Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Vì sao phụ nữ có thai cần bổ sung canxi?

Trong thời kỳ có thai, nếu người mẹ thiếu canxi, mặc dù có sự phân giải hợp chất canxi trong xương phóng thích vào máu để đáp ứng nhu cầu, nhưng sự đáp ứng này chỉ có giới hạn.

Trong thời kỳ có thai, nếu  người mẹ thiếu canxi, mặc dù có sự phân giải hợp chất canxi trong xương phóng thích vào máu để đáp ứng nhu cầu, nhưng sự đáp ứng này chỉ có giới hạn. Thai nhi không thể tránh khỏi cácảnh hưởng xấu khi thiếu canxi: chậm phát triển, bệnh còi xương bẩm sinh, chứng khò khè bẩm sinh, dị dạng xương…
Trong thời kỳ cho con bú, nếu thiếu canxi, sữa mẹ kém chất lượng, trong 100ml sữa không có đủ 34mg canxi. Từ đó, trẻ sẽ bị thiếu, có các biểu hiện như dễ bị giật mình, ngủ không yên, hay quấy khóc hoặc co giật. Những biểu hiện thiếu canxi ngày một rõ, xuất hiện vài ba ngày, vài tuần hay 1 tháng sau sinh.
Vì sao phụ nữ có thai cần bổ sung canxi?
Thiếu canxi còn trực tiếp gây hại cho bà mẹ. Khi có thai thường tê chân, mệt mỏi, mất ngủ; khi nuôi con bú, cơ thể suy yếu, đổ mồ hôi trộm, dễ sinh ra đau lưng, đau vai, đau khớp. Sự thiếu canxi hấp thu trường diễn sau nhiều lần sinh là tiền đề gây loãng xương khi bước vào tuổi mãn kinh.
Trước hết, cần bổ sung canxi bằng cách ăn uống các thực phẩm chứa nhiều canxi. Một số thức ăn chứa nhiều canxi là: cua đồng, tôm đồng, sữa bột, sữa bò và dê tươi, sữa bột đậu nành, cà rốt, vừng... 
Để tạo thuận lợi cho việc hấp thu canxi, nên ăn uống cân đối, năng lượng do chất béo chiếm 20 - 30%, protein không quá 20%, còn lại là glucid, rau xanh và hoa quả tươi. Nhưng cần chú ý, không ăn rau cùng lúc với việc uống thuốc canxi vì cellulose trong rau dễ giữ hết canxi.
Ngoài ra, trong thời kỳ có thai và cho con bú, cần bổ sung canxi bằng thuốc, tốt nhất là dùng loại biệt dược chứa canxi và vitamin D3, tuy nhiên, cần sử dụng theo chỉ dẫn của nhân viên y tế vì thừa canxi hay vitamin D đều gây hại cho cơ thể. 
Một điểm cần chú ý, thai phụ khỏe mạnh dùng biệt dược chứa canxi nào cũng được; Nhưng có một số trường hợp phải cân nhắc: người bị đái tháo đường không nên dùng biệt dược chứa calcigluconat, người cần kiêng muối không dùng biệt dược canxi có chứa nhiều natri. Người cần dùng lâu dài, không dùng loại biệt dược có thể tạo acid lactic.

Khi thuốc “đá” thuốc

Theo định nghĩa, tương tác thuốc là những thay đổi về tác động của một loại thuốc do tác động của một loại thuốc khác khi sử dụng cùng lúc (tương tác giữa thuốc và thuốc).

Trong trị liệu, đôi khi thầy thuốc lợi dụng sự tương tác thuốc nhằm làm tăng tác động của từng loại khi được sử dụng kết hợp. Tuy nhiên, một cách tổng quát thì tương tác thuốc thường có hại. Thông thường, sự tương tác thuốc xảy ra ở các loại thuốc kê toa, tuy nhiên vẫn có thể xảy ra ở những loại thuốc không cần kê toa quen thuộc như aspirin, thuốc kháng acid...
Khi tác động của một loại thuốc trong cơ thể bị thay đổi bởi sự hiện diện của một thuốc khác, thì tác động của thuốc có thể bị tăng hoặc giảm và đều gây ra kết quả xấu. Hai thuốc sử dụng cùng một lúc có thể tạo ra một phản ứng mới vô cùng nguy hiểm hoặc có thể triệt tiêu tác động lẫn nhau.
* Một số tương tác thuốc phổ biến
- Muối thay thế muối bếp (dùng cho những bệnh nhân kiêng muối ăn) sẽ tương tác với thuốc lợi tiểu loại potassium-sparing làm tăng nồng độ potassium (kali) trong máu, gây buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, yếu cơ, thậm chí ngưng tim (cardiac arrest).
- Thuốc giảm sung huyết (decongestants) tương tác với các thuốc lợi tiểu làm tăng huyết áp.
- Thuốc kháng acid tương tác với các thuốc kháng đông máu.
- Aspirin làm tăng tác động của các thuốc kháng đông máu.
- Thuốc kháng histamines làm tăng tác động của các thuốc ngủ barbiturates, các thuốc an thần (tranquilizers) và một số thuốc giảm đau.
- Chế phẩm bổ sung sắt sẽ "vịn" các kháng sinh tại bao tử, ngăn cản sự hấp thu của các thuốc kháng sinh vào hệ tuần hoàn máu.
- Thuốc trị cao huyết áp dùng chung với thuốc tim mạch digitalis (Lanoxin) sẽ gây nên nhịp tim bất thường.
- Thuốc kháng đông dùng chung với thuốc ngủ sẽ làm giảm tác động của thuốc kháng đông.
- Phụ nữ đang dùng thuốc tránh thai nếu sử dụng kháng sinh thì tác động tránh thai của thuốc sẽ bị giảm.
- Những thuốc kháng viêm không steroid (nonsteroidal antiinflammatory drugs - NSAIDs) làm cơ thể giữ muối và nước. Do đó sẽ làm giảm hoặc triệt tiêu tác động của các thuốc lợi tiểu.
- Các loại thuốc chẹn beta như propanolol chống lại tác động của một số thuốc trị hen suyễn.
Một số tương tác giữa thực phẩm và dược phẩm cũng có thể gây ra một số tác dụng phụ nguy hiểm. Thực phẩm có thể làm tăng hoặc giảm hoạt động của thuốc. Một số thuốc lại ngăn cản sự hấp thu của một số vitamin và khoáng chất có trong thực phẩm. 
Thuốc có thể làm thay đổi cách thức mà cơ thể sử dụng chất dinh dưỡng cũng như làm biến đổi vị giác. Hóa chất trong khói thuốc có thể làm tăng hoạt động của men gan, do đó sẽ làm giảm tác động của một số thuốc giảm đau và một số thuốc dùng điều trị các bệnh về phổi.
Kháng sinh tetracycline sẽ không được hấp thu đúng nếu bệnh nhân uống sữa hoặc ăn những thực phẩm chế biến từ sữa hoặc thực phẩm có chứa canxi.
Mặc dù sự tương tác thuốc có thể gây ra những tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe, nhưng vẫn tránh được bằng sự định hướng thích hợp cho bệnh nhân cũng như sự quan tâm của thầy thuốc đến tiền sử bệnh, việc sử dụng dược phẩm... của bệnh nhân.




Khi nào cần cho trẻ uống vitamin C?

Trong cơ thể chúng ta, nhất là cơ thể trẻ em, chỉ cần một lượng vitamin nói chung và vitamin C nói riêng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu chúng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là sự phát triển của trẻ nhỏ. 
Vitamin C có vai trò rất quan trọng, nó tham gia vào nhiều chức năng sinh lý đảm bảo cho sự phát triển và hoạt động của trẻ, trong đó có một số vai trò hay được nhắc đến như: tham gia vào quá trình tạo máu, tham gia vào sự liên kết vững bền của tế bào trong các tổ chức, giúp cơ thể phòng chống bệnh tật nhất là các bệnh nhiễm khuẩn.
Khi nào cần cho trẻ uống vitamin C?
Điều đáng lưu ý là vitamin C không bền, dễ hòa tan trong nước và dễ bị phân hủy ở nhiệt độ cao cho nên những thức ăn được chế biến sẵn hoặc để lâu ngày đều bị mất gần hết vitamin C. Đây là loại vitamin tan trong nước nên không tích lũy trong cơ thể, vì vậy nó cần được cung cấp hàng ngày.
Cách cung cấp vitamin C tốt nhất cho cơ thể là thông qua ăn uống, vì nó có rất nhiều trong rau xanh, củ quả tươi như cam, cà rốt, cà chua... nhưng với điều kiện là hoa quả phải còn tươi và cần cho trẻ ăn nhiều loại rau quả khác nhau. Tốt nhất là mùa nào thức ấy.
Đối với bà mẹ đang cho con bú cần ăn nhiều rau quả hơn để tăng lượng vitamin C qua sữa, nếu người mẹ không đủ sữa hoặc nuôi con bằng sữa ngoài như trường hợp của bạn cần phải bổ sung nguồn vitamin C bằng hoa quả tươi. Nếu trẻ không ăn được nhiều thì có thể cân nhắc sử dụng vitamin C dạng thuốc, nhưng phải do bác sĩ chỉ định.



Thừa vitamin, nguy hiểm khôn lường

Hiện nay, các thuốc vitamin dạng phối hợp có bán khá phổ biến tại nhà thuốc nên tình trạng lạm dụng đã gây hại cho người sử dụng. Các vitamin đều rất thiết yếu với cơ thể con người, nhưng việc dùng chúng quá liều có thể gây ra những tác động bất lợi, làm suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể.
Các bổ sung vitamin tốt nhất cho cơ thể là qua chế độ ăn uống hàng ngày. Hình minh họa
Theo DS Nga Quỳnh Anh, vitamin không phải là thuốc bổ như quan niệm của nhiều người. Sử dụng vitamin quá liều, không đúng quy định cũng có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt, thậm chí nguy hiểm cho người sử dụng. Tại một số cơ sở y tế đã ghi nhận những báo cáo ADR (phản ứng có hại của thuốc) do dùng các vitamin gây ra.
Khi thừa vitamin A có thể gây ngộ độc với ác triệu chứng đặc trưng là: Mệt mỏi, dễ bị kích thích, chán ăn, sút cân, nôn, rối loạn tiêu hóa, sốt, gan - lách to, da bị biến đổi, rụng tóc, tóc khô ròn, môi nứt nẻ và chảy máu, thiếu máu, nhức đầu, calci huyết cao, phù nề dưới da, đau ở xương và khớp.
Thừa vitamin A cũng có thể gây quái thai, vì vậy không nên dùng cho mẹ ngay trước thời kỳ mang thai và đặc biệt không nên dùng cho phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu.
Khi dùng vitamin D liều cao hoặc kéo dài thì xảy ra hiện tượng cường vitamin D dẫn đến trẻ chán ăn, mệt mỏi, nôn, dày màng xương, làm tăng canxi máu; ở trẻ dưới 1 tuổi có thể gây kích thích, co giật, xương hóa sụn sớm. Với người lớn, liều cao có thể gây chán ăn, nôn, tiêu chảy, rối loạn tâm thần, thậm chí có thể tử vong.
Sử dụng liều cao vitamin C (hơn 1g/ngày) theo đường uống có thể gây viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu chảy, sỏi thận khi dùng dài ngày. Nếu lạm dụng qua đường tiêm sẽ gây toan huyết hoặc có thể gây tan máu, mất ngủ, kích động, sỏi thận, giảm tiết insulin, giảm thời gian đông máu...
Biểu hiện dài ngày có thể bị viêm loét dạ dày, tiêu chảy và đau bụng, ngoài ra còn có thể đọng oxalate, urat dễ gây sỏi thận. Nếu dùng đường tiêm liều cao có thể gây tán huyết làm giảm thời gian đông máu.
Nếu dùng quá liều vitamin E (dùng liều cao trên 300UI/ngày) gây rối loạn tiêu hóa, đau đầu, rối loạn thị giác, ức chế chức năng sinh dục, gây tổn thương thận nếu dùng liều cao hơn nữa sẽ ức chế sinh dục, tổn thương chức năng thận.
Vitamin nhóm B ít khi thấy thừa trong cơ thể, một phần vì cơ thể không tự tổng hợp được, phải dựa vào nguồn thực phẩm, mặt khác, vì chúng rất dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ cao và điều kiện bảo quản không tốt. Tuy nhiên, khi lạm dụng vitamin B dưới dạng thuốc, tiêm hoặc truyền cũng sẽ gây nên những phản ứng không mong muốn.
Thừa vitamin B6 có thể dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ, giảm tiết prolactin. Biểu hiện là các rối loạn viêm da, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nhức đầu, mệt mỏi, chảy máu và những triệu chứng khác. Thừa vitamin B12 có thể gây hoạt hóa hệ đông máu làm tăng đông, gây tắc mạch.
Theo các chuyên gia y tế, cách tốt nhất để cơ thể hấp thụ vitamin là thông qua một chế độ ăn uống lành mạnh với nhiều trái cây và rau với những loại thực phẩm như rau củ quả, nấm, gan, trứng, sữa hay cá biển.
Việc bổ sung các loại vitamin tổng hợp không những mang đến rất ít lợi ích, mà còn có thể gây hại cho cơ thể nếu dùng quá liều. Vì vậy, như bất cứ một loại thuốc nào, hãy thận trọng, ngay cả với các vitamin.



Thuốc viêm khớp hại dạ dày

dinh chi thuocThủng dạ dày vì thuốc viêm khớp
Bà Nguyễn Thị Lan (65 tuổi, Thanh Trì, Hà Nội) bị thoái hóa khớp gối nên thường xuyên bị đau nhức. Bà lúc nào cũng thủ sẵn vài viên thuốc giảm đau, cứ đau thì mang ra uống, đỡ đau thì dừng thuốc. 
Gần đây thấy đau nặng, uống thuốc cũng chẳng ăn thua, bà Lan mới đến khám bác sĩ thì được kê cho thuốc Diclofenac về uống. Uống thuốc khoảng 2 ngày thì bà đau bụng không chịu nổi, ăn vào là nôn, nằm nghỉ cũng không đỡ. Người nhà vội đưa bà vào viện thì mới biết bà bị thủng dạ dày vì dùng thuốc.
Cùng hoàn cảnh vời bà Lan, chị Trần Thu Trâm (40 tuổi, ở Q.10, TPHCM) cũng đang rơi vào tình trạng khóc dở, mếu dở. Số là chị Trâm mắc bệnh thấp khớp đã lâu. Mặc dù đã tốn nhiều thời gian, công sức điều trị nhưng bệnh tình vẫn cứ nhì nhằng không khỏi hẳn. Thi thoảng trời mưa các khớp gối của chị Trâm lại lên cơn đau bất thường. 
Không chịu được chị đến khám bác sĩ và cũng được kê thuốc diclofenac để giảm đau, chống sưng. Dùng được một thời gian chị Trâm thấy bệnh tình thuyên giảm trông thấy. Nhưng sau một thời gian dùng thuốc, thì chị Trâm thường xuyên mắc ói, bụng cồn cào, nhiều khi đau thắt, vã mồ hôi. Tuần trước, chị Trâm đi khám các bác sĩ cho biết chị mắc thêm chứng bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng do dùng thuốc quá liều.
Theo DS Lê Thị Thanh, Công ty Dược IMS Việt Nam: Thuốc Diclofenac là một loại thuốc giảm đau, giảm sưng khớp hiệu quả, thường được dùng trong trị viêm khớp, thấp khớp cấp, thoái hóa khớp... 
Cơ chế của thuốc là ức chế men cyclooxygenase để ngăn chặn sự hình thành chất trung gian hóa học prostaglandin - nguyên nhân gây đau nhức xương khớp. Nhưng loại thuốc này thường gây tác dụng phụ cho dạ dày, bởi khi men cyclooxygenase bị ức chế, chất nhầy bảo vệ ở dạ dày sẽ không được tiết ra đầy đủ khiến cho dạ dày của người bệnh dễ bị viêm loét, chảy máu, thậm chí có thể gây thủng dạ dày dẫn tới tử vong.
Những lưu ý khi dùng thuốc
Khi sử dụng thuốc nên uống nguyên viên thuốc, không nhai, bẻ. Uống trong hoặc sau khi ăn. Nếu đau nhiều vào sáng sớm khi ngủ dậy thì nên uống thuốc vào buổi đêm trước khi đi ngủ. Liều thông thường: người lớn ngày 1 viên (100mg). Nếu cần có thể tăng liều đến 150mg/ngày bằng cách phối hợp với dạng viên nén hoặc viên đạn hàm lượng 25mg, 50mg.
Không dùng thuốc cho những người mắc bệnh viêm loét dạ dày- tá tràng, trẻ em dưới 15 tuổi, người mẫn cảm với các thành phần của thuốc. Những bệnh nhân mắc bệnh gan thận, hoặc đang uống thuốc trợ giúp gan thận, rối loạn máu, phụ nữ đang mang thai hoặc đang cho con bú.
Một số tác dụng phụ thường gặp
Trên đường tiêu hóa: Có thể gây đau thượng vị, buồn nôn, đầy hơi, tiêu chảy, loét dạ dày, thậm chí có thể dẫn tới thủng dạ dày.
Trên thần kinh: Gây hiện tượng đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, thường xuyên buồn ngủ.
Tương tác với các thuốc khác: Diclofenac làm tăng nồng độ máu của lithium, digoxin, các thuốc chữa tăng huyết áp khi dùng chung, nên làm tăng tác dụng phụ của các thuốc này. Làm tăng nguy cơ gây xuất huyết nếu dùng chung với thuốc chống đông máu và có thể gây suy thuận thứ phát nếu dùng chung với thuốc lợi tiểu.



Thuốc cần tránh ngày "đèn đỏ"

den-do
Thuốc đặt âm đạo: Theo lời khuyên của BS Nguyễn Thị Thúy Hà, Phòng khám và tư vấn sản phụ khoa 68 (Dốc Phụ sản Hà Nội), chị em dù đã được kê toa thuốc đặt âm đạo, nhưng đang còn kinh thì cũng chưa đặt. Bạn cần đợi khi sạch kinh mới đặt thuốc và liệu trình đặt thuốc phải chấm dứt trước kỳ kinh tiếp theo.
Thuốc đặt âm đạo có tác dụng kháng viêm nấm. Nhưng nếu đặt trong khi bạn đang có kinh thì thuốc không hiệu quả mà còn làm gia tăng viêm nhiễm. Nguyên nhân là trong kỳ kinh, màng nhầy tử cung xuất huyết, miệng tử cung mở rộng,đặt thuốc âm đạo sẽ giống như tạo cột chống để mở cửa tử cung cho vi khuẩn dễ dàng xâm nhập.
Thuốc chống đông máu: Đây là thuốc dùng để chống hình thành cục máu đông ở tĩnh mạch, tĩnh mạch, tim dành cho người có huyết khối. Chúng có thể khiến máu của bạn "loãng" hơn, đồng thời trong kỳ kinh, lượng tiểu cầu và yếu tố đông máu giảm xuống. 
Do vậy dùng thuốc trong giai đoạn hành kinh có thể khiến bạn tăng lượng máu kinh gây mất nhiều máu, mệt mỏi. Khi thấy tình trạng máu kinh ra nhiều hơn bình thường, bạn hãy nói với bác sĩ điều trị để có thể tạm dừng hoặc giảm liều lượng.
Thuốc nhuận tràng: Các loại nhuận tràng tăng nhu động ruột, dạ dày nhằm mục đích giảm táo bón. Nhưng trong kỳ kinh, nhu động ruột, dạ dày mạnh có thể làm tăng co bóp đẩy máu kinh ra nhiều hơn. Vì vậy trong kỳ kinh, bạn nên hạn chế dùng thuốc nhuận tràng có tính tẩy mạnh.
Thuốc có estrogen: Trong kỳ kinh, lượng hormone sinh dục thay đổi, nên việc uống thêm hormone này dễ gây ra rối loạn nội tiết. Một số chị em dùng thuốc có hormone để điều hòa kinh nguyệt nhưng một số khác có thể đau bụng dữ dội, ra nhiều máu trong kỳ kinh nguyệt lại do liên quan tới vấn đề cường estrogen.
Vì vậy, nếu bạn dùng thuốc có hàm lượng estrogen lớn (thuốc kích thích tình dục, thuốc tránh thai…) thì càng làm tăng cơn đau và rối loạn kinh. Thông thường các thuốc chỉ riêng estrogen chỉ nên dành cho phụ nữ ở tuổi mãn kinh, cho những người thiếu estrogen. Nếu trong độ tuổi kinh nguyệt, bạn nên dùng thuốc có kết hợp giữa thuốc có estrogen và progesteron. Các loại thuốc này cần có sự tư vấn của bác sĩ.
Thuốc cầm máu: Bạn có thể phải dùng thuốc cầm máu khi bị rong kinh kéo dài hoặc điều trị một số dạng xuất huyết (tiêu hóa, chảy máu vết thương…). Nhưng nếu trong kỳ kinh nguyệt, bạn dùng thuốc cầm máu có thể khiến cho lượng máu kinh ra không đều, tạo cục máu đông. 
Vì vậy nếu đang phải dùng loại thuốc này, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ, có thể dùng giảm liều trong ngày "đèn đỏ".



Tự ý dùng thuốc "kéo dài tuổi xuân"- hậu quả khó lường

Hiện nay một số chị em nghe nói đến việc dùng thuốc chứa hormone sinh dục nữ estrogen giúp chữa rối loạn ở phụ nữ mãn kinh. Nhưng họ lại hiểu lầm công dụng của thuốc này.


keo-dai-tuoi-xuanCơ chế "kéo dài tuổi xuân" được thực hiện như thế nào?
Hoạt động nội tiết của buồng trứng phụ nữ có thể bắt đầu bị rối loạn từ tuổi 45 trở đi, sau đó ngưng hoạt động ở tuổi 50 hoặc có thể kéo dài đến 55. Sự rối loạn thể hiện ở chỗ buồng trứng teo dần, không còn khả năng tiết ra estrogen. 
Chính sự giảm dần, thiếu hụt hormone giới tính này đã dẫn đến các rối loạn như: rối loạn vận mạch làm bừng bốc hỏa, âm hộ - âm đạo teo làm giao hợp đau, rối loạn trầm cảm, dễ bị loãng xương, tăng mỡ trong máu...
Với liệu pháp hormone thay thế phải được bác sĩ khám và chỉ định thuốc, nếu tự ý dùng rất nguy hiểm. Bác sĩ chuyên khoa sẽ cho bệnh nhân dùng thuốc là dẫn chất estrogen, thường kết hợp thêm dẫn chất progesteron hay còn gọi progestin (progestin và estrogen là hai hormone giúp phụ nữ có kinh nguyệt và thụ thai) nhằm bổ sung sự thiếu hụt mà cơ thể không thích ứng được và bị rối loạn. 
Tuy nhiên, do không hiểu cụ thể cơ chế làm việc của loại thuốc này, rất nhiều phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh đã tự ý mua thuốc về dùng như một loại thuốc bổ.
Có thể gây ra nhiều nguy cơ
Tổ chức Hành động vì sức khỏe phụ nữ phối hợp với Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ đã thực hiện hai công trình nghiên cứu lớn đánh giá việc sử dụng thuốc phối hợp estrogen và progestin để ngừa bệnh tim mạch và chứng sút giảm trí nhớ ở phụ nữ tuổi mãn kinh. 
Kết quả là liệu pháp hormone thay thế lại làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, huyết khối, ung thư vú và không ngừa được sự sút giảm trí nhớ mà còn làm tăng nguy cơ mất trí nhớ ở phụ nữ trên 65 tuổi.
Thuốc không chỉ định cho phụ nữ mãn kinh dùng thuốc phối hợp estrogen và progestin để bảo vệ tim mạch, ngừa nhồi máu cơ tim, đột quy và ngừa suy giảm trí nhớ. Liều dùng thuốc là ở liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn.
Khi dùng liệu pháp hormone thay thế, các bác sĩ chuyên khoa nên khám lâm sàng toàn diện, cho làm phiến đồ âm đạo, cổ tử cung, chụp tuyến vú, xét nghiệm đo lipid máu… Ngoài ra, thuốc còn chống chỉ định đối với phụ nữ bị nghi ngờ có thai, chảy máu bất thường âm đạo, có tiền sử bị nhồi máu cơ tim hay bị huyết khối, có bệnh về gan...



 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons