Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

Chữa lupus ban đỏ, cần lưu ý độc tính của thuốc

Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh tự miễn và đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Hiện nay, không có thuốc chữa khỏi bệnh mà thuốc chỉ làm giảm triệu chứng, ổn định bệnh. Tuy nhiên, người bệnh cũng phải dùng thuốc phù hợp mới phát huy hiệu quả.
Lupus ban đỏ hệ thống là gì?
Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh lý của mô liên kết có tổn thương nhiều cơ quan do hệ thống miễn dịch của cơ thể bị rối loạn, đặc trưng bởi sự có mặt của kháng thể kháng nhân và nhiều tự kháng thể khác. 
Kháng nguyên được hình thành tại chỗ do nhiều nguyên nhân (chấn thương, tiếp xúc với hóa chất, vi khuẩn, thuốc, chất độc, tia xạ...). Chúng làm cho cơ thể tự sinh ra kháng thể chống lại chính các tế bào của cơ thể, gây hại cho nhiều cơ quan, tổ chức. Các cơ quan thường bị tổn thương bao gồm khớp, da, thận, tế bào máu, tim, phổi, thần kinh... 
Cho đến nay, nguyên nhân gây bệnh và cơ chế bệnh sinh chính xác của lupus ban đỏ hệ thống chưa được biết rõ. Cơ chế bệnh sinh của bệnh là một quá trình phức tạp với sự tham gia của nhiều yếu tố như di truyền, miễn dịch thể dịch, miễn dịch tế bào và yếu tố môi trường.
Chữa lupus ban đỏ, cần lưu ý độc tính của thuốcMột số triệu chứng trong bệnh lupus ban đỏ hệ thống
Bệnh thường mắc ở lứa tuổi 10 - 40, nhiều nhất ở tuổi 20 - 40 và có khuynh hướng tăng. Bệnh hay gặp ở nữ, tỉ lệ mắc bệnh nữ/nam là 9/1. Đây là bệnh mạn tính, đan xen giữa đợt bùng phát và khoảng thời gian lui bệnh. Biến chứng đáng ngại của bệnh là: nhiễm khuẩn cơ hội, suy thận mạn, tổn thương não - mạch máu...
Dùng thuốc như thế nào?
Vấn đề dùng thuốc chữa bệnh lupus ban đỏ hệ thống vẫn còn nan giải với y khoa toàn thế giới. Hiện nay, thuốc không chữa khỏi, chỉ làm giảm triệu chứng, ổn định bệnh. Do bệnh gây tác hại trên nhiều cơ quan nên phải dùng nhiều loại thuốc. 
Hơn nữa, tình trạng bệnh, mức độ tiến triển ở mỗi cá nhân khác nhau nên khó có phác đồ điều trị thống nhất. Mục đích điều trị thường căn cứ vào mức độ nặng nhẹ và tiến triển của bệnh, bao gồm các giai đoạn tấn công, củng cố và duy trì. Cân nhắc cẩn thận giữa tác dụng và tác dụng phụ của mỗi loại thuốc tới các cơ quan khác trên cơ thể.
Các thuốc dùng trong bệnh lupus ban đỏ hệ thống thường có tính độc, khó dùng trên cơ địa người bệnh khá phức tạp (bị tổn thương nhiều cơ quan) nên phải thận trọng. Dù là thuốc dạng uống hay dạng tiêm, nhất thiết người bệnh phải dùng theo chỉ định của thầy thuốc. Cùng với việc dùng thuốc người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng, dự phòng nhiễm khuẩn để nâng cao hiệu quả điều trị.
Thuốc điều trị lupus ban đỏ hệ thống chủ yếu gồm:
Thuốc kháng viêm không steroid
Dùng trong các trường hợp lupus kèm viêm đau khớp, sốt và viêm nhẹ các màng tự nhiên nhưng không kèm tổn thương các cơ quan lớn. Thuốc có tác dụng làm giảm triệu chứng viêm, đau, thường kết hợp với corticoid hoặc có khi kết hợp thêm thuốc ức chế miễn dịch. Khi kết hợp hiệu quả kháng viêm, giảm đau đạt được tốt hơn. Nên tránh dùng ở bệnh nhân viêm thận.
Thuốc chloroquin chống sốt rét
Có tác dụng làm giảm tổn thương khớp, da, thường phối hợp với corticoid, hay kháng viêm không steroid, có khi kết hợp thêm thuốc ức chế miễn dịch. Người bệnh thường phải dùng thuốc kéo dài nên chọn dạng hydrochloroquin ít độc hơn.
Liệu pháp glucocorticoid
Dùng trong các trường hợp: Lupus ban đỏ có đe dọa tính mạng như có tổn thương thần kinh, giảm tiểu cầu, thiếu máu huyết tán hoặc lupus ban đỏ không đáp ứng với các biện pháp điều trị bảo tồn. Mục đích chính của điều trị bằng glucocorticoid nhằm giảm viêm và ức chế miễn dịch. Tùy tình trạng bệnh mà thay đổi liều, dạng dùng hay cách phối hợp thuốc. 
Trường hợp nhẹ, có thể dùng một mình glucocorticoid hay phối hợp glucocorticoid với thuốc chống sốt rét chloroquin hoặc thuốc giảm đau, kháng viêm, nhằm làm giảm các triệu chứng nhẹ và ngăn đợt bùng phát cấp tính. Trường hợp nặng, phối hợp thêm thuốc ức chế miễn dịch nhưng giảm liều glucocorticoid.
Do thuốc gây ức chế miễn dịch nên làm cho người bệnh giảm sức đề kháng, dễ bị nhiễm khuẩn. Tác dụng phụ của glucocorticoid có thể gây động kinh, cơn trầm cảm, loạn thần kinh cấp, đau khớp cơ, viêm tụy, loét và xuất huyết đường tiêu hóa...
Thuốc ức chế miễn dịch
Từ khi có các thuốc ức chế miễn dịch, tiên lượng bệnh đáp ứng với thuốc có khả quan hơn, nâng cao chất lượng, kéo dài thêm cuộc sống tới 20 năm. Tuy nhiên, các thuốc ức chế miễn dịch làm cho người bệnh giảm sức đề kháng, dễ nhiễm khuẩn. 
Vì vậy, thuốc chỉ được dùng trong các trường hợp: Lupus ban đỏ thể nặng có khả năng đe dọa tính mạng như viêm cầu thận cấp nặng, có tổn thương thần kinh, giảm tiểu cầu và thiếu máu huyết tán hoặc lupus không đáp ứng với corticoid hoặc xuất hiện tác dụng phụ nặng của corticoid. 
Các thuốc được lựa chọn là: mecophenolatmofetyl (làm giảm hầu hết các triệu chứng nặng, đặc biệt là các tổn thương ở thận, có tác dụng ngay khi các thuốc khác không đáp ứng). 
Cyclophosphamid làm giảm triệu chứng protein niệu, giảm creatinin máu, cải thiện các triệu chứng về thận), cyclosporin A (ức chế chọn lọc trên tế bào lympho T, cải thiện tổn thương nội tạng, đặc biệt là thận)...
Theo DS Đức Trí - Sức khỏe và Đời sống

Viên giảm cân gây chết người

Theo các chuyên gia dinh dưỡng thì các viên thuốc giảm cân thường hấp dẫn mọi người nhưng thường gây tác hại.

Vừa qua, người ta đã cảnh cáo khẩn cấp về thuốc giảm cân 2.4-dinitrophenol (DNP). DNP là một chất “đốt chất mỡ” có độc tính cao được tìm thấy trong nhiều viên thuốc, thuốc bột và thuốc nước. Trong khi thành phần nguy hiểm này không được phép dùng thì nó thường được dùng bởi những người muốn giảm cân. Tháng rồi, một phụ nữ 21 tuổi ở Anh Quốc đã gặp nguy hiểm.
Theo Lila Bruk, chuyên gia tư vấn dinh dưỡng thì DNP vô cùng độc hại và nên cấm tuyệt đối bất cứ giá nào. Bruk cho rằng điều không may là chúng ta không hề biết cơ thể đáp ứng như thế nào và có nhiều bằng chứng cho thấy DNP gây chế người. Không có một loại biệt dược nào có thể giảm cân nhanh chóng như người ta giới thiệu. 
Bà khuyên rằng cách thức tốt nhất để giảm cân là tập trung chính vào chế độ ăn uống, giảm khẩu phần ăn phù hợp là chìa khóa cho sự giảm cân. Thêm vào đó phải chú ý đến thành thần thức ăn, cần ăn nhiều thịt nạc hơn, các loại mỡ tốt và chất bột có chỉ số đường thấp, quan trọng nữa là phải giảm thấp tối đa thức ăn qua chế biến. Cuối cùng việc tập thể dục, thể thao là một thành tố cần thiết để giảm cân, việc này giúp tiêu tốn năng lượng dư thừa của cơ thể.
Tổ chức Interpol quốc tế đã cảnh báo đến các nước thành viên về vấn đề thử nghiệm mẫu thuốc này. Nhiều nơi đã không biết được sự hiện diện của thuốc giảm cân chứa DNP. 
TS Joey Gouws ở Trung tâm kiểm soát thuốc cho rằng DNP là một thành phần hữu cơ với công dụng chính sử dụng trong lĩnh vực diệt cỏ và thuốc trừ sâu. Chất này đã được loại dùng điều trị béo phì ở những năm 1930 (do nó có tác dụng làm tăng tốc độ chuyển hóa nên dùng để giảm cân), tuy nhiên sau đó bị cấm vì gây chết người. 
Lý do DNP gây nguy hiểm là do nó ức chế quá trình sản xuất adenosine triphosphate (ATP) (một coenzyme nội bào chuyển hóa năng lượng), năng lượng sẽ mất đi khi tăng nhiệt độ trong tế bào. Nguyên nhân này gây tăng nhiệt cấp tính, nhiệt độ cơ thể tăng cao đến 440C trước khi chết.
Theo Sức khỏe và Đời sống

Paracetamol có thể thay đổi trạng thái tâm lý người dùng

Acetaminophen hay còn được biết là Acemol, Tylenol, Paracetamol - là một loại thuốc giảm đau phổ biến hiện nay.

Ngoài tác dụng giảm đau, thuốc còn làm thay đổi trạng thái tâm lý và cảm xúc của người sử dụng, theo nghiên cứu đăng tải trên tạp chí khoa học Psychology Science (Khoa học sức khỏe tâm thần).
Trong cuộc sống, cảm xúc luôn giúp cho mỗi người thấy thú vị và làm cho xã hội muôn màu muôn vẻ. Cảm xúc có thể bắt nguồn từ môi trường xung quanh và phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Dù cảm xúc ở trạng thái tích cực hay tiêu cực thì đều mang lại màu sắc cho cuộc sống, trong khi đó, sự vô cảm làm cho cuộc sống trở nên nhạt nhẽo, vô vị.
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên và người tham gia nghiên cứu không biết trước loại thuốc sử dụng. 85 người tình nguyện tham gia nghiên cứu đã được cho uống viên thuốc được sản xuất giống nhau, tuy nhiên một số viên có chứa 1.000mg paracetamol và một số viên là giả dược (hay còn gọi là viên thuốc bột mì).
Cả hai nhóm, người tình nguyện uống thuốc và người đưa thuốc đều không biết được bản chất viên thuốc đã được đánh dấu bởi những nhà nghiên cứu.
Sau một giờ dùng thuốc, các nhà nghiên cứu ghi hình và lựa chọn ngẫu nhiên 40 hình ảnh biểu hiện cảm xúc và trạng thái tâm lý của những người tham gia nghiên cứu. Dựa theo hình ảnh, các nhà nghiên cứu xếp loại cảm xúc của những người tham gia từ cực kỳ sảng khoái, hài lòng (ví dụ như, trẻ em luôn tươi cười, chạy giỡn nô đùa với các bạn xung quanh), cho đến không biểu hiện cảm xúc (ngồi yên, không biểu hiện cảm xúc hoặc làm những động tác vô nghĩa); và cảm giác khó chịu, cực kỳ không sảng khoái (cảm giác ức chế, hoặc bồn chồn khó chịu, cáu gắt).
Trong 40 hình ảnh ghi nhận được sau khi nghiên cứu, có 10 trường hợp cảm giác cực kỳ thoải mái dễ chịu và tươi tắn; năm trường hợp cảm thấy nôn nao, 10 trường hợp không cảm thấy thay đổi; và năm trường hợp ghi nhận cảm xúc thay đổi theo chiều hướng không thoải mái.
Dựa vào các phương pháp thống kê, các nhà nghiên cứu ghi nhận, khoảng 20% trường hợp giảm cảm xúc thoải mái khi dùng thuốc có chứa paracetamol, và 10% trường hợp giảm cảm xúc khó chịu.
Theo các nhà khoa học, paracetamol là thuốc giảm đau có tác dụng một phần lên thùy đảo, một thùy của thùy thái dương ở não bộ con người. Thùy đảo còn có chức năng biểu hiện cảm xúc.
Dù cơ chế tác dụng của acetaminophen chưa được chứng minh rõ ràng, nhưng theo các bác sĩ, việc sử dụng acetaminophen có ảnh hưởng thay đổi cảm xúc của người sử dụng. Vì vậy, không nên sử dụng thuốc giảm đau paracetamol đại trà và người sử dụng nên hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi dùng.
Theo Luân Nguyễn - Phụ nữ TP.HCM
Psychology Science - The Guardian

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Statin làm tăng nguy cơ đái tháo đường

Khảo sát của các nhà khoa học Phần Lan nêu khả năng tăng nguy cơ bệnh đái tháo đường type 2 ở người sử dụng statin - loại thuốc rất thông dụng để giảm mức cholesterol cao trong cơ thể.




Trong công trình vừa được công bố trên tạp chí của Hội Nghiên cứu đái tháo đường châu Âu Diabetologia, các nhà khoa học đã theo dõi 9.000 đàn ông 45 - 73 tuổi, không bị đái tháo đường và 1/4 trong nhóm này sử dụng statin. 
Khoảng 6 năm sau, nhóm nghiên cứu phát hiện 625 trường hợp đái tháo đường. Sau khi đã tính toán đến những yếu tố nguy cơ gây đái tháo đường khác, các nhà khoa học nhận thấy người dùng statin dễ bị đái tháo đường hơn 46% so với người không dùng.
Statin được xem là thuốc dùng để hạ cholesterol phổ biến nhất Ảnh: BBC
Statin được xem là thuốc dùng để hạ cholesterol phổ biến nhất Ảnh: BBC
Nhóm nghiên cứu cho rằng statin có thể làm tăng kháng insulin và làm mất cân bằng khả năng tiết insulin của tuyến tụy. Phân tích cho thấy statin kéo giảm độ nhạy insulin xuống thấp hơn 24% và giảm tiết insulin 12%. 
Hai loại statin bị phát hiện làm tăng nguy cơ bệnh này là simvastatin và atorvastatin. Theo đó, simvastatin liều cao làm tăng 44% nguy cơ đái tháo đường và tỉ lệ này là 28% ở liều thấp. Atorvastatin liều cao tăng 37% nguy cơ bệnh này.
Theo Trúc Lâm - Người lao động

Prednisolon có thể gây yếu cơ

Prednisolon là một loại thuốc chống viêm corticosteroid. Prednisolon tôi được chỉ định khi cần đến tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch.

Prednisolon là một loại thuốc chống viêm corticosteroid. Prednisolon tôi được chỉ định khi cần đến tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch: Viêm khớp dạng thấp, luput ban đỏ toàn thân, một số thể viêm mạch; Viêm động mạch thái dương và viêm quanh động mạch nút, bệnh sarcoid, hen phế quản, viêm loét đại tràng, thiếu máu tan huyết, giảm bạch cầu hạt và những bệnh dị ứng nặng gồm cả phản vệ.
Tôi còn được dùng điều trị cho bệnh nhân ung thư như bệnh bạch cầu cấp, u lympho, ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt ở giai đoạn cuối.
Tuyệt đối không dùng tôi cho bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng, trừ sốc nhiễm khuẩn và lao màng não, bệnh nhân đã biết quá mẫn với prednisolon, bệnh nhân nhiễm khuẩn da do virut, nấm hoặc lao, bệnh nhân đang dùng vắc-xin virut sống.
Sử dụng thận trọng ở người bệnh loãng xương, người mới nối thông (ruột, mạch máu), rối loạn tâm thần, loét dạ dày, loét tá tràng, đái tháo đường, tăng huyết áp, suy tim và trẻ đang lớn. 
Do nguy cơ có những tác dụng không mong muốn nên phải sử dụng thận trọng corticosteroid toàn thân cho người cao tuổi, với liều thấp nhất và trong thời gian ngắn nhất có thể được. 
Suy tuyến thượng thận cấp có thể xảy ra khi ngừng thuốc đột ngột sau thời gian dài điều trị hoặc khi có stress. Bạn nên nhớ khi tiêm trong khớp cần đảm bảo vô khuẩn tuyệt đối; Khi dùng liều cao, có thể ảnh hưởng đến tác dụng của tiêm chủng vắc-xin.
Trẻ em có thể nhạy cảm hơn với sự ức chế tuyến thượng thận khi điều trị thuốc bôi tại chỗ. Nên cẩn thận khi dùng prednisolon cho phụ nữ mang thai và cho con bú.
Khi dùng tôi, bạn có thể gặp một số tác dụng phụ, thường gặp là: mất ngủ, thần kinh dễ bị kích động, tăng ngon miệng, khó tiêu, rậm lông, đái tháo đường, đau khớp, đục thủy tinh thể, glôcôm, chảy máu cam...
Nên tránh dùng cùng một số loại thuốc để tránh những tương tác có thể gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của bạn: ciclosporin, erythromycin, phenobarbital, phenytoin, carbamazepin, ketoconazol, rifampicin. Phenytoin, phenobarbital, rifampicin và các thuốc lợi tiểu giảm kali huyết có thể làm giảm hiệu lực của prednisolon, thuốc chống viêm không steroid...
Không dùng glucocorticoid dài ngày vì tôi có thể gây ra hội chứng dạng Cushing, yếu cơ và loãng xương. Trong những trường hợp này cần cân nhắc để có quyết định đúng đắn tạm ngừng hoặc ngừng hẳn việc dùng glucocorticoid.
Theo Nguyễn Khoa - Sức khỏe và Đời sống

Nhiều vitamin tiếp tay cho bệnh ung thư

Bạn hẳn sẽ sốc khi biết rằng một số vitamin là con dao hai lưỡi, có thể làm tăng nguy cơ ung thư, hoặc làm bệnh ung thư nặng lên.

Theo Mi Trần - Kiến thức

Để dùng an toàn thuốc uống chống ngạt mũi

Pseudoephedrine là thuốc được dùng theo đường uống để chống sung huyết mũi. Cụ thể, thuốc có tác dụng kích thích trực tiếp trên thụ thể alpha ở niêm mạc đường hô hấp gây co mạch.

Pseudoephedrine là thuốc được dùng theo đường uống để chống sung huyết mũi. Cụ thể, thuốc có tác dụng kích thích trực tiếp trên thụ thể alpha ở niêm mạc đường hô hấp gây co mạch, làm giảm các triệu chứng sung huyết, phù nề niêm mạc mũi, làm thông thoáng đường thở, tăng dẫn lưu dịch mũi xoang, vì thế mà làm giảm tạm thời các triệu chứng sung huyết mũi đi kèm với viêm mũi dị ứng, viêm mũi vận mạch hoặc viêm mũi cấp do cảm lạnh.
Thuốc có thể được dùng đơn độc hoặc phối hợp với một số thuốc khác như acetaminophen (hạ sốt, giảm đau), clorpheniramin (chống dị ứng), dextromethorphan (thuốc giảm ho)... để làm giảm bớt các triệu chứng ngạt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi do dị ứng hay không do dị ứng.
Để dùng an toàn thuốc uống chống ngạt mũiKhi bị ngạt mũi cần đi khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để được chỉ định dùng thuốc phù hợp
Không giống các thuốc tại chỗ chống ngạt mũi, uống pseudoephedrin không gây hoặc ít gây hiện tượng ngạt mũi nặng trở lại khi ngừng thuốc. Nhưng trong quá trình dùng thuốc, một số tác dụng phụ có thể xảy ra như nhịp tim nhanh, lo lắng, bồn chồn, mất ngủ… Đây là những tác dụng phụ thường gặp nhất. Ngoài ra, thuốc có thể gây ban đỏ, ảo giác, bí tiểu, glocom góc đóng.
Để dùng thuốc được an toàn,, hiệu quả không dùng pseudoephedrin để điều trị tắc mũi do viêm xoang. Trẻ em dưới 2 tuổi không có liều cụ thể được khuyến cáo cần tham khảo ý kiến của bác sĩ nhi khoa. 
Đối với dạng giải phóng kéo dài, chỉ dùng cho người lớn và trẻ em trên 12 tuổi (vì uống loại viên này không được nhai, phải uống cả viên, nên dùng cho đối tượng từ trẻ lớn trở lên mới nuốt được). Không nên dùng quá liều chỉ định.
Đối với các trường hợp sau cần phải dùng rất thận trọng, đó là: bệnh nhân ưu năng tuyến giáp, đái tháo đường, tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim, phì đại tuyến tiền liệt gây đái khó, dùng viên pseudoephedrin dạng giải phóng kéo dài đối với người bệnh có hẹp/tắc nghẽn dạ dày - ruột. 
Trừ khi được thầy thuốc hướng dẫn, tất cả những người bệnh tự ý dùng pseudoephedrin được khuyên ngừng thuốc nếu thấy xuất hiện các triệu chứng như dễ cáu gắt, căng thẳng, chóng mặt, mất ngủ, hoặc khi triệu chứng sung huyết mũi vẫn tồn tại quá 7 ngày hoặc kèm theo sốt. 
Những bệnh nhân dùng viên giải phóng kéo dài cần ngừng thuốc và tham vấn ý kiến bác sĩ nếu thấy đau bụng hoặc nôn kéo dài. Thận trọng khi dùng thuốc cho trẻ em dưới 2 tuổi và người già trên 60 tuổi vì nguy cơ độc tính cao.
Không được dùng thuốc trong các trường hợp tăng huyết áp nặng, bệnh mạch vành nặng, glôcôm góc đóng, bí tiểu, đang dùng hoặc mới dùng (trong vòng 2 tuần) thuốc ức chế MAO hoặc người mẫn cảm với thuốc.
Theo DS Hoàng Thu - Sức khỏe và Đời sống
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons