Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

Nguy cơ đau tim, đột quỵ khi dùng thuốc giảm đau

Paracetamol là thuốc giảm đau thông dụng nhất ở Anh và mỗi năm có 22,5 triệu toa thuốc được kê đơn và hơn 200 triệu gói trên các quầy.
Một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu người Anh đã cảnh báo việc dùng thuốc paracetamol hàng ngày có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ và tử vong sớm. Nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân sử dụng thuốc giảm đau với liều lượng cao trong thời gian dài có nguy cơ tử vong đột ngột lên tới 63%. Nguy có đau tim hay đột quỵ cao hơn 68%. Bên cạnh đó, nguy cơ mắc viêm loét hoặc chảy máu dạ dày là 50%.

Các bác sĩ cũng cho rằng paracetamol vẫn an toàn hơn thuốc trị đau đầu aspirin - loại thuốc có thể gây ra chảy máu dạ dày và loại thuốc giảm đau kháng viêm ibuprofen thường dùng trị chứng viêm khớp và thấp khớp - một trong những nguyên nhân dẫn tới đau tim, đột quỵ.
Một nghiên cứu năm 2013 của Oxford cảnh báo rằng cứ 1.000 bệnh nhân dùng thuốc ibuprofen hoặc thuốc tương tự sẽ có 3 người phải chịu một cơn đau tim trong vòng một năm, và một trong đó có nguy cơ tử vong.

Dễ bị nguy cơ đau tim, đột quỵ khi dùng thuốc giảm đau 1Paracetamol là thuốc giảm đau thông dụng nhất ở Anh. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu người Anh tham gia nghiên cứu trên 660.000 bệnh nhân cho biết có lẽ người rta đã đánh giá thấp rủi ro và kêu gọi hãy xem xét lại mức độ an toàn của các loại thuốc. Họ cho rằng thuốcparacetamol có thể gây bệnh bằng cách ngăn cản hoạt động của các enzyme trong cơ thể, gọi là COX-2.

Các nhà khoa học từ Viện nghiên cứu thấp khớp và cơ xương khớp Leeds đã tiến hành 8 nghiên cứu có chứa thông tin về bệnh nhân dùng paracetamol hàng ngày kéo dài đến 14 năm nhằm điều trị các bệnh như viêm khớp hay đau lưng. Họ cũng nghiên cứu trên những bệnh nhân sử dụng ít hoặc không sử dụng thuốc.

Tuy nhiên, Philip Conaghan, người đứng đầu cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng với hầu hết các bệnh nhân, những rủi ro thường rất nhỏ và những người dùng thuốc trong khoảng thời gian dài thì có nguy cơ mắc các bệnh khiến họ qua đời sớm. Vì thế, việc xác định loại thuốc này có thực sự là nguyên nhân gây ra những vấn đề sức khỏe hay không vẫn chưa chắc chắn.

Dễ bị nguy cơ đau tim, đột quỵ khi dùng thuốc giảm đau 2Thuốc giảm đau có thể gây bệnh bằng cách ngăn cản hoạt động của các enzyme trong cơ thể dẫn tới đau tim, đột quỵ. Ảnh minh họa

Nhưng GS Philip Conaghan cũng cho biết thêm: "Tôi có chút lo lắng về liều lượng paracetamol cao trong các đơn thuốc sử dụng trong thời gian dài có thể gây ra các tác dụng phụ mà trước đó không liên quan". 

Ông cũng khuyến nghị những bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp hoặc đau cơ bắp, đau khớp xương được kê đơn thuốc trong thời gian dài nên nói chuyện với bác sĩ về phương pháp điều trị thay thế, chẳng hạn như tập thể dục.

Theo thống kê, cứ 1/6 nam giới và 1/10 nữ giới sẽ chết vì đau tim, đột quỵ và các biến chứng khác của bệnh tim. GS Nick Bateman, chuyên gia về độc chất học lâm sàng tại ĐH Edinburgh, cho biết: "Dựa trên nghiên cứu này, nguy cơ là tối thiểu. Paracetamol vẫn là thuốc giảm đau an toàn nhất, và nghiên cứu này không ngăn cản mọi người người dùng nó".


Theo Thùy Dung - Trí thức trẻ

Cẩn trọng với thuốc giảm đau khi trẻ mọc răng

Các bậc cha mẹ không nên sử dụng Benzocain để giảm đau khi trẻ mọc răng ngoại trừ trường hợp có sự chỉ định của các bác sĩ, Viện Kiểm nghiệm Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ cho biết.



Benzocain là chất có tác dụng gây tê cục bộ, thường được sử dụng để giảm đau được tìm thấy trong các sản phẩm như Anbesol, Orajel, BabyOrajel, Orabase.

Việc sử dụng Benzocain để làm giảm đau nướu và miệng có thể dẫn đến tình trạng hiếm gặp nhưng có khả năng gây chết người được gọi là methemoglobin, khi đó lượng oxy vận chuyển trong máu sẽ giảm đáng kể. Trẻ em dưới 2 tuổi có nguy cơ đặc biệt trong tình trạng này, Viện Kiểm nghiệm Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho biết.

FDA cũng lưu ý rằng cha mẹ có thể nhận biết các triệu chứng của bệnh methemoglobin như: da, môi, móng chân, móng tay nhợt nhạt có màu xám hoặc màu xanh, khó thở, mệt mỏi, đau đầu và nhịp tim nhanh. Các triệu chứng có thể xảy ra trong vòng vài phút đến vài giờ sau khi sử dụng Benzocain.

Thay vì sử dụng Benzocain để giảm đau cho trẻ khi mọc răng, Viện Nhi khoa Mỹ, khuyên cha mẹ nên cho trẻ ngậm núm vú cao su lạnh hoặc dùng ngón tay chà nhẹ nhàng hoặc xoa bóp nướu răng của trẻ.

Theo An ninh Thủ đô

Bảo vệ thận khi dùng thuốc

Thận tiếp xúc và bài tiết thuốc ra khỏi cơ thể thì chính nó cũng bị thuốc gây những tổn thương hoặc làm suy giảm chức năng và nói tắt là "thuốc hại thận".

Trong quá trình loại bỏ thuốc ra khỏi cơ thể, hoạt động của thận sẽ ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc, nói nôm na là "thận hại thuốc". Ngược lại, thận tiếp xúc và bài tiết thuốc ra khỏi cơ thể thì chính nó cũng bị thuốc gây những tổn thương hoặc làm suy giảm chức năng và nói tắt là "thuốc hại thận".
Có rất nhiều thuốc có thể làm hại thận cấp tính hoặc mạn tính. Nguy hiểm ở chỗ là nhiều khi thuốc làm hại thận từ từ, không dễ gì phát hiện từ lúc đầu và đến khi phát hiện thì thận đã bị thuốc làm suy ở mức độ rất nặng, thậm chí phải chạy thận nhân tạo. 
Thông thường để phát hiện thận bị suy, người ta làm xét nghiệm đo creatinin máu. Nhiều thuốc chỉ mới ảnh hưởng nhẹ đến chức năng thận đã làm tăng creatinin máu, nhưng có nhiều thuốc gây hại thận dần dần mà chẳng có triệu chứng gì, đến khi làm tăng creatinin máu thì ôi thôi, đã làm thận suy rất nặng.
Các thuốc hại thận có thể kể: các kháng sinh thuộc nhóm penicillin, cephalosporin, aminoglycosid, sulfamid, quinolon…; các thuốc chống viêm không steroid NSAID; các thuốc lợi tiểu như: furosemid; thuốc ức chế men chuyển…
Người bệnh đã có tiền sử suy thận thì tuyệt đối không dùng các thuốc độc cho thận khi có thuốc khác thay thế. Ví dụ như: không dùng các aminoglycosid, amphotericin, cisplatin, mesalazin, các NSAID, penicilamin và vancomycin… là các thuốc hại thận rất dữ.
Bảo vệ thận khi dùng thuốc
Ngoài gây hại thận và chức năng thận, nhiều thuốc gây những rối loạn liên quan gián tiếp đến thận. Một số thuốc trực tiếp gây giữ nước và do đó có thể gây nặng hơn các biến chứng về tim mạch ở người bị suy thận, như: carbenoxolon, indomethacin. 
Ở người bệnh suy tim sung huyết,việc tưới máu thận phụ thuộc vào lượng prostaglandin được sản xuất tại thận, dùng thuốc NSAID sẽ ức chế tác dụng tại chỗ của prostaglandin đối với thận gây giảm dòng máu qua thận, giữ nước và làm xấu thêm tình trạng suy tim. Dùng digoxin ở người suy thận nặng sẽ làm tăng canxi huyết và/hoặc giảm kali huyết. 
Dùng các thuốc lợi tiểu giữ kali như: amilorid, spironolacton có thể gây tăng kali huyết nặng ở người suy thận. Dùng thuốc kháng tiết cholin như: atropin, scopolamin có thể gây rối loạn chức năng bàng quang và đái không tự chủ đối với người có chức năng thận bình thường. Dùng acetazolamid, vitamin D liều cao, vitamin C liều cao dễ gây đọng tạo sỏi thận - tiết niệu.
Thuốc hại thận ở đây còn có thể hiểu là thuốc có thể làm thay đổi kết quả xét nghiệm chức năng thận, như: có thuốc gây dương tính giả xét nghiệm độ đục nước tiểu (turbidimetric test): tolbutamid, kháng sinh penicillin, cephalosporin (liều cao), sulfisoxazol...; có thuốc làm tăng creatinin máu do cạnh tranh bài tiết ở niệu quản: triamteren, amilorid, trimethoprim, cimetidin, hoặc làm tăng creatinin máu trong xét nghiệm theo phương pháp Jaffe: vitamin C, kháng sinh cephalosporin.
Vì luôn luôn có nguy cơ "thuốc hại thận", nên phải xem việc dùng thuốc là rất hệ trọng. Chỉ dùng thuốc khi thật sự cần thiết và có sự hiểu biết tối thiểu về các dùng, liều lượng, tính năng, tác dụng phụ có hại của thuốc (trong đó có tác dụng hại thận). 
Nếu có gì nghi ngờ về bệnh của mình thì cách tốt nhất đến bác sĩ khám để có cách xử trí đúng đắn, không được tự ý dùng thuốc bừa bãi, tốt nhất nên dùng thuốc theo sự chỉ định và hướng dẫn của thầy thuốc.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Đức - Sức khỏe và Đời sống
Đại học Y - Dược TP.HCM

Dùng đúng kháng sinh để giảm sự kháng thuốc

Người dùng chưa thật hiểu vì sao có sự kháng thuốc. Những thói quen dùng không đúng kháng sinh làm lan rộng chủng kháng thuốc.

Khi dùng kháng sinh (KS) chữa bệnh là làm thay đổi điều kiện sống của vi khuẩn. Hầu hết vi khuẩn bị chết nhưng có một số cá thể sống sót. Những cá thể này dần dà phát triển, biến đổi gen thành chủng mới. KS trước đây dùng với chủng cũ sẽ không ức chế được chủng mới. 
Chủng mới này gọi là chủng kháng thuốc, sinh ra do dùng KS. Do khi dùng kháng sinh, điều kiện sống của vi khuẩn thay đổi lớn, đột ngột nên chủng kháng thuốc hình thành nhiều nhanh hơn (so với chủng kháng thuốc hình thành do sự thay đổi tự nhiên). Chủng kháng thuốc sau đó lan rộng ra nhiều địa phương, nhiều nước.
Theo đó, nếu dùng KS không đúng, không làm sạch được vi khuẩn, sẽ tạo cơ hội cho vi khuẩn sống sót, sinh ra chủng kháng thuốc.
Sau đây là những thói quen dùng KS không đúng:
Không dùng đúng KS đặc trị
Mỗi KS chỉ ức chế được một hoặc một số ít vi khuẩn. Có người chưa hiểu kỹ điều này, chưa biết mình bị nhiễm vi khuẩn gì cứ dùng bất cứ KS nào. 
Dùng không đúng KS đặc trị, vi khuẩn không bị ức chế. Trong cơ thể vốn có sẵn các vi khuẩn gây bệnh khác, nhưng chưa đủ điều kiện gây bệnh. Khi dùng không đúng KS đặc trị, các vi khuẩn khác trong cơ thể cũng được tập dượt, sau nhiều lần tập dượt sẽ chuyển thành chủng kháng với các KS trên. 
Khi các chủng kháng thuốc này đủ mạnh gây ra bệnh thì dùng KS trên sẽ không hiệu quả. Như vậy, mỗi khi dùng KS không đúng loại đặc trị chẳng những không chữa khỏi bệnh đang mắc mà tạo cơ hội cho nhiều vi khuẩn sinh ra các chủng kháng với KS đó.
Dùng KS không đủ liệu trình
KS không tiêu diệt, chỉ ức chế, làm suy yếu, tạo điều kiện cho cơ thể tiêu diệt vi khuẩn. Phải dùng KS sớm (khi vi khuẩn ít, còn non). Khi triệu chứng giảm nhưng chưa hết hẳn, có nghĩa là vi khuẩn có bị tiêu diệt một phần nhưng vẫn còn một phần vi khuẩn đáng kể vẫn sống. 
Khi triệu chứng mới vừa hết có nghĩa là phần lớn vi khuẩn tiêu diệt nhưng vẫn còn một ít vi khuẩn còn sống sót. 
Lúc này, phải tiếp tục dùng KS củng cố trong vài ngày để làm sạch vi khuẩn mới ngừng hẳn thuốc (đến mức kiểm nghiệm không thấy nữa, gọi là sạch vi khuẩn). Tùy bệnh, tùy thuốc mà mỗi đợt dùng KS đầy đủ ít nhất là 7 - 10 ngày. Nếu không đùng đúng vậy, mà đánh vi khuẩn nửa vời (ngừng KS quá sớm) thì vi khuẩn sẽ sống sót, chuyển dần thành chủng kháng thuốc.
Vi khuẩn Shigella kháng với các kháng sinh cũ với tỉ lệ rất caoVi khuẩn Shigella kháng với các kháng sinh cũ với tỉ lệ rất cao
Dùng kháng sinh không đủ liều, thất thường
Dùng KS ở một liều nhất định, tạo ra nồng độ đủ mạnh, ổn định mới ức chế được vi khuẩn liên tục, tạo điều kiện cho cơ thể tiêu diệt vi khuẩn. Dùng liều thấp, không ức chế được vi khuẩn. 
Dùng đủ liều hay dùng liều cao nhưng giữ không đúng khoảng cách giữa các lần dùng, nồng độ KS có lúc đủ hay quá thừa song có lúc lại không đủ ức chế vi khuẩn.Ví dụ: thầy thuốc kê đơn: penicillin, tiêm bắp, 1.000.000IUx 3 lần/ ngày có nghĩa cách mỗi 8 giờ tiêm bắp một lần 1.000.000 IU. 
Có người dồn thuốc tiêm 12 giờ ban ngày, cách nhau chỉ mỗi 4 giờ một lần, nhưng suốt 12 giờ ban đêm thì không có thuốc. Những cách dùng KS không đủ liều, thất thường này làm cho vi khuẩn sống sót, gây nên kháng thuốc.
Chỉ thích dùng KS mới, mạnh
Mỗi quần thể vi khuẩn (ví dụ: S.pneumonia) có 3 nhóm có đáp ứng khác nhau với một loại KS (ví dụ: penicillin): nhóm vi khuẩn chưa kháng thuốc bị ức chế với một nồng độ KS rất nhỏ (MIC=2mcg/ml) gọi là nhóm nhạy cảm, chiếm tỉ lệ 70,9%. 
Nhóm vi khuẩn kháng thuốc vừa, bị ức chế với một nồng độ KS trung bình (MIC=4mcg/ml) gọi là nhóm kháng trung gian, chiếm tỉ lệ 16,4%. Nhóm vi khuẩn kháng thuốc mạnh, bị ức chế với một nồng độ KS rất cao (MIC=8mcg/ml) gọi là nhóm đề kháng, chiếm là 12,7%. 
Nếu dùng KS liều rất nhỏ (MIC= 2mcg/ml) thì chỉ có 70,9% vi khuẩn ở nhóm nhạy cảm bị ức chế, tiêu diệt, còn 21,9% vi khuẩn không bị ức chế, sống sót; hiệu quả điều trị thấp. 
Nếu dùng KS liều cao, bằng hay cao hơn liều kháng trung gian (MIC 4mcg/ml) thì vi khuẩn ở nhóm nhạy cảm, nhóm kháng trung gian bị ức chế, tiểu diệt, tổng cộng lên tới 87,3% (= 70,9% + 16,4%); chỉ còn lại 12,7% ở nhóm đề kháng là không bị ức chế, còn sống sót; hiệu quả điều trị cao.
Như vậy, khi một KS bị một vi khuẩn kháng ở mức trung bình (cộng cả nhóm kháng trung gian và đề kháng ở dưới 30% hay dưới 40%) thì điều chỉnh liều thích hợp thì vẫn có thể dùng KS đó chữa nhiễm khuẩn ấy mà không phải bỏ đi.
Vì không hiểu rõ điều này, khi thầy thuốc cho dùng một KS cũ, có người không dùng, tự tìm một KS mới, mạnh hơn lúc chưa thật cần thiết. Một điều nguy hiểm nữa, khi tự dùng KS này, người bệnh vẫn có thể dùng sai, làm cho ngay nó cũng bị kháng. 
Như vậy, cách lạm dụng và dùng sai đã làm tăng thêm danh mục KS bị kháng. Một thí dụ: ở nước ta, vài chục năm trước fluoroquinolon là vũ khí "dự trữ chiến lược" (dành dùng khi KS khác bị kháng), nhưng do cách dùng như thế mà nay cũng bị kháng, trong đó có loại như: cyprofloxaxin bị kháng ở mức tương đối cao.
Dùng KS phổ rộng, kéo dài
Khi bị nhiễm nhiều chủng vi khuẩn, có thể phối hợp nhiều loại KS nhưng tiện hơn là dùng KS phổ rộng. Tuy nhiên, dù phổ rộng đến bao nhiêu thì KS phổ rộng cũng không thể ức chế hết mọi chủng, mà cũng có những chủng vi khuẩn không hay kém nhạy cảm với KS phổ rộng này. 
Nếu dùng KS phổ rộng kéo dài, nhiều loại vi khuẩn bị tiêu diệt… tạo điều kiện cho các vi khuẩn này phát triển mạnh hơn thường lệ kháng lại các KS phổ rộng, gây bội nhiễm. 
Bằng chứng rõ nhất là khi dùng nhóm KS azol (ketoconazol, fluconazol, itraconazoll) điều trị nhiễm khuẩn da kéo dài, sau đó thường bị bội nhiễm bệnh da khác.
Chủ quan có KS, không làm tốt dự phòng
Nếu cắt đường truyền sẽ giảm sự lan rộng chủng kháng thuốc. Ví dụ: từ cuối thập niên thế kỷ 20, vi khuẩn Shigella kháng với các KS cũ với tỉ lệ rất cao: cotrimoxazol 95%, nalicidic 68%, ampicilin 75% chloramphenicol 48%. 
Do vậy, WHO cho dùng cyprpfloxacin, pivmecilinam, ceftriaxon thay thế. Khi dịch Shigella xảy ra ở một địa phương, phải dùng KS đặc trị theo khuyến cáo của WHO dập tắt ngay dịch. Nếu cứ dùng KS cũ, sẽ không dập được dịch, chủng shigella kháng thuốc sẽ lây lan ra nhiều địa phương khác.
Theo DS.CKII Bùi Văn Uy - Sức khỏe và Đời sống

Ảnh hưởng của việc uống thuốc tránh thai lâu dài

Nếu bạn là một người khỏe mạnh và bạn không hút thuốc, bạn có thể tiếp tục uống thuốc ngừa thai cho đến khi nào bạn muốn, ít nhất là cho đến một vài năm sau thời kỳ mãn kinh.

Thuốc tránh thai đã được nghiên cứu kỹ lưỡng để có thể đảm bảo an toàn cho người sử dụng.
Đôi khi thầy thuốc kê đơn có thể khuyên bạn nên uống cách nhật sau mỗi đợt dùng thuốc, nhưng sự thật là nó không tạo sự khác biệt đối với sức khỏe của bạn, và nó cũng có thể dẫn đến việc có thai ngoài ý muốn.
Ảnh hưởng của việc uống thuốc tránh thai lâu dài.Ảnh hưởng của việc uống thuốc tránh thai lâu dài.
Nó chỉ đơn giản có nghĩa là không phải dùng thuốc tránh thai trong thời gian dài sẽ gây vô sinh. Các nhà nghiên cứu cho rằng, những phụ nữ đã sử dụng thuốc tránh thai và ngưng sử dụng vì muốn có con thì cơ hội mang thai cũng tương tự như người chưa từng dùng thuốc tránh thai.
Thuốc tránh thai có thể thực sự bảo vệ khả năng sinh sản của bạn bằng cách giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư tử cung và buồng trứng. Thuốc tránh thai cũng có thể ngăn chặn các triệu chứng của lạc nội mạc tử cung, trong đó nội mạc tử cung phát triển bên ngoài tử cung, dẫn đến các vấn đề về sinh sản.
Tuy nhiên, thuốc tránh thai, giống như bất cứ loại thuốc khác, có những rủi ro của nó. Đột quỵ hay máu cục là tác dụng phụ tiềm tàng nhưng hiếm, đặc biệt nếu bạn là người hút thuốc hoặc có huyết áp cao.
Theo Viện Ung thư Quốc gia:
Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng thuốc tránh thai hiện nay có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú, đặc biệt là ở phụ nữ trẻ. Tuy nhiên, mức độ rủi ro này trở lại bình thường 10 năm hoặc lâu hơn sau khi ngưng uống thuốc ngừa thai.
Những phụ nữ uống thuốc tránh thai có nguy cơ giảm phát triển ung thư buồng trứng và nội mạc tử cung. Bảo vệ này tăng hiệu quả theo thời gian sử dụng thuốc tránh thai.
Sử dụng biện pháp tránh thai đường uống có liên quan với tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung; mặc dù, HPV được tìm thấyở gần như tất cả bệnh ung thư cổ tử cung.
Cuối cùng, uống thuốc ngừa thai là một quyết định bạn nên thực hiện sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn, và xem xét các yếu tố rủi ro cá nhân, lối sống, và tiền sử gia đình để quyết định xem việc sử dụng biện pháp tránh thai cho bạn là có nên hay không.
Theo Phương Vũ - Gia đình Việt Nam

Nguy hiểm từ việc chia sẻ thuốc chữa bệnh

Việc dùng thuốc chữa bệnh kiểu dùng lại toa thuốc cũ hoặc dùng thuốc do người khác mách khiến nhiều trường hợp bị ngộ độc thuốc rất nguy hiểm.

Việc dùng toa thuốc cũ để mua thuốc uống hoặc chia sẻ toa thuốc cho người khác gây ra những hậu quả không lường - Ảnh: Hữu Khoa
Nhiều người khi bị chóng mặt, nhức đầu, sốt, ho... không đi khám bác sĩ mà dùng lại toa thuốc cũ hoặc dùng thuốc theo kiểu người này mách cho người kia. 
Khoảng giữa tháng 2 vừa qua, bà T.N. (53 tuổi, ngụ TPHCM) đi cấp cứu trong tình trạng khó thở, mắt sưng to, khắp người nổi mẩn đỏ sau khi uống viên Advil Liqui-Gels do đồng nghiệp đưa để chữa nhức đầu.
Ngộ độc hoặc khiến bệnh nặng hơn
Khi uống viên thuốc nói trên, bà N. không biết loại thuốc giảm đau này có chứa ibuprofen, một hoạt chất có trong Alaxan mà bà đã sử dụng trước đây và bị dị ứng nhẹ khiến mắt đỏ, khó chịu.
Khi cấp cứu cho bà N., bác sĩ phải truyền nước, cho uống thuốc giải và yêu cầu nằm lại bệnh viện để theo dõi.
Theo các bác sĩ, khi cơ thể đã dị ứng với một thành phần nào của thuốc mà sau đó tiếp tục sử dụng loại thuốc này thì có thể xảy ra những biến chứng vô cùng nguy hiểm, thậm chí gây chết người.
BS Trương Thế Hiệp, phó khoa cấp cứu BV Chợ Rẫy, cho biết nhiều trường hợp bị ngộ độc thuốc, sốc phản vệ phải đi cấp cứu là do người bệnh sử dụng toa thuốc của người khác hoặc nghe truyền miệng dân gian để tự chữa bệnh thay vì đi khám tại các cơ sở y tế.
Ông kể trường hợp chị N.N.A. (26 tuổi, ngụ H.Nhà Bè, TPHCM) thường bị đau bao tử và được một người quen cho uống loại thuốc kèm theo lời giới thiệu “hàng Hong Kong, uống vào lập tức hết đau”.
Thuốc này dạng bột, được đóng trong hũ inox màu xanh với mùi khá hăng. Ngay sau khi uống thuốc này, chị A. có cảm giác khó chịu và liên tục nôn ói nên phải đi cấp cứu tại BV Chợ Rẫy.
BS Hiệp cho biết thêm có trường hợp bệnh nhân đau xương khớp sau lần khám ở một bệnh viện lớn và thấy bệnh thuyên giảm nhiều liền chia sẻ toa thuốc cho người hàng xóm cũng bị đau xương khớp.
Người hàng xóm này có tiền sử bệnh tim, uống vô chẳng những không hết đau xương khớp mà còn khiến bệnh tim nặng hơn do tác dụng ngoài ý muốn của thuốc!
BS.CK II Nguyễn Minh Tiến - trưởng khoa hồi sức tích cực và chống độc BV Nhi Đồng 1 (TPHCM) - cho biết nhiều bệnh nhi bị ngộ độc thuốc, sốc thuốc do người nhà tự ý mua thuốc cho uống hoặc cho các cháu uống nhầm thuốc.
“Có bé bị nhức răng, sau khi uống thuốc do phụ huynh tự mua từ hiệu thuốc bé phải nhập viện cấp cứu do ngộ độc thuốc” - BS Tiến kể.
Theo BS Hiệp, các loại đông dược đều có tác dụng tốt và không tốt dù sử dụng ngoài da hay đưa vào cơ thể. Nếu sử dụng đông dược không đúng cách như đắp các loại lá cây khi bị rắn, côn trùng cắn cũng dẫn đến dị ứng...
Biểu hiện ngộ độc và cách xử lý
Theo các bác sĩ, tùy theo dược tính của thuốc mà người bệnh có những biểu hiện ngộ độc khác nhau như ói mửa, hoa mắt, buồn nôn, chóng mặt, rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp. Bên cạnh đó cũng cần để ý dấu hiệu dị ứng toàn thân như nổi mề đay, ngứa, phù mặt, phù mi mắt.
Các biểu hiện ngộ độc thuốc ở thể nhẹ người bệnh có cảm giác khác thường (bồn chồn, hốt hoảng, sợ hãi...), tiếp đó có các biểu hiện bên ngoài như mẩn ngứa, ban đỏ..., mạch nhanh nhỏ khó bắt, huyết áp tụt có khi không đo được.
Nặng hơn nữa là biểu hiện của trụy mạch: khó thở, nghẹt thở, đau quặn bụng, đau đầu, đôi khi hôn mê hoặc vật vã, giãy giụa, co giật...
Trường hợp nặng, bệnh nhân có thể bị hội chứng Steven Johnson gây thương tổn toàn bộ hệ thống da và niêm mạc như loét môi, tróc da, chảy máu đường tiêu hóa.
Bệnh nhân bị hội chứng này sau khi dùng thuốc phải điều trị tại bệnh viện rất lâu vì chứng này khó chữa, chi phí điều trị và nguy cơ tử vong cao.
Các bác sĩ lưu ý khi bệnh nhân có biểu hiện ngộ độc cần loại bỏ chất độc bằng mọi cách như bỏ ngay các loại lá đang đắp, nôn ói để thải các loại thuốc đã uống. Các thao tác này cần được thực hiện càng sớm càng tốt và trong vòng bốn tiếng đối với các loại thuốc uống.
Sau bốn tiếng, thuốc đã hấp thu vào ruột non, không sử dụng các cách thông thường như nôn ói được nữa. Lúc này cần đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất trong thời gian sớm nhất.
Đặc biệt, các bác sĩ lưu ý tuyệt đối không xử trí bằng cách cho bệnh nhân uống các loại nước chanh, nước đậu xanh hay tự ý ra nhà thuốc mua thuốc về giải độc.
Theo Diệu Nguyễn - Bình Minh - Tuổi trẻ

Nhiều nguy cơ chết trên đống thuốc

Nhiều thập kỷ nay, nạn nhân của các khối u ác tính có ít tuỳ chọn trong điều trị. Hầu hết đều chết trong vòng một năm chỉ do ung thư da nguy hiểm.

Giờ đây một thế hệ các phương pháp điều trị mới bằng công nghệ sinh học - tấn công các protein cho phép ung thư né thoát sự phòng thủ của cơ thể - đang sẵn sàng để làm thay đổi thực trạng. Một loại thuốc mới, Opdivo của Bristol-Myers Squibb làm tăng tỷ lệ sống sót trong vòng một năm trong các thử nghiệm lên 73% so với hoá trị chuẩn chỉ có 42%.
Chỉ có một vấn đề với Opdivo: bệnh nhân phải chi 150.000 USD mỗi năm. Thuốc này và hàng chục loại thuốc chống ung thư khác đang là vấn đề đối với các hãng bảo hiểm và những người sử dụng lao động - những kẻ ký vào hoá đơn. 
Hơn 30 loại thuốc ung thư tung ra thị trường từ năm 2010 - 2014 chi phí điều trị lên đến 5.000 USD trở lên mỗi tháng, theo dữ liệu từ trung tâm Memorial Sloan Kettering Cancer ở New York. Express Scripts - cơ quan bảo hiểm toa thuốc đối với 85 triệu người Mỹ, xem việc điều trị ung thư là một trong những kiểm soát chi phí hàng đầu của hãng.
Một thập kỷ sau khi Big Pharma lo lắng rằng sẽ không đủ thuốc trong ống dẫn để duy trì ngành kinh doanh theo định hướng nghiên cứu đầy tốn kém, hiện nay ngành công nghiệp đang được hưởng một cuộc chạy đua về thuốc đắt tiền đột phá hứa hẹn chữa khỏi mọi thứ bệnh, ngay cả bệnh ung thư hiếm như viêm gan C. Điều đó đặt ngành công nghiệp dược trước sự mâu thuẫn đối với các thành tựu khoa học y tế.
Sự xung đột đe doạ làm chậm bước tiến của tương lai về các khám phá và các tiếp cận của bệnh nhân đối với thuốc. Cổ phiếu Pharma sụt giảm khi Express Scripts và các nhà quản lý lợi nhuận từ thuốc quyết định ưu tiên cho thuốc rẻ hơn so với thuốc mắc. 
Express Scripts phát động một cuộc chiến giá cả hồi tháng 12 đối với thuốc viêm gan C, khi nó loại một loại thuốc mới của Gilead Sciences giá hơn 1.000 USD một ngày khỏi danh mục chính các loại thuốc điều trị chi trả của họ. Thay vì vậy, họ ưu tiên cho một loại thuốc cạnh tranh hơn của AbbVie với mức hoa hồng đáng kể để đạt hiệu quả kinh doanh. 
“Chi phí quá là kinh, hệ thống chăm sóc sức khoẻ sẽ không chịu nổi”, Steven Avey, phó chủ tịch chương trình đặc biệt của hệ thống MedImpact Healthcare, một nhà bảo hiểm toa thuốc, nói.
Leonard Schleifer, giám đốc điều hành Regeneron Pharmaceuticals, đang nghiên cứu một loại thuốc chống cholesterol, nhìn điều đó theo cách khác. “Bạn đang ngăn chận người dân đổi mới nếu bảo hiểm chỉ bó hẹp trong phạm vi các loại thuốc giá thấp nhất”, ông nói.
41 loại thuốc mới được phê chuẩn trong năm 2014 bởi cơ quan Thực dược Mỹ (FDA) là nhiều nhất trong suốt 18 năm qua. Chín loại nhận được điều trị chỉ định của FDA gồm Opdivo, một loại thuốc điều trị u ác tính - đối thủ của Keytruda của hãng Merck, và hai loại điều trị viêm gan C: Harvoni của Gilead Sciences và Viekira Pak của AbbVie.
Khoa học tiến bộ, nhiều đầu tư đổ vào công nghệ sinh học, và chính sách xúc tiến của FDA đang tăng cường cơ may cho nhiều khám phá hơn. Các nhà nghiên cứu tại IMS Health, nơi theo dõi và bán dữ liệu đơn thuốc, cho biết khoảng 30 - 35 loại thuốc mỗi năm sẽ được đưa ra thị trường vào năm 2018, so mức trung bình 25 từ năm 2000 - 2013.
Nhưng các hãng bảo hiểm toa thuốc lại đang đi ngược lại việc dùng thuốc mới. Express Scripts rút thuốc Advair trị suyễn của GSK khỏi danh mục thuốc bảo hiểm chính trong năm 2014 do giá cả. Doanh số thuốc ở Mỹ sụt 25%. Advair được đưa vào lại danh mục sau khi GSK hạ giá thuốc trong năm nay.
Cuộc chiến giá cả này chỉ có bệnh nhân là chịu thiệt nhiều nhất. 
Theo Tr.B - Thế giới tiếp thị/ Nông thôn ngày nay
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons