Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Các yếu tố làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc

Theo thông tin trên Người lao động, bất kỳ loại thuốc gì dù đưa vào cơ thể bằng cách nào cũng phải trải qua 4 giai đoạn: hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ, trong đó, giai đoạn hấp thu có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới tác dụng chữa trị hoặc phòng bệnh của thuốc. 
Hấp thu thuốc sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Độ hòa tan của thuốc, pH tại vị trí hấp thu, nồng độ của thuốc….
Thời điểm uống thuốc
nhung-luu-y-khi-dung-thuoc
Uống thuốc vào lúc đói chỉ cần 10 - 30 phút là thuốc từ dạ dày xuống ruột, nhưng nếu uống vào lúc no, tốc độ di chuyển thuốc sẽ chậm, phải mất 1 - 4 giờ mới qua khỏi dạ dày. Vậy nếu uống thuốc khi ăn no, thuốc sẽ tồn lâu ở dạ dày, hậu quả tốt hay xấu còn tùy theo từng loại thuốc điều trị.
Một số thuốc cần uống sau khi ăn như nitrofurantoin (điều trị nhiễm khuẩn cấp hoặc mạn tính ở niệu đạo), griseofulvin (thuốc kháng sinh điều trị các loại nấm ngoài da), spironolacton (điều trị xơ gan cổ trướng, phù nề)... 
Khi uống sau bữa ăn, dịch dạ dày và thức ăn sẽ nhào nặn giúp các hạt thuốc trộn đều làm tăng độ ẩm và dễ hấp thu. Với các thuốc tan mạnh trong dầu mỡ như sulfamid, griseofulvin, phenytoin (trị động kinh và các cơn tâm thần vận động)... thì nên uống trong bữa ăn giàu chất béo. 
Phần lớn các thuốc kháng nấm ketoconazol nên uống trong bữa ăn để giảm bớt các hiện tượng không dung nạp đường tiêu hóa và cải thiện sự hấp thu, nhưng cần tránh uống rượu.
Các vitamin, nhất là nhóm hòa tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K thì nên uống trong bữa ăn hoặc ngay sau bữa ăn để dầu mỡ có trong thức ăn giúp vitamin dễ hòa tan, cơ thể hấp thu tốt.
Các thuốc chống viêm hạ nhiệt giảm đau không steroid: aspirin, ibuprofen, ketoprofen, diclofenac kèm với nguy cơ loét dạ dày, cần uống thuốc vào bữa ăn và không được uống rượu.
Một số thuốc cần uống vào lúc đói: đó là các thuốc dễ bị ảnh hưởng bởi thức ăn, đặc biệt là các loại kháng sinh. Những thuốc có tác dụng phụ gây nôn do cơ chế trung ương như opiat, thuốc chống ung thư... thì cần phải uống xa bữa ăn.
Ngoài ra, còn một số thuốc không bị thức ăn làm ảnh hưởng đến hấp thu hoặc phá hỏng, có thể uống vào lúc nào cũng được. Ví dụ với các kháng sinh nhóm quinolon (norfloxacin, ofloxacin, ciprofloxacin...) có thể uống trong hoặc ngoài bữa ăn, sự hấp thu không bị ảnh hưởng.
Uống thuốc phải theo độ tuổi
Bên cạnh yếu tố ảnh hưởng bởi pH dạ dày, độ tuổi dùng thuốc cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hấp thu thuốc, nhất là khi dùng thuốc ở trẻ em. 
Mức độ bài tiết dịch vị và acid HCl ở trẻ em tính theo cân nặng thấp hơn rất nhiều so với người lớn, nhất là ở trẻ thiếu tháng và trẻ sơ sinh; mức độ này chỉ đạt được độ tương đương khi trẻ trên 2 tuổi; chính vì vậy, mức độ ion hóa thuốc ở dạ dày trẻ dưới 2 tuổi có sự khác biệt rất lớn so với người lớn. 
Khi đó, việc dùng các thuốc chịu ảnh hưởng bởi dịch vị và acid dạ dày ở trẻ em cần có chỉ dẫn đặc biệt, không được dùng cách tính như với người lớn.
Đối với người trưởng thành, thuốc chuyển hóa ở gan dưới ảnh hưởng của các enzym. Tuy nhiên, với trẻ dưới 1tuổi, nhất là trẻ sơ sinh, các hệ enzym chưa phát triển đầy đủ nên thuốc bị chuyển hóa chậm ở gan, do vậy, cần hết sức thận trọng khi dùng cho trẻ em dưới 1 tuổi các thuốc chuyển hóa theo đường glucuro liên hợp. 
Bên cạnh đó, khi trẻ hơn 1 tuổi (và thường đến khoảng 9 tuổi), tốc độ chuyển hóa thuốc lại lớn hơn ở người lớn, do vậy, một số thuốc như theophylin, carbamazepin khi tính liều mg/kg cân nặng phải dùng cao hơn ở người lớn.
Chuyển hóa thuốc ở gan bị giảm ở người cao tuổi
Sau khi được hấp thu vào máu, thuốc chủ yếu được gắn với protein huyết tương để đến cơ quan đích hoặc phân phối vào các mô mỡ. Quá trình này có sự ảnh hưởng khá rõ nét bởi lứa tuổi.
Ở người cao tuổi có sự giảm lượng nước toàn cơ thể, tăng khối mỡ, giảm khối cơ, do vậy làm giảm thiểu thể tích phân bố và tăng liên kết protein đối với các thuốc giảm đau ưa nước nói chung khu trú ở trong dịch kẽ. Như vậy sẽ làm tăng thể tích phân bố thuốc giảm đau tan trong lipid thuốc đi qua các màng sinh học dễ dàng hơn.
Ngoài ra, sự giảm thiểu nồng độ albumin trong huyết tương theo tuổi (giảm 15 - 20%) hoặc trong một số bệnh lý (như trong bệnh cấp tính, xơ gan, chấn thương, bỏng, suy kiệt, nhiễm khuẩn, hội chứng thận hư, giảm lượng máu, rối loạn dinh dưỡng...) có thể ảnh hưởng lớn đến các thuốc giảm đau vốn gắn mạnh vào albumin như aspirin, diflunisal, naproxen làm cho nồng độ thuốc tự do (không gắn) tăng vọt làm cho tác dụng và độc tính tăng theo. 
Như vậy, cầnthể. Chú ý khi phối hợp nhiều loại thuốc cùng cơ chế này dễ gặp tương tác bất lợi.giảm liều khởi đầu của những thuốc gắn mạnh vào protein huyết tương, sau đó tăng dần tùy theo đáp ứng của từng cá
Theo Sức khỏe gia đình

Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng và thuốc chữa

Khi thời tiết lạnh hoặc trở lạnh đột ngột là yếu tố hàng đầu khiến bệnh nhân dễ mắc phải viêm phổi. Ðặc biệt ở những người có cơ thể suy yếu, còi xương, người già, người nghiện rượu, bị chấn thương hoặc có bệnh lý khác phải nằm giường lâu ngày và những người có sẵn các bệnh mạn tính đường hô hấp như bệnh phổi tắc nghẹn mạn tính, giãn phế quản, bệnh tai mũi họng...
Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng là hiện tượng nhiễm khuẩn của nhu mô phổi xảy ra ở ngoài bệnh viện. Bệnh khá thường gặp, hầu hết các trường hợp được điều trị khỏi hoàn toàn, nhưng nếu điều trị chậm hoặc không đúng, bệnh có thể diễn biến nặng, gây áp-xe phổi, tràn mủ màng phổi hoặc thậm chí có thể tử vong.
Thông thường, bệnh khởi phát sau nhiễm lạnh hoặc cảm cúm, người bệnh đột ngột sốt cao 39 - 400C, đau ngực, khó thở, ho khan. Sau đó xuất hiện ho ra đờm, toàn thân mệt mỏi, hơi thở hôi, đau ngực...
Ở người già, các triệu chứng trên thường bị lu mờ, có khi không có sốt và ho không có đờm. Do vậy, chỉ với các triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, thở mạnh, hơi thở có mùi hôi... thì cần đưa đi chụp Xquang phổi để xác định bệnh và được điều trị kịp thời.
Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng và thuốc chữaHình ảnh phổi viêm và phổi bình thường
Dùng thuốc gì?
Nguyên tắc điều trị chung là phải xác định chủng vi khuẩn, virut hay nấm gây ra bệnh để lựa chọn thuốc điều trị cho đúng. Căn cứ vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc điều trị.
Ban đầu, nếu chưa có kết quả xét nghiệm tìm nguyên nhân gây bệnh, việc chọn thuốc thường theo kinh nghiệm lâm sàng của bác sĩ, kết hợp với yếu tố dịch tễ tại địa phương bệnh nhân cư trú cùng mức độ nặng, nhẹ của bệnh, tuổi bệnh nhân, các bệnh kèm theo, các tương tác, tác dụng phụ của thuốc.
Trong điều trị bệnh phổi do vi khuẩn, thời gian dùng kháng sinh thường phải từ 7 - 14 ngày tùy theo tác nhân gây bệnh. Kháng sinh thường được sử dụng là penicillin. Thuốc hấp thu nhanh nhưng không hoàn toàn qua đường tiêu hóa và được hấp thu nhiều hơn khi uống lúc đói. 
Riêng đối với penicilin G bị dịch vị phá hủy nên không uống được, chỉ dùng đường tiêm. Còn với penicillin V không bị dịch vị phá hủy, nên dùng được ở đường uống. 
Tuy nhiên, khi uống thuốc người bệnh có thể bị phát ban, tiêu chảy (đây là một trong những tác dụng phụ của thuốc này gây ra). Nếu một người đã bị dị ứng với penicillin thì không được dùng bất kỳ chế phẩm thuốc nào trong nhóm này. 
Ngoài những biểu hiện dị ứng chung, thuốc còn gây hồng ban biến đổi hoặc vẩy nến, có thể xuất hiện sớm sau 2 - 4 ngày uống thuốc, nhưng cũng có thể xuất hiện muộn sau 9 - 10 ngày. Do vậy, các bệnh nhân bị các bệnh tự miễn không nên sử dụng…
Trong trường hợp đã xác định viêm phổi do virut, nấm hoặc ký sinh trùng, bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị đặc hiệu cho từng trường hợp. Có thể cân nhắc sử dụng phối hợp kháng sinh tùy theo tình trạng cụ thể của bệnh nhân.
Điều trị triệu chứng bằng các thuốc giảm đau hạ sốt, bồi phụ nước điện giải, giảm ho, long đờm, kết hợp vỗ rung, dẫn lưu đờm…
Thông thường, bệnh nhân viêm phổi được điều trị ngoại trú nếu không có các dấu hiệu nặng của bệnh. 
Điều trị tại bệnh viện khi bệnh nhân có một trong các dấu hiệu: thở nhanh, tím môi, đầu ngón chân, ngón tay; mạch nhanh; rối loạn ý thức: lú lẫn, nói lảm nhảm, la hét, co giật; sốt cao trên 400C hoặc nhiệt độ cơ thể hạ quá thấp.
Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng và thuốc chữaĐi khám khi có dấu hiệu nghi ngờ viêm phổi để được điều trị sớm
Dự phòng bệnh là cách tốt nhất
Dự phòng bệnh viêm phổi bằng cách giữ gìn sức khỏe, luôn giữ ấm trong thời tiết lạnh. Với người già và trẻ em, trong những ngày lạnh không nên ra ngoài trời nhiều, giữ sạch nơi ở, không hút thuốc; Nên đeo khẩu trang, súc họng bằng nước muối để phòng các bệnh mũi họng. 
Nếu không may bị viêm đường hô hấp trên, cần điều trị tích cực để phòng lan xuống phế quản - phổi. Ăn đầy đủ các chất đạm, vitamin, chất khoáng để tăng cường sức đề kháng. Có chế độ lao động, nghỉ ngơi, rèn luyện thể dục hợp lý, tránh lạnh đột ngột. 
Cần phải đi khám bệnh ngay nếu thấy các dấu hiệu hoặc nghi ngờ bị viêm phổi để được chẩn đoán và điều trị ngay từ sớm… Ngoài ra, tiêm vaccin là một trong những biện pháp dự phòng viêm phổi có hiệu quả nhất.
Theo PGS.TS Nguyễn Tiến - Sức khỏe và Đời sống

Lưu ý khi dùng selen sulfide bôi ngoài da

Selen sulfid là thuốc có tác dụng chống tăng sinh trên các tế bào biểu bì và các biểu mô nang lông, do đó làm giảm sinh sản tế bào sừng. Thuốc cũng có hoạt tính kháng khuẩn và chống nấm yếu trên một số loại nấm da như là nấm Pityrosporum orbiculare gây lang ben. 
Các chế phẩm selen sulfid được dùng bôi tại chỗ để chống tiết bã nhờn và chống nấm dùng điều trị trong các trường hợp như lang ben, viêm da dầu ở da đầu và điều trị gàu.
Sau khi dùng tại chỗ, selen sulfid chỉ được hấp thu dưới dạng vết qua da lành, nhưng nếu dùng lâu trên da bị xây xước, trên màng niêm mạc, trên da bị viêm hoặc dùng trên diện tích rộng, sự hấp thu vào cơ thể tăng lên và có thể gây độc.
Vì vậy, không dùng thuốc vào chỗ da bị xây xước hoặc vào các vùng bị viêm cấp tính hoặc có xuất tiết, không dùng thuốc hai ngày trước và sau khi nhuộm tóc hoặc uốn tóc. Gàu thường là hậu quả của nấm da do Pityrosporum ovale. Do đó nếu thuốc không đạt hiệu quả, nên thử dùng thuốc chống nấm tại chỗ như ketoconazol.
Hiện thuốc có dạng lọ hoặc ống tuýp, dạng hỗn dịch, kem hoặc thuốc gội đầu. Để điều trị lang ben, bôi thuốc vào vùng lang ben và xoa với một ít nước. Để 10 phút, sau đó rửa sạch. Tiến hành như trên, mỗi ngày một lần trong 7 ngày. 
Điều trị viêm da dầu nhờn và gàu ở da đầu, xoa khoảng 5 - 10ml chế phẩm vào da đầu đã làm ẩm. Để 2 - 3 phút. Gội đầu thật sạch. Lại xoa thuốc rồi lại gội thật sạch. Sau khi điều trị, rửa tay thật sạch. Tiếp tục điều trị như trên theo hướng dẫn của thầy thuốc.
Thường dùng 2 lần mỗi tuần, trong 2 tuần sẽ khống chế được bệnh. Sau đó có thể dùng thuốc thưa hơn, cụ thể là mỗi tuần 1 lần hoặc 2 tuần 1 lần hoặc trong một số trường hợp cứ 3 tuần hoặc 4 tuần 1 lần, không nên dùng số lần quá mức độ cần thiết.
Thuốc chỉ được dùng ngoài da và cần lắc kỹ trước khi dùng. Không dùng thuốc cho trẻ em dưới 5 tuổi, bệnh nhân bị dị ứng với một trong các thành phần của chế phẩm. Trường hợp gặp dị ứng với thuốc cần phải ngừng ngay thuốc.
Theo DS Nguyễn Thị An - Sức khỏe và Đời sống

Thuốc giảm đau dễ gây rối loạn cương dương

Các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu sức khỏe Kaiser Permanente và trường đại học Sức khỏe & Khoa học Oregon (Mỹ), đã tiến hành nghiên cứu với 11.000 người đàn ông mắc bênh đau lưng. Họ phát hiện thấy rằng việc thường xuyên uống thuốc giảm đau nhóm opioid, bao gồm codeine làm tăng nguy cơ mắc ED ở đàn ông.
Thuốc giảm đau điều trị bệnh đau lưng làm tăng nguy cơ mắc ED ở đàn ông
Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy 19% đàn ông, uống thuốc giảm đau nhóm opioid với liều cao trong ít nhất 4 tháng, phát triển ED. Trong khi đó, chỉ có 7% đàn ông không sử thuốc giảm đau nhóm opioid mắc ED.
Do đó, những người thường xuyên sử dụng thuộc giảm đau nhóm opioid có nguy cơ phát triển ED cao gấp 50% so với những người không sử dụng thuốc. Các loại thuốc giảm đau phố biển nhất của nhóm opioid là hydrocodone, oxycodone và morphine.
Hơn 12% đàn ông sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid liều thấp (dưới 120 mg) bị mắc ED. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng nhưng người đàn ông trên 60 tuổi có nguy cơ mắc ED cao hơn những người trẻ tuổi.
"Đàn ông được điều trị bằng thuốc giảm đau nhóm opioid trong thời gian dài có nguy cơ mắc ED rất cao", GS Richard Deyo, tác giả của nghiên cứu, cho biết. "Điều này không có nghĩa thuốc giảm đau gây ra ED, nhưng có liên quan."
GS Richard Deyo cho biết ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid trong thời gian dài có thể dẫn tới nghiện, tử vong do quá liều, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng sản sinh hóc môn và ED.
Theo Hà Hương - VietNamNe

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Loét thực quản do thuốc

Nên uống thuốc ở tư thế đứng hoặc ngồi thẳng để phòng tránh loét thực quản - Ảnh: N.C.T.
Bà Huỳnh Xuân T., 43 tuổi, đến khám tại BV Đại học Y dược TPHCM một ngày cuối tháng 6. Bốn ngày trước bà T. đi khám phụ khoa và uống liều thuốc điều trị đầu tiên với khá ít nước. Ngay trong ngày hôm đó, bà bắt đầu có cảm giác đau rát âm ỉ liên tục ở vùng ngực sau xương ức và vùng bụng trên rốn; đặc biệt là khi ăn uống. 

Nội soi tiêu hóa tại bệnh viện phát hiện có một vết loét đường kính 15mm ở thực quản (đoạn ống tiêu hóa nối từ miệng đến dạ dày). Đây là bệnh cảnh loét thực quản cấp tính do thuốc khá điển hình và thường gặp tại các bệnh viện.

Những sai lầm... dễ tránh

Một yếu tố khá quan trọng khi uống thuốc nhưng lại ít được đề cập và quan tâm đúng mức là cần phải uống thuốc đúng cách. Ngoài vấn đề thường được dặn dò như cách sử dụng thuốc trong ngày (số lần, liều dùng, nên uống trước hoặc sau ăn...) thì hầu như người bệnh có rất ít thông tin về việc nên uống thuốc thế nào để tránh tác động xấu của thuốc lên thực quản.

Khi uống thuốc nhưng uống ít nước, uống thuốc ở tư thế nằm hoặc nằm ngay sau khi uống thuốc, thuốc có thể chưa xuống đến dạ dày và lưu lại ở thực quản.

Đặc biệt đối với các viên thuốc được bào chế dưới dạng viên nang (con nhộng), lớp vỏ thuốc sẽ bị mềm rất nhanh khi gặp môi trường ẩm và dễ bám dính trên thành thực quản khi uống ít nước. 

Nồng độ thuốc tại chỗ quá cao sẽ gây ra độc tính trực tiếp trên thành thực quản, hoặc một số thuốc khi tan rã sẽ tạo ra những chất có tính kiềm hoặc acid làm bỏng thành thực quản và có thể tạo ra ổ loét lớn với đường kính lên đến 30mm hoặc đồng thời nhiều ổ loét.

Nhiều người bệnh khi đến với chúng tôi kể lại rằng do không biết tác hại của vấn đề này nên có khi nuốt nguyên cả viên thuốc mà không kèm nước, hoặc buổi tối khi đã lên giường đi ngủ sực nhớ bỏ quên cữ thuốc chiều nên vội vã uống thuốc ở tư thế nằm, hoặc uống thuốc xong là lên giường nằm nghỉ ngay.

Loét thực quản do thuốc hay gặp ở người có tuổi do đặc điểm sinh lý theo tuổi thì chức năng co bóp nhu động của thực quản để đẩy thuốc xuống dạ dày thường kém hơn so với người trẻ, và do người có tuổi thường có thói quen nằm để uống thuốc hoặc uống xong là nằm nghỉ ngay. 

Bệnh cũng gặp ở nữ nhiều hơn nam giới do các thuốc dễ gây loét thực quản thường được sử dụng trong điều trị bệnh lý da liễu và phụ khoa.

Dấu hiệu tổn thương

Triệu chứng thường gặp nhất của viêm loét thực quản do thuốc thường là đau sau xương ức có thể lan ra sau lưng, tăng lên khi bệnh nhân hít sâu hoặc khi ăn uống, đôi khi kèm theo triệu chứng nuốt khó, nuốt đau... 

Tuy nhiên có trường hợp chỉ biểu hiện bằng đau vùng bụng trên rốn và nóng rát sau xương ức, tương tự bệnh trào ngược dạ dày thực quản hoặc viêm loét dạ dày tá tràng.

Trên thực tế loét thực quản do thuốc không hiếm gặp nhưng thường ít được nghĩ đến vì triệu chứng đau ngực làm người bệnh lo lắng và nghĩ đến bệnh tim phổi hơn là bệnh lý của đoạn ống tiêu hóa ít được nghe nhắc đến này. Nhưng nhiều người bệnh chỉ nghĩ đơn giản đây là tác dụng phụ tất yếu của thuốc trên dạ dày và chấp nhận nó trong khi đây hoàn toàn là một tình trạng bệnh có thể phòng tránh.

Một số trường hợp khác, người bệnh đã quen sử dụng một loại thuốc trong thời gian dài nhưng hoàn toàn không có triệu chứng, do đó sau lần uống thuốc không đúng cách và bị loét thực quản do thuốc thì bệnh nhân không nghĩ đến nguyên nhân là loét thực quản do thuốc, mà nghĩ nhiều đến khả năng bị viêm loét dạ dày tá tràng mới xuất hiện gần đây. Có nhiều loại thuốc có thể gây viêm loét thực quản.

Tuy nhiên, thường gặp nhất vẫn là nhóm thuốc kháng sinh Doxycycline (được dùng tương đối phổ biến trong điều trị mụn trứng cá và viêm nhiễm phụ khoa), các thuốc kháng viêm giảm đau, thuốc điều trị loãng xương nhóm Biphosphonate... thậm chí nhóm thuốc giảm đau hạ sốt tương đối lành tính nhất là Paracetamol cũng đã có những báo cáo trong y văn ở châu Á là có thể gây ra viêm loét thực quản.

Điều may mắn là đa số trường hợp loét thực quản do thuốc đều có thể chữa lành và ít khi gây ra biến chứng nghiêm trọng.

Các biện pháp điều trị chủ yếu là tạm ngừng uống các thuốc gây loét thực quản, điều trị hỗ trợ bằng các thuốc chống trào ngược acid dạ dày, bù nước điện giải và giảm triệu chứng đau tại chỗ bằng thuốc tê lidocain dạng gel hoặc sucrafate. 

Phần lớn tổn thương sẽ lành sau 2 - 4 tuần điều trị. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là bệnh hoàn toàn có thể phòng tránh một cách hữu hiệu khi chúng ta đã có được những nhận thức về nó và bằng những biện pháp hết sức đơn giản.

Dùng thuốc ngủ cho trẻ dễ dẫn tới nguy cơ tai biến

Việc lạm dụng thuốc ngủ cho trẻ sẽ gây lệ thuộc thuốc và làm chứng rối loạn giấc ngủ trở nên trầm trọng hơn. Đó là chưa kể việc dùng thuốc không đúng có thể gây các tai biến nguy hiểm đến tính mạng.

Theo bác sĩ Nguyễn Quang Vinh, phụ trách chuyên khoa thần kinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho biết, thuốc gây ngủ có nhiều loại. Loại thứ nhất là thuốc dùng vào mục đích điều trị bệnh có tác dụng phụ gây ngủ. Thứ hai là thuốc thật sự để điều trị mất ngủ. Thứ ba là thuốc tâm thần, thần kinh dùng để điều trị bệnh nhân tâm thần (bắt buộc phải cho ngủ thì mới hết bệnh). Trẻ em chỉ có thể dùng nhóm đầu tiên để ngủ nhiều hơn, bớt hoạt động, dễ lên cân và đỡ quấy khóc.

Việc dùng thuốc 2 nhóm sau rất nguy hiểm. Chúng là các loại thuốc hướng thần, gây nghiện được ngành y tế quản lý rất chặt chẽ và khi mua bắt buộc phải có đơn.
Loại thuốc dùng vào mục đích điều trị nhưng có tác dụng phụ gây ngủ thường dùng thuộc nhóm antihistamine. Thông thường những thuốc này dùng để điều trị những bệnh liên quan đến dị ứng như nổi mề đay, ngứa, sổ mũi, ho khan theo thời tiết. Một số thuốc thường được dùng cho trẻ là Théralène, Chlorpheniram, Peritol… (thường là dạng xirô).

Ngoài ra, còn có các thuốc điều trị bệnh tâm thần, thần kinh mà gây ngủ như thuốc chống động kinh (Gardenal), thuốc chống loạn thần như Aminazin, thuốc an thần như Seduxen (thuốc này mục đích điều trị là để cho êm dịu, đỡ căng thẳng thần kinh nhưng vì giúp ngủ ngon nên bị lạm dụng làm thuốc ngủ), thuốc điều trị mất ngủ như Meprobamate…
Bác sĩ khuyên không dùng thuốc ngủ cho trẻ khi không có bệnh, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ. Việc lạm dụng sẽ gây nhờn thuốc (mất hiệu quả điều trị) hoặc lệ thuộc thuốc (không dùng thì không ngủ được). Mặt khác, việc tùy tiện dùng thuốc ngủ sẽ khiến trẻ ngủ ngày nhiều, đêm không ngủ nữa, và chứng rối loạn giấc ngủ càng nặng thêm.

Do đó, cần đặc biệt lưu ý không dùng thuốc cho trẻ khi không có bệnh. Và chỉ khi có chỉ định điều trị của bác sĩ thì mới được dùng thuốc cho trẻ, ngay cả thuốc bổ cũng vậy.
Nguyên nhân có thẻ gây mất ngủ ở trẻ

Khi ngủ bị giật mình chắc chắn là do tâm thần bất định, ban ngày nhiều người nói to, cười đùa... 

Trong khi ngủ não của tất cả mọi người đều xử lý, sắp xếp lại các thông tin nhận được ban ngày nên lúc đó nhiều thông tin không xử lý được sẽ làm não cần nhiều thời gian và năng lượng hơn, cơ thể bé không đủ sẽ dẫn đến bất an.

Ngoài ra, một số cơ quan khác phải hoạt động mạnh trong thời gian này sẽ chiếm hệ tuần hoàn của bé khiến não cũng không hoạt động đầy đủ. 

Đây là lý do giải thích tại sao không nên cho ăn no trước khi đi ngủ (kể cả người lớn). Ngoài ra, đó là chưa nói đến các lý do tạo ra bởi môi trường ngủ như âm thanh, ánh sáng, thời gian, khói thuốc lá...

Cách khắc phục tình trạng mất ngủ của trẻ

Khi nhà có em bé thì các thành viên trong môi trường chung sống phải hết sức giữ gìn, không nói to, nô đùa. 

Người trực tiếp chăm nuôi bé (có thể không phải chỉ có mẹ) luôn phải tự nghiêm khắc với mình, tuân thủ các quy tắc dinh dưỡng vì đứa bé (ăn uống đúng giờ, đủ chất, kiêng cữ cẩn thận) hạn chế tuyệt đối các tác nhân kích thích (bố không được hút thuốc lá trong phòng, mẹ không "làm vài ly" trước khi cho con bú)...

Phụ huynh nên lưu ý, không cho bé ăn quá no các thức ăn chính trước khi đi ngủ. Trước khi ngủ nên lau người cho bé thật sạch sẽ bằng nước ấm (kích thích tuần hoàn bằng nhiệt độ, sự thoải mái và các động tác tương tự massage...) nhưng tuyệt đối không tắm.

Đối với phòng ngủ của bé, tuyệt đối yên tĩnh và hạn chế ánh sáng. Nếu dùng các thiết bị điều chỉnh điều kiện không khí (quạt, máy lạnh...) thì luôn phải đảm bảo các yếu tố cần cho sức khỏe (độ ẩm, độ điện âm, mức lưu thông không khí...). 

Đặc biệt, đối với trẻ sơ sinh không nên dùng bất cứ loại thuốc nào và đặc biệt là các thuốc an thần nếu chưa có chỉ định của bác sĩ.


Theo VnMedia

Thuốc chữa đau bụng kinh

Thuốc trị đau bụng kinh gồm có các loại nào? Cách sử dụng thuốc trị đau bụng kinh ra sao? Các tác dụng phụ của thuốc khi sử dụng như thế nào? Mời bạn tham khảo bài viết dưới đây.

Thuốc chữa đau bụng kinh
Đau bụng kinh là một hiện tượng thường gặp ở phụ nữ khi đến chu kỳ hành kinh. Hiện tượng này có thể xuất hiện trước hoặc trong ngày hành kinh. Tùy theo cơ địa của từng người mà có người đau nhẹ, có người lại đau nặng, thậm chí là đau dữ dội, tụt huyết áp, mệt mỏi, buồn nôn, tiêu chảy... Để giảm những cơn đau bụng kinh nhanh một số chị em đã dùng các loại thuốc giảm đau. Vậy những loại thuốc này có ưu và nhược điểm ra sao?

Các loại thuốc chữa trị đau bụng kinh nguyệt

Cataflam

Đây là muối natri của diclofena, không chứa steroid. Thuốc được dùng để giảm đau chung kể cả đau bụng kinh nguyên phát... Đây là dạng thuốc viên nén uống.
Liều dùng: Liều hàng ngày nên điều chỉnh theo từng người và thường từ 50 - 150 mg. Nên dùng liều khởi đầu là 50 - 100 mg và nếu cần có thể tăng trong một vài trường hợp lên đến 200 mg/ngày. Nên bắt đầu dùng ngay khi có xuất hiện triệu chứng đau bụng đầu tiên và tùy thuộc vào các triệu chứng sau đó mà có thể dùng tiếp hoặc không.
Lưu ý khi sử dụng Cataflam: Dùng cho người trên 16 tuổi. Tránh dùng Cataflam với các thuốc chống viêm không steroid khác (aspirin), thuốc chống đông máu (heparin, ticlopidin). Không được dùng cho người viêm loét dạ dày tá tràng tiến triển, người bị bệnh hen, người suy gan thận nặng, người có mẫn cảm với thuốc. Dùng với liều lượng cao và dài ngày thì có thể gây một số tác dụng phụ nhứ loét đường tiêu hóa, gia tăng men gan, làm giảm chức năng thận.

Mefenamic acid

Đây là thuốc giảm đau không steroid. Một số chị em phụ nữ thường dùng khi bị đau bụng hành kinh. Tuy nhiên không được dùng thuốc này kéo dài hơn 7 ngày.
Liều dùng: 1,5g/ngày, chia làm 3 lần. Uống trong bữa ăn.
Lưu ý khi dùng thuốc Mefenamic acid: Dùng cho người trên 16 tuổi. Thuốc có thể gây tác dụng phụ như buồn ngủ, chóng mặt, rối loạn tiêu hóa, mẩn ngứa, giảm tiểu cầu. 
Thận trọng khi cơ thể mất nước, bị động kinh, không dùng cùng với thuốc chống đông (curamin), các thuốc giảm đau không steroid khác (như aspirin). Với người bị viêm loét dạ dày đang tiến triển, người bị hen, người có thai, người mẫn cảm với thành phần của thuốc tuyệt đối không được dùng.

Hyoscinum

Đây là loại thuốc chống co thắt có tác dụng gây giãn cơ. Cơ chế của thuốc là làm liệt giao cảm nên được dùng khi bị co đau co thắt trong đó có đau bụng hành kinh.
Lưu ý khi sử dụng Hyoscinum: Thuốc có tác dụng phụ là gây khô miệng, tim đập nhanh, bí tiểu tiện. Một số trường hợp bị dị ứng da nhẹ nhưng hiến gặp. Tuyệt đối không dùng cho người mắc bệnh glaucoma, rối loạn niệu đạo tiền liệt tuyến và người hẹp môn vị.

Alverine

Đây là thuốc dạng viên nén, có tác dụng là chống co thắt, có tác dụng hướng cơ. Cơ chế là làm hủy co thắt sinh ra do acetylcholine, được dùng giảm đau trong các trường hợp đau do co thắt trong đó có đau khi hành kinh.
Liều dùng: Dùng cho người lớn: 1 - 3 viên/ lần. Dùng 3 lần/ngày.
Lưu ý khi sử dụng Alverine: Không dùng thuốc này cho người huyết áp thấp.

Mofen 400mg

Mofen là loại thuốc chống viêm không có cấu trúc Steroid, vừa có tác dụng chống viêm, giảm đau và hạ sốt. Thường được dùng để giảm đau bụng kinh.
Liều dùng: Uống 1 – 2 viên ngay khi có triệu chứng đau bụng kinh. Tùy theo những mức độ đau và những triệu chứng có thể xuất hiện sau đó mà giả hoặc tăng liều dung. Nhưng tối đa là 3 -4 viên/ngày.
Lưu ý khi sử dụng mofen 400mg: Không dùng chung với thuốc chống đông máu và thuốc lợi tiểu. Người bị loét dạ dày, suy thận, gan, HA cao, có thai, lupus ban đỏ hệ thống.. cũng không được dùng. Thuốc dùng nhiều có thể gây suy giảm trí nhớ, nổi ngứa, mề đay, hen, rối loạn tiêu hóa, đau đầu, buồn nôn...

Lưu ý khí sử dụng các loại thuốc trị đau bụng kinh:

Trước khi sử dụng các loại thuốc giảm đau trên nên tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc dược sĩ chuyên khoa, có chuyên môn. Không nên tự ý mua và dùng thuốc, vì chúng đều có tác dụng phụ và dùng nhiều sẽ không có lợi cho sức khỏe.
Tất cả các loại thuốc giảm đau trên đều dùng cho trường hợp cần giảm đau nhanh với liều lượng thấp, riêng thuốc cataflam, mefenamic acid, mofen chỉ được dùng cho người trên 16 tuổi.

Lời khuyên từ các bác sĩ chuyên khoa:

Cơn đau khi hành kinh là cơn đau do tăng co thắt. Ba thuốc cataflam, mefenamin, mofen 400 là thuốc giảm đau chung, có nhiều tác dụng phụ, trong khi hai thuốc hyoscinum, alverin tác dụng có tính đặc hiệu làm giảm co thắt cơ, ít tác dụng phụ hơn. Thông thường nên dùng hyoscinum, alverin.
Theo Phongkhamphukhoa
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons