Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Các thuốc gây độc cho gan

Phần lớn thuốc khi vào cơ thể được chuyển hóa tại gan trước khi được đào thải qua đường mật hoặc qua thận. Bình thường, thuốc đưa vào cơ thể là chất không độc, nhưng sau khi được chuyển hóa tại gan, một số thuốc trở thành chất gây độc với chính bản thân gan.
Thuốc có thể gây độc cho gan ở các mức độ khác nhau từ nhẹ đến hoại tử rất nặng, bệnh có thể cấp tính nhưng cũng có thể mạn tính. Bệnh thường xuất hiện trong vòng từ 5 - 90 ngày sau khi dùng thuốc, với biểu hiện rất khác nhau từ chán ăn, mệt mỏi cho đến vàng da, nước tiểu vàng, đau tức vùng gan, xuất huyết dưới da, thậm chí có thể xuất hiện xuất huyết tiêu hóa, hôn mê gan, suy gan nặng dẫn đến tử vong. 
Với sự ra đời của nhiều thuốc mới, danh sách các thuốc gây độc cho gan ngày càng dài thêm, trong đó phải kể đến các nhóm thuốc như giảm đau hạ sốt, thuốc kháng virut, thuốc điều trị lao...
Một số thuốc rất độc với gan, gây nên các bệnh gan mạn tính.Một số thuốc rất độc với gan, gây nên các bệnh gan mạn tính.
Thuốc kháng retrovirus
Phần lớn các thuốc kháng retrovirus ức chế men transcriptase ngược hay kháng protease, gây viêm gan. Tổn thương gan rất đa dạng từ nhiễm mỡ gan đến viêm gan cấp, tiến triển bệnh có thể dẫn đến tử vong. Cơ chế gây độc rất đa dạng hoặc do tạo thành các chất chuyển hóa gây phản ứng và ức chế chuyển hóa ở các thể hạt trong gan, hoặc có thể tác động đến gan do kích động lại các bệnh viêm gan siêu vi B và C.
Thuốc giảm đau hạ sốt paracetamol
Đây là thuốc dùng phổ biến để điều trị giảm sốt. Thuốc gây độc cho gan tùy theo liều sử dụng. Khi điều trị cần chú ý xem xét liều lượng gây độc cho gan. Với liều nhỏ hơn 2 - 3g/ngày, paracetamol thấy an toàn và bệnh nhân chịu đựng được. 
Khi dùng đường uống với liều lớn hơn 10 - 15g sẽ đưa đến tổn thương gan nặng thường sẽ tử vong, liều này dùng khi có ý định tự sát. Tổn thương gan do paracetamol là dạng phổ biến của bệnh gan do thuốc. 
Ở người nghiện rượu, liều paracetamol thông thường điều trị vẫn có thể gây độc cho gan, vì vậy phải cẩn thận khi dùng paracetamol cho người nghiện rượu, không dùng nước uống có cồn để uống paracetamol.
Thuốc chống lao
Các thuốc như isoniazid, rifampicin, streptomycin..., đặc biệt là isoniazid (INH). Từ giữa thế kỷ 20, INH là thuốc điều trị chính cho bệnh lao. Sự tăng men gan xuất hiện vài tuần sau khi bắt đầu điều trị lao khoảng 10 - 20% bệnh nhân dùng INH. 
Sự tăng men gan này thường ở mức vừa phải và không liên quan dấu hiệu hay triệu chứng bệnh gan. Ở nhiều bệnh nhân tăng men gan tiếp tục dùng INH vẫn chịu đựng được và có thể sau đó men gan lại trở về gần bình thường. 
Nếu có tăng men gan, ngưng dùng INH thì men gan trở về bình thường trong vòng 1 - 4 tuần. Tuy nhiên vẫn có ít bệnh nhân khi dùng INH có thể suy gan cấp (có thể xảy ra khoảng 0,1 - 2% bệnh nhân). 
Bệnh nhân lớn hơn 50 tuổi có nhiều nguy cơ bị viêm gan khi dùng INH, trẻ em ít khi có tổn thương gan xảy ra. Bệnh nhân nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn nam. Khi điều trị nên theo dõi kỹ để phát hiện viêm gan do INH để ngưng điều trị kịp thời, tránh ảnh hưởng nặng cho gan.
Vitamin A
Uống vitamin A quá nhiều là nguyên nhân gây ngộ độc gan phụ thuộc vào liều lượng có thể đưa đến xơ gan. Uống thường xuyên liều lớn vitamin A (>25.000 đơn vị/ngày) có thể gây ngộ độc mạn tính và tổn thương gan. 
Tổn thương gan có thể xảy ra khi uống 15.000 - 40.000 đơn vị/ngày trong một năm, nhưng liều cao hơn có thể ngộ độc trong vòng vài tháng. Tổn thương gan nhiều hay ít tùy thuộc liều lượng và thời gian sử dụng. 
Nhiều bệnh nhân có bệnh gan do vitamin A gây ra có khi không nhận thấy, chỉ khi bác sĩ lâm sàng thấy có hiện tượng bệnh nhân dùng vitamin A kéo dài kèm viêm gan mỡ, tăng áp lực tĩnh mạch cửa thì mới phát hiện ra. Người nghiện rượu nguy cơ càng cao.
Một số nhóm thuốc khác
Ngoài ra, một số nhóm thuốc khác cũng có thể gây hại gan như thuốc điều trị nấm (nystatin, ketoconazole, fuconazole), thuốc kháng giáp trạng (PTU, MTU), thuốc điều trị đái tháo đường (sulfamid, troglitazone, rosiglitazole), thuốc điều trị bệnh tim mạch (amiodazon, methyldopa, quinidine), thuốc chống co giật (phenytoin, carbamazepin)...
Bên cạnh những tác dụng phụ của thuốc, chúng ta cũng cần chú ý một số yếu tố làm tăng độc tính của thuốc đối với gan đó là rượu (rượu làm tăng độc tính của hầu hết thuốc đối với gan trong đó phải kể đến paracetamol, isoniazid); có bệnh lý gan mật từ trước (như viêm gan mạn tính, xơ gan...); liều lượng của thuốc (một số thuốc dùng ở liều thấp thì an toàn nhưng dùng ở liều cao hoặc quá liều sẽ gây ngộ độc cấp cho gan); sự tương tác giữa các thuốc làm tăng khả năng gây độc cho gan (sự phối hợp giữa isoniazid với rifampicin sẽ làm tăng độc tính của rifampicin với gan).
Chính vì vậy, để dùng thuốc an toàn, người bệnh cần hết sức tuân thủ hướng dẫn, y lệnh của bác sĩ, không được lạm dụng thuốc và tự ý dùng thuốc, khi dùng thuốc mà có biểu hiện như chán ăn sợ mỡ, nước tiểu sẫm màu, đau tức vùng gan thì cần đến ngay các cơ sở y tế để được kiểm tra phát hiện và điều trị kịp thời.



Tránh tai biến hạ đường huyết khi dùng insulin

Hiện nay, insulin được dùng mở rộng hơn trước. Cần hiểu, dùng thận trọng để tránh tai biến hạ đường huyết do insulin trực tiếp hay gián tiếp gây ra.
Muốn tránh hạ đường huyết, người bệnh nếu có nguyện vọng dùng thuốc phối hợp thì phải khám lại bệnh tại các bệnh viện chuyên khoa để được hướng dẫn chu đáo.
Trước đây thuốc tiêm insulin chỉ dùng cho đái tháo đường (ĐTĐ) týp 1, thuốc uống chỉ dùng cho ĐTĐ týp 2. Trong khi đó, trong số người ĐTĐ chỉ có 10% thuộc týp 1, còn 90% thuộc týp 2. Do đó, tần suất sử dụng insulin không cao. 
Sau 2005, đặc biệt sau khi có hướng dẫn của Hội ĐTĐ Mỹ (2010), việc dùng các nhóm thuốc này có thay đổi. Với ĐTĐ týp 1, giai đoạn đầu chỉ dùng insulin song giai đoạn sau có thể dùng insulin kết hợp với các thuốc uống như acarbose (làm giảm hấp thu glucose). 
Với ĐTĐ týp 2, giai đoạn đầu chỉ dùng thuốc uống nhưng giai đoạn sau có thể phối hợp với thuốc tiêm insulin. Việc phối hợp như vậy có lợi về mặt điều trị, làm tăng đáng kể tần suất sử dụng insulin, do đó cần dùng đúng để không tăng thêm tai biến do việc tăng tần suất sử dụng này.
Tránh tai biến hạ đường huyết khi dùng insulin
Tai biến khi dùng insulin là hạ đường huyết, gọi là sốc insulin. Theo quy ước, hạ đường huyết là đường huyết xuống mức < 70mg/dL, nặng hơn nữa là ≤ 50mg/dL. Người bị ĐTĐ thường bị hạ đường huyết nặng khoảng 1,15 lần/năm; nhẹ 16,37 lần/năm. 
Hạ đường huyết nặng bị vã mồ hôi, choáng váng, loạng choạng, hạ huyết áp, tim nhanh và loạn, nặng hơn là trụy tim mạch, mất ý thức, hôn mê... có thể dẫn đến tử vong. Hạ đường huyết nhẹ có cảm giác đói, mệt mỏi... cũng có khi biểu hiện không rõ, không nhận biết được, song nếu nhắc đi nhắc lại nhiều lần cũng gây tác hại như hạ đường huyết nặng. 
Nếu cứ để cơn hạ đường huyết nhẹ lặp đi lặp lại, cơ thể sẽ quen đi với các biểu hiện này, chỉ khi có cơn hạ huyết áp nặng mới nhận biết được thì đã quá muộn.
Thường có 4 nguyên nhân gây hạ đường huyết gián tiếp hay trực tiếp do insulin gây ra:
Do ăn uống, hoạt động thất thường:
Ăn uống làm tăng lượng đường hấp thu vào máu (tăng đường huyết). Hoạt động làm tăng lượng đường tiêu thụ (giảm đường huyết). Dùng thuốc làm tăng dung nạp glucose vào cơ não, vào gan (giảm đường huyết). 
Điều trị ĐTĐ là phối hợp ăn uống, hoạt động, dùng thuốc hợp lý… để tổng cộng các mức tăng mức giảm đường huyết lại, sẽ có một mức đường huyết ngang với mức bình thường. Nếu vẫn giữ mức dùng thuốc với liều như cũ mà ăn uống thất thường (chậm bữa, ăn ít hơn, bỏ bữa) hay hoạt động quá mức (làm việc quá nhiều, làm việc nặng) thì sẽ bị hạ đường huyết.
Như vậy, muốn tránh hạ đường huyết không chỉ dùng đúng liều insulin là đủ mà còn phải ổn định cả việc ăn uống hoạt động.
Do xử lý không đúng khi bị tăng đường huyết:
Khi bị tăng đường huyết, nếu người bệnh tự ý tăng liều, tăng số lần dùng insulin sẽ có thể dẫn đến tác dụng ngược là bị hạ đường huyết. Việc kiểm soát đường huyết là cần, nhưng không được hạ đường huyết quá nhanh, quá mạnh, không làm hạ đường huyết xuống mức quá thấp, kiểm soát đường huyết bằng biện pháp nào, ở mức nào, do thầy thuốc quyết định.
Muốn tránh hạ đường huyết thì khi bị tăng đường huyết, người bệnh nhất thiết phải nhập viện, tuân thủ mọi chỉ định kiếm soát đường huyết của thầy thuốc.
Do không biết cách tính, cách dùng bút tiêm insulin dẫn tới quá liều:
Phần lớn người ĐTĐ thường có máy đo đường huyết tự động, bút tiêm insulin. Người bệnh có thể tính liều dựa vào thân trọng, điều chỉnh liều phù hợp với bữa ăn. 
Tuy nhiên, nếu không thạo tính toán, thao tác sai (không trộn đều thuốc, nhầm lẫn khi lấy thuốc cho mỗi lần tiêm) sẽ dẫn đến lấy sai lượng insulin. 
Nếu lấy quá số lượng cần, sẽ dùng quá liều insulin, dẫn đến hạ đường huyết. Cũng có khi người bệnh tự ý dùng liều dự phòng nhằm tránh tăng đuờng huyết nhưng kết quả mang lại là gây hạ đường huyết.
Muốn tránh hạ đường huyết, người bệnh phải học cách tính, cách dùng bút tiêm insulin thành thạo, không tự ý dùng liều dự phòng.
Do phối hợp insulin và các thuốc ĐTĐ khác chưa đúng:
Khuyến nghị chung với ĐTĐ týp 2 là nên dùng sớm insulin (khoảng sau khi mắc bệnh 10 năm). Tuy nhiên, muốn xác định đúng thời điểm dùng insulin thì phải xác định được mức suy yếu tuyến tụy. Điều này không phải tuyến y tế nào cũng làm được mà phải do các cơ sở chuyên khoa (có thầy thuốc kinh nghiệm, có khả năng xét nghiệm).
Thông thường trong ĐTĐ giai đoạn cuối hay phối hợp insulin với metformin. Do metforin có khả năng hạ đường huyết thấp (chỉ làm giảm lượng glucose sinh ra từ glycogen), nên việc phối hợp này ít khi gây ra hạ đường huyết chung, dễ thực hiện.
Trong thực tế ở ĐTĐ týp 2, giai đoạn sau, thầy thuốc cũng có cho phối hợp insulin với sulfonylure với mục đích tận dụng khả năng của tuyến tụy để giảm mức đề kháng insulin, từ đó có thể giảm liều dùng insulin. Nhiều nghiên cứu cho biết việc phối hợp này thường đạt được mục đích đề ra trên. 
Tuy nhiên, đây là một phối hợp khó, nếu tính không khéo liều mỗi thành phần thì khi phối hợp có thể gây ra hạ đường huyết. Khi phối hợp mà gặp sự cố hạ đường huyết, thì phải tính lại liều phối hợp, trước tiên phải giảm liều insulin theo chỉ định của thầy thuốc. 
Người bệnh cần lưu ý: đây là một phối hợp khó, thầy thuốc thường chỉ định cho người bệnh biết dùng thành thạo thuốc (biết dùng thành thạo bút tiêm insulin).
Trên thị trường, có loại thuốc phối hợp sẵn (insulin + sulfonylure) với hàm lượng ổn định, chỉ dùng được cho một số người (theo sự chỉ định của thầy thuốc), không nên tự ý mua dùng (vì chưa chắc đã phù hợp với mình).



Chớ nhầm thuốc ho với thuốc có tác dụng trên đờm

Thuốc tác dụng trên đờm như làm long đờm, hóa giáng đờm... rất hay bị dùng nhầm. Nguyên do có sự nhầm lẫn về tác dụng, cơ chế và thông tin dược học của thuốc...
Thuốc tác dụng trên đờm là gì?
Thuốc tác dụng trên đờm là tất cả các thuốc làm thay đổi đặc tính, tính chất, số lượng và độ bám dính của đờm trên bề mặt đường thở. 
Thông thường, trên đường thở lúc nào cũng có một lớp nhầy, có độ dính, độ ẩm vừa phải và số lượng vừa phải để bảo vệ đường hô hấp. Nhưng khi hệ hô hấp bị bệnh lý, lớp nhầy này bị thay đổi tính chất, trở nên bám dính, đặc quánh và khi đó nó được gọi là đờm.
Cần dùng các thuốc có tác dụng trên đờm một cách hợp lý.Cần dùng các thuốc có tác dụng trên đờm một cách hợp lý
Đờm gây ra nhiều tai hại. Trong điều trị bệnh, lớp đờm này phải được tống ra ngoài. Để thải bỏ được đờm ra ngoài, người ta dùng các thuốc gọi là thuốc tác dụng trên đờm.
Thuốc tác dụng trên đờm bao gồm có 4 nhóm cơ bản sau đây: nhóm làm loãng đờm, nhóm làm hóa giáng đờm, nhóm làm giảm bám dính đờm và nhóm tăng thải đờm. 
Về nguyên lý và cơ chế tác dụng, thuốc tác dụng trên đờm rất hay bị dùng nhầm dưới dạng thuốc chống ho. Thật ra, trên cơ chế dược học, các thuốc này không hề tác dụng vào các cơ chế gây ho.
Những nhầm lẫn...
Các nhầm lẫn về thuốc tác dụng trên đờm khá phổ biến trong thực tế. Nó có thể bị nhầm lẫn bởi ngay chính các nhà cung cấp thuốc (công ty dược), nhầm lẫn bởi chính bác sĩ và nhầm lẫn về thuật ngữ.
Trước hết, bàn tới sự nhầm lẫn về thuật ngữ. Chúng ta không thể đồng nhất thuốc làm loãng đờm với thuốc hóa giáng đờm, cũng không thể đồng nhất thuốc làm tăng thải đờm với thuốc giảm bám dính đờm. Vì thực tế, chúng có tên khác nhau thì tác dụng và hiệu quả sẽ khác nhau.
Thuốc làm loãng đờm là những thuốc làm tăng sự tiết dịch (chủ yếu là nước) trên bề mặt đường hô hấp. Sự tăng tiết này làm đờm có thêm nước hòa tan nên sẽ làm tăng khối lượng đờm, tăng thể tích đờm, đờm trở nên lỏng ra trông thấy. Thuốc điển hình trong nhóm này trên thị trường là guaifenesin.
Trong khi đó, thuốc hóa giáng đờm là những thuốc tác dụng trực tiếp vào đờm, có tác dụng bẻ gãy các cấu trúc hóa học liên kết trong nội bộ đờm làm sự liên kết của chúng trở nên lỏng lẻo hơn. Kết quả cuối cùng, chúng không làm tăng tiết dịch, tăng số lượng đờm nhưng lại làm cho đờm bớt đặc, dễ bị thải bỏ ra ngoài. Thuốc kinh điển nhóm này là acetylcystein, ambroxol, carbocistein, bromhexin...
Khác nhau là vậy, nhưng về mặt thuật ngữ, người ta hay đồng nhất chúng và gọi chung là tuốc long đờm.
Trong điều trị bệnh, người dùng (trong đó có một số nhân viên y tế và bệnh nhân) có quan niệm, cứ ho có đờm là dùng "thuốc long đờm". 
Nhưng rất đáng tiếc, công thức điều trị này đôi khi không phù hợp với tất cả mọi người. Thuốc tác dụng trên đờm chỉ thực sự hữu ích trong điều trị nếu như biết dùng đúng thời điểm. Nếu dùng chưa đúng thời điểm, tác dụng thu được không như người điều trị mong muốn.
Ví dụ, lời khuyên chung là có đờm thì phải long đờm, loãng đờm để khạc ra ngoài. Nhưng người ta lại quên mất có đờm ở mức độ nào mới dùng thuốc long đờm. Một trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, nếu đang có sự tăng tiết đờm quá nhiều, đang nhiều ran ẩm và ran nổ, đang có viêm phổi sòng sọc thì việc dùng thuốc lúc này sẽ đẩy viêm phổi mạnh hơn. 
Lý do: phổi sẽ càng nhiều dịch, càng nhiều tiếng ran hơn và càng khó thở. Một bệnh nhân COPD người lớn, lượng đờm tiết ra trong những đợt cấp tính là rất dữ dội. Nếu tiếp tục dùng các thuốc này vào sẽ rất bất lợi, vì ho sẽ càng tăng và khó thở sẽ càng rõ rệt. 
Vấn đề lúc này phải giảm tiết đờm nhằm mục tiêu kiểm soát lượng đờm cho phép trước khi quyết định dùng thuốc tác dụng trên đờm vào thời điểm sau đó. Xác định rõ mức độ đờm thế nào, dùng khi nào hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ, sự cẩn thận, sự tỉ mỉ trong khám bệnh cũng như kinh nghiệm điều trị.
Để dùng đúng thuốc
Để có cách dùng đúng, chúng ta cần nắm vững về cơ chế và nguyên lý tác dụng. Khi nào cần dùng thuốc làm loãng đờm, khi nào cần dùng thuốc hóa giáng đờm, khi nào cần dùng thuốc chống bám dính đờm.
Trong thời điểm đờm đang quá nhiều, việc dùng thuốc làm loãng đờm hoặc thuốc hóa giáng đờm là rất không nên. Vấn đề lúc này cần điều tiết lượng đờm bằng các thuốc khác nhau. Sau khi đã kiểm soát được lượng đờm, vấn đề thải bỏ đờm là quan trọng. Lúc này các thuốc tác dụng trên đờm thực sự hữu ích.
Thuốc long đờm không phải là thuốc chống ho. Vì thuốc không có tác dụng cắt đứt cơn ho trên cơ chế và trên thực tế. Vì vậy, giải pháp cho dùng thuốc để cắt đứt cơn ho là không phù hợp. 
Một vài trường hợp dùng thấy khỏi ho hoàn toàn không do thuốc có tác dụng mà đó chỉ là sự khỏi đồng thuận may mắn do tình cờ mà có. Ví dụ, trong cảm cúm nhẹ, bạn sẽ có ho. Dù bạn có uống thuốc long đờm hay không thì một vài ngày sau bạn cũng khỏi cúm và cũng khỏi ho. Việc khỏi này hoàn toàn không do thuốc long đờm tạo ra.
Rất quan trọng với dùng thuốc tác dụng trên đờm là nước. Thuốc sẽ không đạt công hiệu tối đa nếu không uống nước nhiều và đầy đủ. Nước là một chất trực tiếp làm tăng dịch tiết trong đờm, tăng độ loãng cho đờm. 
Nên nếu như không uống kèm thêm một chỉ định thì dù có uống liều cao guaifenesin hay liều cao ambroxol thì hiệu quả thu được rất hạn chế. Thường phải uống ít nhất 1,5 lít nước/ngày với một người trưởng thành. Thêm chừng 300-500ml nếu có sốt cao.




6 loại thuốc làm tăng bệnh trầm cảm

Ngoài phản ứng phụ gây suy giảm trí nhớ, làm phát mùi cơ thể thường gặp ở một số dược phẩm, những loại thuốc chữa bệnh quen thuộc dưới đây có thể làm tăng thêm chứng bệnh trầm cảm ở con người.
1. Thuốc chữa cao huyết áp
Thuốc chữa cao huyết áp được kê đơn là nhóm thuốc ức chế bêta như: atenolol (Tenormin), carvedilol (Coreg), metoprolol, propranolol (Inderal), sotalol (Betapace), timolol (Timoptic) và các loại thuốc có hậu tố là "olol". Nhóm thuốc hạ nhịp tim và hạ huyết áp thường hoạt hóa bằng cách ngăn chặn tác động của hoóc-môn adrenaline. 
Nhóm thuốc chẹn bêta còn được dùng để trị cơn đau thắt ngực và các chứng bệnh khác: đau nửa đầu, run, nhịp tim không đều, mắt sụp và một số dạng bệnh về tăng nhãn áp. Mặc dù đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhưng các nhà khoa học vẫn chưa hiểu cặn kẽ vì sao nhóm thuốc chẹn bêta lại gây chứng trầm cảm, thậm chí nó còn gây mệt mỏi và suy giảm tình dục.
Giải pháp: nhóm người khi phải dùng thuốc huyết áp thì nên dùng thuốc chẹn benzothiazepine hoặc tư vấn bác sĩ thay bằng thuốc hạ huyết áp khác, ít làm tăng nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, nhất là nhóm người cao niên có tiền sử mắc phải căn bệnh này.
2. Nhóm thuốc Corticosteroid
Corticosteroid được sử dụng để điều trị chứng viêm mạch máu và cơ bắp cũng như: viêm khớp dạng thấp, lupus, hội chứng Sjogren và bệnh gút. Phổ biến như: thuốc cortisone, methylprednisolone, prednisone và triamcinolone. 
Qua nghiên cứu cho thấy rằng mức độ corticosteroid thấp sẽ làm giảm serotonin trong cơ thể và một khi nồng độ serotonin giảm có thể gây ra trầm cảm và rối loạn tâm thần. Đôi khi bỏ dùng corticosteroid đột ngột cũng có thể gây trầm cảm.
6 loại thuốc làm tăng bệnh trầm cảm
Giải pháp: nếu có thể thay bằng Acetaminophen (Tylenol), aspirin, tramadol (Ultram) hoặc dùng nhóm thuốc có chứa thành phần thuốc phiện nhẹ như hydrocodone/acetaminophen (Vicodin). Khi con người ta về già, các chứng đau khớp không phải từ tình trạng viêm do dùng corticosteroids mà nó xuất phát từ tình trạng tổn thương khớp do viêm nhiễm tích tụ trong nhiều năm gây ra.
3. Nhóm thuốc ngủ Benzodiazepine
Nhóm thuốc này còn được gọi là thuốc an thần benzodiazepine, thường được kê đơn để điều trị bệnh lo âu, mất ngủ và thư giãn cơ bắp. Ví dụ như thuốc alprazolam (Xanax), diazepam (Valium), estazolam (ProSom), flurazepam (DALMANE), lorazepam (Ativan), Temazepam (Restoril) và triazolam (Halcion). 
Sở dĩ Benzodiazepines thường gây trầm cảm hệ thần kinh trung ương là do khi nó không được chuyển hóa hoàn toàn ở gan, gây tích tụ trong cơ thể và dẫn đến độc hại. Phát sinh "hiệu ứng nôn nao" và làm gia tăng bệnh trầm cảm. Nhóm người lớn tuổi do sức khỏe yếu, do gan thiếu một loại enzyme quan trọng để chuyển hóa các loại thuốc nên cũng dễn bị trầm cảm do dùng Benzodiazepine.
Giải pháp: hãy tạo ra thói quen ngủ nghỉ khoa học ngủ và thức đúng giờ, tránh ăn no trong vòng hai giờ trước khi đi ngủ, dành 30 phút thư giãn trước khi lên giường. Ngoài ra, có thể bổ sung Melatonin để hỗ trợ giấc ngủ, hạn chế tối đa việc dùng thuốc ngủ.
4. Nhóm thuốc làm thay đổi nội tiết tố
Các loại thuốc làm thay đổi nội tiết tố được bác sĩ kê đơn để điều trị một loạt bệnh, như: thuốc Estrogen (Premarin) để trị chứng bốc hỏa và các triệu chứng mãn kinh khác. 
Sở dĩ nhóm thuốc này làm gia tăng bệnh trầm cảm là do việc sao chép các chức năng của hoóc-môn trong cơ thể và gây ra vấn đề nan y khác, nhất là tương tác thuốc với hệ thống thần kinh trung ương. Nghiên cứu cho thấy việc thay đổi hoóc-môn có liên quan đáng kể việc gia tăng các triệu chứng của bệnh trầm cảm.
Giải pháp: những phụ nữ mãn kinh cần đánh giá lại nguyên nhân gây bệnh bốc hỏa, nóng bừng, xem xét các loại thuốc đang dùng và tư vấn bác sĩ để thay đổi phương án điều trị, tăng cường luyện tập, thay đổi lối sống sẽ có tác dụng hơn là dùng thuốc, thậm chí còn rất nhiều phản ứng tiềm ẩn đến nay khoa học vẫn chưa biết hết.
5. Các loại thuốc kích thích
Rất đa dạng như methylphenidate (Ritalin) và modafinil (Provigil), thường được kê đơn điều trị chứng buồn ngủ quá mức ban ngày, chứng buồn ngủ triền miên, chứng ngủ rũ hoặc ngưng thở khi ngủ. Nhóm thuốc này còn được kê đơn cho bệnh nhân ADHD (tăng động giảm chú ý) và mệt mỏi. Nhóm thuốc này làm tăng dopamine, phát sinh chứng trầm cảm.
Giải pháp: giống như nhóm thuốc benzodiazepine nói trên, khi bị mất ngủ nên xác định nguyên nhân và xem lại phác đồ điều trị. 
Một số nhóm thuốc kê đơn hay không kê đơn cũng có thể gia tăng bệnh buồn ngủ như thuốc chẹn alpha và beta, thuốc chống tiêu chảy, thuốc kháng histamin, thuốc chống loạn thần, thuốc chống co thắt, ức chế ho, thuốc động kinh, thuốc giãn cơ xương và thuốc Parkinson. Nên tư vấn bác sĩ chuyển sang dùng loại thuốc có lợi hơn, thay đổi lối sống, ăn uống cân bằng, khoa học và năng luyện tập.
6. Nhóm thuốc statin và thuốc hạ lipid máu
Statins là nhóm thuốc thường dùng theo đơn để giảm cholesterol (mỡ máu), thuốc fibrate, ezetimibe, colesevelam và acid nicotinic. Qua nghiên cứu cho thấy, các loại thuốc hạ lipid máu có thể gây trầm cảm thông qua cơ chế làm giảm cholesterol trong não, nơi nó hỗ trợ tạo ra các tín hiệu truyền dẫn thần kinh.
Giải pháp: có thể sử dụng kết hợp vitamin B12 (tiêm hoặc loại ngậm dưới lưỡi), vitamin B6, acid folic và dầu cá có thể làm giảm homocysteine trong cơ thể. Homocysteine là acid amin gây tổn thương niêm mạc động mạch bên trong (nội mạc), các tế bào khác của cơ thể và làm tăng lipid.
Theo nghiên cứu cho thấy, việc giảm cholesterol bằng ăn uống, luyện tập và áp dụng lối sống tích cực sẽ có lợi hơn là dùng thuốc, nhất là làm giảm tác dụng phụ, trong đó có bệnh trầm cảm,



Thuốc "kích thích trẻ ăn ngon và tăng cân": Lợi bất cập hại



Nhiều bà mẹ muốn cho con em mình hay ăn chóng lớn đã tìm đến sự trợ giúp của thuốc. Vậy những thuốc nào có tác dụng này và sự nguy hại khi sử dụng không đúng như thế nào?
Trước hết, các bậc phụ huynh cần biết bản chất của các thuốc kích thích trẻ ăn ngon và tăng cân ở trẻ. Thuốc thường được các bà mẹ mách nhau dùng là cyproheptadin. Ðây là thuốc kháng histamin chống dị ứng nhưng có thêm tác dụng kích thích sự thèm ăn.
Thuốc không làm tăng trọng mà tác dụng gián tiếp điều trị chứng chán ăn cho trẻ, làm cho trẻ dùng thuốc ăn ngon hơn. 
Cần lưu ý, cyproheptadin chỉ kích thích trẻ thèm ăn tạm thời và có nhiều tác dụng phụ. Khi đang dùng thuốc, thuốc sẽ kích thích ăn ngon miệng nhưng khi ngưng thuốc trẻ sẽ chán ăn trở lại. Thuốc có tác dụng phụ gây buồn ngủ và không được dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi. 
Ðối với trẻ nhỏ, thuốc có thể gây cơn co giật còn gọi là tác dụng phụ thần kinh ngoại tháp. Do lợi bất cập hại như vậy nên nhiều nước đã không còn dùng cyproheptadin để điều trị chứng chán ăn cho trẻ em nữa.
Các thuốc chống viêm glucocorticoid, thường được gọi tắt là corticoid hay steroid cũng hay bị lạm dụng cho mục đích này. Thuộc nhóm này gồm dexamethason thường được quen gọi là "đề xa", prednison, pednisolon... 
Corticoid là thuốc dùng để chống viêm, điều trị các bệnh thấp khớp, các bệnh dị ứng ngoài da và hệ hô hấp như hen phế quản, bệnh thận hư, nhưng không bao giờ được sử dụng làm thuốc kích thích trẻ ăn ngon và tăng cân. Do cơ thể trẻ có vẻ béo ra và tăng trọng khi uống thuốc này kéo dài mà một số người tưởng là tốt nhưng thực ra là biểu hiện của tác dụng phụ có hại của thuốc. 
Vì corticoid có tác dụng giữ nước và muối natri trong cơ thể. Ngoài corticoid, một số thuốc khác cũng có tác dụng tương tự như phenylbutazon chống viêm, carbenoxolon điều trị viêm loét dạ dày... gây rối loạn chuyển hóa lipid và làm đọng mỡ lại ở mặt, cổ và lưng, nên trẻ em dùng thuốc lâu ngày sẽ bị béo phì, nhưng thật ra cơ thể lại bị teo cơ. 
Ngoài tác dụng phụ gây béo phì, thuốc còn có một số tác dụng phụ nguy hiểm khác như làm loãng xương, tăng huyết áp, gây tắc mạch, có thể gây loét dạ dày - tá tràng, làm giảm sự đề kháng của cơ thể dễ dẫn đến các bệnh nhiễm trùng.
Một thuốc khác là durabolin (nandrolon phenylpropionat), một dẫn chất tổng hợp tương tự hormon sinh dục nam testosteron nhưng có cấu trúc hóa học hơi khác testosteron. 
Tác dụng chủ yếu của durabolin là đồng hóa protein, nghĩa là giúp cơ thể hấp thu, chuyển hóa chất đạm và vận chuyển các acid amin của chất đạm vào bên trong mô cơ, làm cho cơ thể phát triển cơ bắp, tăng cân.
Durabolin còn gọi là thuốc tăng đồng hóa, được chỉ định điều trị chứng gầy ốm, sụt cân, mất sức sau khi mắc bệnh nặng. Dạng thuốc của durabolin là thuốc tiêm. Một số thuốc anabolic steroid được dùng dưới dạng uống. Không dùng thuốc cho trẻ dưới 15 tuổi.
Bên cạnh đó cũng phải đề cập đến các loại thuốc "Đông y giả". Một số thuốc Đông y có pha trộn corticoid, cyproheptadin để tạo những tác dụng trước mắt kích thích trẻ ăn ngon và tăng cân, nhưng tác hại do việc dùng lâu ngày các loại này là không thể lường trước được. 
Vì vậy, các bậc cha mẹ cần lưu ý đừng bao giờ lạm dụng các thuốc trên để kích thích trẻ ăn ngon và tăng cân là hết sức nguy hiểm.




Thuốc + rượu = họa

Rượu là một loại đồ uống có cồn, gây kích thích cho người uống, có nhiều tác dụng trên hệ thần kinh trung ương. 
Vì vậy, khi vừa uống rượu, vừa dùng thuốc chữa bệnh, rượu có thể sẽ tương tác với một số loại thuốc, làm tăng hoặc giảm tác dụng, hiệu lực của thuốc hoặc chuyển hóa thuốc thành chất độc hại. Vậy cần phải biết những loại thuốc nào không được dùng khi uống rượu!
Thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương: Các thuốc như thuốc an thần(diazepam) điều chỉnh rối loạn quá trình hưng phấn - ức chế, thuốc ngủ (phenobarbital) ức chế quá trình kích thích, thuốc động kinh (carbamazepin) làm giảm quá trình kích thích... khi dùng cùng với rượu thì rượu sẽ làm tăng tác dụng của các thuốc này gây độc giống như dùng quá liều.
Thuốc + rượu = họa
Khi uống thuốc, không nên uống rượu đề phòng tác dụng phụ nguy hiểm
Thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương (caffein): Khi dùng các thuốc này với rượu thì rượu sẽ làm đảo ngược tác dụng của thuốc làm cho thuốc giảm hiệu lực.
Các kháng histamin thế hệ cũ (chlopheniramin, alimemazin, promethazin cycloheptadin) thấm vào não gây ức chế hệ thần kinh trung ương. Đối với các thuốc này, khi dùng cùng với rượu thì rượu làm tăng tác dụng của thuốc gây độc.
Thuốc hạ huyết áp: Rượu khi uống làm giãn mạch làm thoát nhiệt ra ngoài, mặt đỏ bừng làm cho có cảm giác ấm nhưng thực chất là làm giãn mạch gây hạ thân nhiệt. 
Sự giãn mạch này đưa đến hạ huyết áp. Nếu dùng chung với thuốc làm hạ huyết áp (dù với cơ chế làm hạ huyết áp như thế nào) thì rượu cũng làm tăng tính hạ huyết áp của thuốc gây nên việc giảm huyết áp đột ngột, nguy hiểm.
Nhóm thuốc gây độc cho gan: Rượu gây độc cho gan, nếu dùng rượu chung với các nhóm thuốc gây độc cho gan như thuốc chống lao (pyrazinamid), thuốc sốt rét (mepraquin), thuốc chống nấm (griseopulvin), thuốc mạch vành (herhexilin), thuốc chữa loạn nhịp (quinidin) thì rượu và thuốc cùng gây độc cho gan làm cho tính độc cho gan tăng lên.
Ngoài ra, cần biết khi uống rượu, gan phải dùng gluthation để giải hóa làm cạn kiệt chất này và những thuốc nào nhờ chất này mà chuyển hóa thành chất không độc như paracetamol thì quá trình chuyển hóa bị trở ngại và trở nên độc cho gan hơn.
Thuốc hạ đường huyết: Rượu làm tăng phản ứng hạ đường huyết. Khi dùng chung với các thuốc hạ đường huyết trong bệnh tiểu đường týp II (chlopropamid, glibenclamid, glipizid tolbutamid) thì nó tác dụng như một chất hiệp đồng làm hạ đường huyết đột ngột, dẫn đến hôn mê.
Kháng sinh: Rượu còn bị một số kháng sinh gây ra phản ứng sợ rượu (gọi là phản ứng altabuse) như các kháng sinh nhóm cephalosporin, nhóm phenicol (chloramphenicol), nhóm azol (metronidazol, ketocanzol). Khi dùng các nhóm kháng sinh này (hiện nay có rất nhiều) thì không được uống rượu.
Thuốc kháng viêm không steroid thế hệ cũ: Rượu còn gây ra một số phản ứng phức tạp trên các kháng viêm không steroid thế hệ cũ. 
Các kháng viêm không steroid thế hệ cũ vừa ức chế cyclo-oxydase II làm giảm đau, ức chế cả cyclo-oxydase I gây tác dụng phụ trên đường tiêu hóa. Với tác dụng ức chế của mình, rượu làm tăng tác dụng có hại nhiều hơn. Vì thế, khi dùng các kháng viêm không steroid thế hệ cũ (như aspirin, paracetamol, ibuprofen...), phải tuyệt đối kiêng rượu.



Lợi ích của vitamin B5

Vitamin B5 còn được gọi là acid pantothenic, pantothenate; là một vitamin tan trong nước. Vitamin B5 được phát hiện bởi Roger J. Williams vào năm 1919. Trong tiếng Hy Lạp, pantothenic mang nghĩa là "có ở khắp nơi", nên B5 là một trong những vitamin có nhiều nhất trong thiên nhiên.
Vitamin B5 có nhiều trong men, ngũ cốc, lạc, các loại đậu, đỗ, lòng đỏ trứng, các loại nấm, thịt gia súc, gia cầm, hoa quả và rau xanh...
Lợi ích của vitamin B5
Tuy nhiên, vitamin B5 không có trong các loại thực phẩm đã qua chế biến. Ngoài ra, lượng lớn vitamin B5 sẽ bị mất khi thực phẩm được đóng hộp, làm đông lạnh.
Song do nó có sẵn trong tự nhiên nên cơ thể chúng ta ít khi bị thiếu hụt loại vitamin này trừ khi suy dinh dưỡng nặng, không ăn được, đến tuổi dậy thì... Thiếu hụt vitamin B5 có thể gây ra mệt mỏi, khó ngủ, nhức đầu, buồn nôn, rụng tóc và sự khó chịu trong dạ dày.
Cơ thể rất cần vitamin B5 để tạo ra các hormon và các tế bào hồng cầu khỏe mạnh; chuyển hóa carbohydrate và chất béo thành năng lượng, góp phần hình thành các kháng thể và được cho là một chất tăng cường khả năng chịu đựng của cơ thể. 
Ngoài ra, coenzym A chuyển hóa từ vitamin B5 còn được sử dụng trong cai nghiện, đào thải các loại thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, các loại thuốc có hại ra khỏi cơ thể.
Vitamin B5 được sử dụng để trị liệu như làm giảm các nguy cơ gây bệnh suyễn, rụng tóc, dị ứng, căng thẳng và lo âu, rối loạn hô hấp và bệnh tim. 
Nó cũng giúp tăng cường khả năng miễn dịch, giảm viêm xương khớp và ngăn ngừa các dấu hiệu lão hóa, tăng sức đề kháng với các loại bệnh nhiễm trùng và quản lý các rối loạn về bệnh đái tháo đường và da dẻ.




 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons