còn rất kém và có sự sai lạc đối với các loại thuốc phenobarbital, paracetamol, phenytoin, carbamazepin, rifampicin...
Nếu đặt thuốc đạn vào trực tràng, thuốc được hấp thu rất mạnh và nhanh chóng đạt nồng độ cao ở trong máu của trẻ nên dễ gây độc như đặt thuốc đạn có chứa theophylin có thể gây co giật hoặc thuốc đạn có chứa diazepam có thể đạt nồng độ thuốc cao ở trong máu giống như tiêm tĩnh mạch.
Phụ huynh không nên tự ý tùy tiện mua và sử dụng bất cứ một loại thuốc gì khi trẻ chưa được thầy thuốc khám bệnh, kê đơnPhụ huynh không nên tự ý tùy tiện mua và sử dụng bất cứ một loại thuốc gì khi trẻ chưa được thầy thuốc khám bệnh, kê đơn
Khi tiêm thuốc vào bắp thịt, lưu lượng máu ở cơ vân khi trẻ mới sinh còn kém, co bóp cơ vân hạn chế, có lượng nước nhiều trong khối cơ vân nên nhiều loại thuốc có sự hấp thu chậm và thất thường nếu tiêm bắp thịt các loại thuốc như: gentamycin, phenobarbital, diazepam...
Khi bôi thuốc ngoài da cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ tuổi, cần đặc biệt lưu ý vì da trẻ bị hydrat hóa mạnh, lớp sừng ở da mỏng, hàng rào biểu mô chưa trưởng thành nên việc bôi thuốc dễ gây ra tình trạng kích ứng hay dị ứng; có khi gây độc toàn thân nếu bôi các loại thuốc dạng bào chế dùng ngoài da có chứa axít boric, hexaclorophen, salicylat, neomycin, benzyl benzoat, xanh methylen, thuốc đỏ... 
Việc lạm dụng các loại thuốc bôi ngoài da có chứa chất iod như: rượu iod, povidon iod... cho trẻ để sát khuẩn, chống nấm cũng có thể gây ngộ độc chất iod và làm cho trẻ có một số biến chứng khác như bị bướu cổ kèm theo giảm khả năng hoạt động của tuyến giáp trạng. Dùng chất tinh dầu long não bôi ngoài da cho trẻ có thể kích thích thần kinh, gây co giật. 
Sử dụng tinh cầu có chứa chất pinen, eucalyptol, thymol, menthol, gaiacol... bôi qua da cũng có khả năng hấp thu vào trong cơ thể trẻ và gây độc. Nếu bôi thuốc, tinh dầu kèm theo xoa bóp mạnh có thể làm tăng nhiệt độ của da, tăng tốc độ hấp thu của thuốc, tinh dầu và có thể gây độc toàn thân như trường hợp xoa xóp rượu ethylic, rượu thuốc, methyl salicylat, thuốc chống viêm giảm đau, thuốc mỡ corticoid... Cần lưu ý tuyệt đối không được dùng băng dính chứa thuốc để dán cho trẻ nhỏ hoặc bôi thuốc rồi băng chặt lại nếu dùng thuốc corticoid, thuốc giảm đau chống viêm không steroid.
Phân phối thuốc trong cơ thể trẻ
Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, thuốc sử dụng thường gắn kém vào protein của huyết tương vì hàm lượng albumin của huyết tương giảm cộng thêm với albumin thai nhi có chất lượng yếu nên chưa gắn được thuốc. Đồng thời hàm lượng chất bilirubin tự do và chất béo tự do trong máu tăng cao sẽ chiếm chỗ gắn của thuốc vào protein của huyết tương. 
Vì vậy, đối với các loại thuốc không gắn mạnh vào protein của huyết tương thì dạng thuốc tự do không gắn được của thuốc sẽ tăng lên và phân phối càng nhiều vào mô tế bào, kéo theo đó làm tăng tác dụng độc tính khi sử dụng thuốc digoxin, salicylat, phenytoin, theophylin, phenobarbital...
Hàng rào máu - não ở trẻ em
Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, hàng rào máu - não chưa phát triển đầy đủ nên lưu lượng máu đến não ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thường cao hơn người lớn. Do đó nên thuốc dễ ngấm vào hệ thần kinh trung ương nhanh hơn, nhiều hơn ở người lớn dẫn đến tác dụng và độc tính của thuốc trên hệ thần kinh trung ương sẽ tăng lên khi sử dụng các loại thuốc ngủ, an thần, chế phẩm có chất thuốc phiện...
Chuyển hóa thuốc ở trẻ em
Thực tế gan của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ chưa phát triển đầy đủ và trưởng thành nên nhiều loại thuốc khi sử dụng khó chuyển hóa được ở gan; chất mẹ tích tụ lại, không thải trừ được và sẽ gây độc nếu sử dụng các loại thuốc như: diazepam, phenobarbital, paracetamol, theophylin, tolbutamid, chloramphenicol...
Thải trừ thuốc qua thận ở trẻ em
Lúc trẻ mới sinh và trẻ nhỏ, chức năng thấm lọc của cầu thận và thải trừ thuốc sử dụng qua ống thận còn rất yếu; đồng thời lưu lượng máu qua thận cũng kém. Vì vậy đối với các loại thuốc thải qua thận sẽ kém được loại trừ, chúng có thể tích lũy lại trong cơ thể và gây độc. Vì vậy cần thận trong khi sử dụng các loại kháng sinh nhóm aminoglycosid, aspirin, sulfamid, penicillin, paracetamol, digoxin, phenobarbital, furosemid...
Khi trẻ em bị mắc bất kỳ một loại bệnh nào, đặc biệt là trẻ sơ sinh, trẻ sinh thiếu tháng, trẻ đang còn bú sữa mẹ và trẻ nhỏ, cần lưu ý đặc điểm cơ thể của trẻ rất dễ nhạy cảm và chưa hoàn chỉnh nên phải thận trọng khi sử dụng thuốc điều trị kể cả thuốc tây y lẫn thuốc y học cổ truyền, từ loại thuốc bôi ngoài da cho đến thuốc uống, thuốc tiêm... 
Vì vậy, phụ huynh không nên tự ý tùy tiện mua và sử dụng bất cứ một loại thuốc gì khi trẻ chưa được thầy thuốc khám bệnh, kê đơn, tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc một cách rõ ràng, cụ thể để bảo đảm sự an toàn cho trẻ.
Theo TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh - Sức khỏe và Đời sống
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons