Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Những loại thuốc gây độc cho thận

Thận có chức năng điều hòa nội môi. Khi thận bị nhiễm độc, chức năng này bị rối loạn sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến các cơ quan khác. Thuốc gây độc cho thận bao gồm những thuốc trực tiếp gây nhiễm độc thận, không tính đến các thuốc gây độc khác do sự thải trừ kém của thận gây ra.
Các nhóm thuốc gây độc cho thận
Xếp các thuốc gây nhiễm độc thận thành từng nhóm theo cơ chế gây nhiễm.
Các thuốc gây tổn thương ống thận:
Kháng sinh: rất nhiều kháng sinh gây tổn thương ống thận.
Nhóm Aminosid: gây suy thận với tỉ lệ 10%; xuất hiện sau khi dùng 7 - 10 ngày. Streptomycin, neomycin gây nhiễm độc thận nặng, tobramycin gây nhiễm độc thận trung bình. Hiện neomycin không dùng dạng tiêm rất hiếm khi dùng dạng uống, streptomycin chỉ dùng với liều xác định trong điều trị lao, tobramycin chỉ dùng dưới dạng thuốc tra mắt. 
vậy thực tế, tần suất gây nhiễm độc thận của ba loại thuốc này thấp. Gentamycin gây nhiễm độc thận ở mức tương tự như tobramycin. Tuy nhiên, gentamycin được dùng và bị lạm dùng nhiều nên thực tế tần suất gây nhiễm độc thận lại cao nhất.
Nhóm Cephalosporin: thế hệ 1(cephalexin, cefadroxil, cefalotin, cefazolin) thường gây nhiễm độc ống thận. Trong khi đó, các cephalosporin thế hệ 2 - 3 trở đi lại ít gây nhiễm độc ống thận nhưng dạng tiêm lại gây rối loạn chức năng thận mạnh hơn.
Những loại thuốc gây độc cho thận
Nhóm Amphotericin B: tác dụng lên lipid của màng biểu mô ống thận, gây suy thận cấp, nếu dùng với liều tiêm 5g/ngày có thể bị tổn thương thận vĩnh viễn.
Nhóm kháng virút: các kháng virus (adefovir, cidofovir, tenofovir, foscarnet) làm bong tróc tế bào biểu mô từ mức nhẹ (khu trú ở ống lượn gần) đến nặng (gây hoại tử ống thận cấp, đòi hỏi phải lọc máu). Trong số này tenofovir ít gây độc, foscarnet dễ gây độc hơn (trên 27% người dùng, tuy không nặng). Mức độ độc của các thuốc này lệ thuộc vào liều dùng.
Thuốc giảm đau: các thuốc giảm đau hiếm khi gây nhiễm độc ống thận. Riêng paracetamol có thể gây suy thận cấp (và viêm gan) nhưng chỉ gây suy thận cấp khi dùng liều rất cao (15g/ngày) hoặc liều tương đối cao kéo dài hoặc khi uống paracetamol nhưng lại uống nhiều rượu (do trong trường hợp này, gan không sản xuất ra đủ gluthation để hóa giải chất trung gian độc N-acetylbenzoquinonium do paracetamol tạo ra).
Các thuốc làm giảm lượng máu đến thận:
Kháng viêm không steroid thế hệ cũ: các thuốc này ức chế sản xuất prostaglandin, làm giảm lưu lượng máu đến thận, giảm độc lọc cầu thận, có thể dẫn đến suy thận; tuy nhiên tai biến này ít xảy ra khi dùng theo liều điều trị từng đợt ngắn, chỉ xảy ra khi dùng liều cao và/hoặc kéo dài.
Thuốc hạ áp có cơ chế gây giãn mạch: thuốc hạ áp nhóm ức chế men chuyển gây tụt huyết áp mạnh, làm giảm lưu lượng máu qua thận, gây suy thận.Tai biến này xảy ra khi dùng khởi đầu với liều cao hoặc dùng ngay sau đợt dùng thuốc lợi tiểu.
Các thuốc gây tắc ống thận:
Các thuốc này có độ hòa tan thấp, gây kết tinh trong ống thận.
Sulfamid: xảy ra ngay khi dùng ở liều điều trị lúc cơ thể bị mất nước (tiêu chảy, sốt cao) hay khi dùng mà không uống đủ nước (uống 0,5g sulfamid đúng ra phải uống kèm 0,5 lít nước).
Thuốc dự phòng cơn gút cấp: các thuốc allopurinol, probenecid, sulphipyrazon làm tan các tủa urat, tăng thải acid uric. Khi dùng liều cao acid uric thải ra nhiều hay khi dùng mà không uống đủ nước (đúng ra phải uống 2 lít/ngày) thì acid uric có nồng độ cao sẽ gây kết tính urat trong đường niệu.
Thuốc kháng virút: acyclovir có độ tan thấp. Dùng liều bình thường cũng có thể gây kết tinh ở ống thận, dễ xảy ra nhiều và nặng hơn khi dùng liều cao hay tiêm tĩnh mạch nhanh; xảy ra sau khi dùng 24 - 48 giờ với tỉ lệ 12 - 48% người dùng. Đa số thường nhẹ, không có triệu chứng, tự phục hồi sau khi uống đủ nước hoặc ngừng thuốc.
Các thuốc gây suy thận mạn:
Hai thuốc gây suy thận mạn thường gặp là thuốc ung thư cisplatin, thuốc hướng thần lithium carbonat. Khi dùng liều cao kéo dài chúng tích lũy lại tại ống thận gây suy thận mạn.
Các thuốc gây dị ứng miễn dịch ở ống thận, mô kẽ:
Các tế bào ở vị trí này rất dễ nhạy cảm, dị ứng với nhiều thuốc không lệ thuộc vào liều như các kháng sinh (betalactam kể cả cephalosporin, erythromycin, vancomycin, miocyclin; thuôc chống tiết acid (cemitidin); thuốc chữa động kinh (phenobacbital) thuốc chống rối loạn lipid (clofibrat). Tai biến chỉ xảy ra ở người có cơ địa dị ứng nên tần suất thấp nhưng vì không thể biết trước nên khó đề phòng.
Những loại thuốc gây độc cho thận
Các thuốc gây hội chứng thận hư:
Các thuốc này gây lắng đọng phức hợp miễn dịch dẫn đến hội chứng thận hư nhưng không gây suy thận, khi ngừng thuốc cầu thận trở lại bình thường. Thường gây tai biến này là thuốc chữa thoái hóa khớp (D-penicilamin), thuốc chữa động kinh (trimethadion), thuốc hạ huyết áp (catopril).
Cách phòng tránh
Khi dùng các thuốc này, người khỏe mạnh cũng có thể có nguy cơ nhiễm độc thận; người có chức năng thận suy giảm do cao tuổi hay quá nhỏ tuổi, do mắc bệnh thận hay một số bệnh mạn kèm theo thì nguy cơ này càng cao, dễ xảy ra và nặng. Trước khi dùng các thuốc này phải xem xét chức năng thận; với người có nguy cơ cao thì điều này là bắt buộc.
Phải dựa vào hệ số thanh thải creatinin để tính liều dùng. Nơi không làm được hệ số thanh thải creatinin (như trạm y tế xã) thì cần dùng khởi đầu với liều thấp rồi tăng dần, theo dõi chặt chẻ lâm sàng ( số lượng và độ đục của nước tiểu). Kinh nghiệm với người suy chức năng thận thì chỉ dùng liều bằng 40 - 50% liều người trung niên khỏe mạnh.
Tuân thủ các điều kiện dùng thuốc, tránh ảnh hưởng xấu đến thận. Chẳng hạn: không dùng kháng viêm không steroid kéo dài. Phải dùng khởi đầu liều thuốc hạ huyết áp có cơ chế giãn mạch với liều thấp, ngừng dùng thuốc lợi tiểu vài ba ngày mới được dùng thuốc này. Uống đủ nước khi dùng sulfamid, acyclovir hay các thuốc dự phòng gút cấp allopurinol, probenecid, sulphipyrazon, riêng với thuốc dự phòng gút cấp còn phải khởi đầu liều thấp.



Thuốc trị hôi nách

Hôi nách là hiện tượng ra mồ hôi có mùi nặng hơn bình thường. Tình trạng này không gây nguy hiểm nhưng lại gây ra phiền toái cho bản thân và những người xung quanh… nhất là trong những ngày hè nóng nực này.
Thuốc trị hôi nách
Vì sao nách hôi?
Bình thường trên da có 2 tuyến mồ hôi: tuyến mồ hôi thông thường (còn gọi là tuyến mồ hôi nước, có chức năng tiết mồ hôi để điều hòa thân nhiệt, giữ độ ẩm cho da, làm da mịn màng, mềm mại) và tuyến mồ hôi nhầy. 
Tuyến mồ hôi nhầy tiết ra một chất lỏng như dầu có thể có màu (do thành phần chất tiết có cholesterol và sắt). 
Thông thường chất tiết ban đầu không có mùi nhưng do sự phân hủy của các chất sừng (keratin) kèm một số axit amin, các chất hữu cơ với tác dụng của vi khuẩn khi lên tới mặt da tạo nên mùi đặc biệt, đôi khi mùi hôi có mùi giống mùi tỏi, mùi thuốc… ở người hôi nách có sự cấu tạo đặc biệt nào đó của thành phần mồ hôi và chất bã do quá nhiều các hỗn hợp amoniac và các axit béo. 
Thêm vào đó sự phân hủy của các chất sừng đã bị ngấm mồ hôi bởi vi khuẩn hoặc nấm có trong tuyến mồ hôi hoặc tuyến bã tạo nên tính chất "nặng mùi" của người hôi nách.
Thuốc nào để chữa trị?
Hôi nách không nguy hiểm nhưng lại gây ra phiền toái cho bản thân và những người xung quanh. Trong khi đó việc điều trị lại rất khó khăn. 
Nếu hôi nách nhẹ chỉ cần thường xuyên giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, đặc biệt là hai hố nách. Lau rửa hai hố nách bằng xà phòng hoặc nước chanh pha loãng 1 - 3% là được. Khi về già các tuyến mồ hôi lớn sẽ co hẹp hôi nách bớt dần rồi tự khỏi.
Có thể dùng xoa vào nách một trong các bột sau:
Bột axit salicilic hoặc bột carbonat canxi hoặc hỗn hợp bột gồm axit salicylic 1g, axit boric 3g, tanin 3g, ô xít kẽm 3g, và bột talc 30g.
Có thể dùng phèn chua chưng lên trở thành dạng cục bột. Dùng tay bóp mịn hoặc nghiền thành bột mịn. Rửa sạch nách rồi bôi bột lên nách ngày 1 - 2 lần.
Thuốc trị hôi nách
Phèn chua trị hôi nách
Dùng hoạt thạch nghiền thành bột mịn, rửa sạch nách rồi bôi bột đó lên 1 - 2 lần/ngày. Sau vài ngày sẽ bớt hôi nách.
Dùng dung dịch formain 2 - 3% hoặc dung dịch tanin 2 - 5% bôi lên nách có tác dụng ức chế mồ hôi và trừ mùi hôi khét. Nên hạn chế ăn tỏi
Ngoài ra, trong trường hợp nặng hơn, có thể hạn chế sự bài tiết mồ hôi bằng thuốc an thần, điều hòa thần kinh giao cảm bằng chạy điện hoặc chiếu quang tuyến tại chỗ hay phẫu thuật. Tuy nhiên các biện pháp trên phải do các thầy thuốc chuyên khoa thực hiện. Người bệnh không được tự ý áp dụng các phương pháp này.



Thuốc sốt rét có thể ngăn ngừa ung thư gan

Các nhà khoa học thuộc Đại học London (Anh) đã phát hiện ra một loại thuốc chống sốt rét giá rẻ có thể ngăn ngừa ung thư gan, mang tới tia hy vọng mới cho nhiều bệnh nhân.


thuoc
Chloroquine - một dẫn xuất của quinin là một loại thuốc giá rẻ và an toàn, phổ biến ở rất nhiều hiệu thuốc và là thuốc được lựa chọn cho du khách tham quan các vùng nhiệt đới.
Các nhà khoa học tại ĐH London đã phát hiện ra rằng nó cũng có thể ngăn ngừa ung thư gan.
Mặc dù các nghiên cứu từ trước cho đến nay chỉ được tiến hành trên chuột nhưng nhóm nghiên cứu hy vọng thành công sẽ được lặp lại trong các thử nghiệm lâm sàng trên con người.
Khoảng 4.000 người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư gan mỗi năm ở Anh. Chỉ 1 trong số 5 người sống sót được trong vòng 1 năm, và 1 tỏng số 20 người sẽ sống được 5 năm. Hơn 600.000 người bị viêm gan cho thấy nguy cơ bị ung thư gan là rất lớn.
Khoảng 60% các trường hợp ảnh hưởng đến nam giới và 40% ảnh hưởng đến phụ nữ.
Số liệu mới nhất từ ​​Văn phòng Thống kê quốc gia (ONS) cho thấy, từ năm 2003-2012 tỷ lệ ung thư gan ở Anh tăng 70% đối với nam và 60% đối với nữ.
Chloroquine hoạt động bằng cách tiêu diệt hai protein (protein Toll-like 7 và 9), được cho là có khả năng tái tạo lại khi các tế bào gan chết, gây ra tình trạng viêm mãn tính, dừng tái tạo các tế bào phù hợp và gây ra ung thư.
Gan là một trong những cơ quan phức tạp nhất trong cơ thể con người, thực hiện hơn 500 chức năng bao gồm tiêu hóa chất béo và protein, loại bỏ độc tố và giúp kiểm soát đông mạch.
Khi bị xơ gan do uống quá nhiều rượu hoặc viêm gan, gan bị tổn thương, các cơ quan bị hư hỏng, không thể tái sản xuất và từ đó tạo ra các tế bào ung thư.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng thuốc ngăn ngừa ung thư có tác dụng trong 80% các trường hợp. Nó cũng đã giảm khối u.
TS Kat Arney, Giám đốc truyền thông khoa học nghiên cứu ung thư Anh, cho biết: "Đây là những phát hiện thú vị từ phát triển các tế bào trong phòng thí nghiệm trên các mô hình và động vật, thấy được chloroquine ảnh hưởng đến các phân tử liên quan đến ung thư gan như thế nào sẽ mở ra hi vọng mới cho các thử nghiệm lâm sàng trên người, giúp ngăn chặn căn bệnh quái ác này."
Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Liver International.



Azithromycin - Kháng sinh có dược động học đặc biệt

Azithromycin là một kháng sinh mới có hoạt phổ rộng thuộc nhóm macrolid, được gọi là azalid. Thuốc có tác dụng diệt khuẩn mạnh bằng cách gắn với ribosom của vi khuẩn gây bệnh, ngăn cản quá trình tổng hợp protein của chúng. 
Tuy nhiên, cũng đã có kháng chéo với erythromycin, vì vậy, cần cân nhắc cẩn thận khi sử dụng azithromycin do đã lan rộng vi khuẩn kháng macrolid ở Việt Nam.
Trong thực tế điều trị, azithromycin có khá nhiều dạng bào chế để chọn lựa tùy đối tượng sử dụng. Thuốc cũng hay được sử dụng cho trẻ em với các dạng hỗn dịch uống, gói bột uống, bột pha si-ro, viên nang... và hay được kê đơn cho điều trị tại nhà. 
Việc sử dụng các dạng thuốc uống một cách khá dễ dàng đã làm cho dạng thuốc này thường bị lạm dụng dẫn đến tình trạng kháng thuốc khá cao.
Loại thuốc có dược động học đặc biệt
Azithromycin thường được dùng đường uống, phân bố rộng rãi trong cơ thể với khả dụng sinh học khoảng 40%. Thức ăn làm giảm khả năng hấp thu azithromycin khoảng 50%, do đó, không được uống thuốc này cùng với thức ăn hoặc ngay sau khi ăn. 
Tốt nhất là nên uống trước bữa ăn 1h hoặc sau khi ăn 2h. Sau khi dùng thuốc, nồng độ đỉnh huyết tương đạt được trong vòng từ 2 - 3h. Thuốc này có chỉ số thể tích phân bố khá lớn và được phân bố chủ yếu trong các mô như phổi, amidan, tiền liệt tuyến, bạch cầu hạt và đại thực bào... 
Điều đặc biệt là nồng độ azithromycin phân bố trong các mô cao hơn trong máu nhiều lần (khoảng 50 lần nồng độ tối đa tìm thấy trong huyết tương). Đây là loại kháng sinh có thể tích phân bố (Vd) lớn, phân bố nhiều vào mô, có tái phân bố, dùng thuốc 3 ngày nhưng nồng độ đủ cho 7 ngày. 
Thời gian bán thải (T1/2) tỷ lệ thuận với Vd. Vì vậy, đây là loại kháng sinh chỉ dùng 1 lần duy nhất trong ngày. Tuy nhiên, nồng độ của thuốc trong hệ thống thần kinh trung ương rất thấp. Một lượng nhỏ azithromycin bị khử methyl trong gan và được thải trừ qua mật ở dạng không biến đổi và một phần ở dạng chuyển hóa. 
Khoảng 6% liều uống thải trừ qua nước tiểu trong vòng 72h dưới dạng không biến đổi. Nửa đời thải trừ cuối cùng ở huyết tương tương đương nửa đời thải trừ trong các mô mềm đạt được sau khi dùng thuốc từ 2 - 4 ngày. 
Chính vì thế, khác với đa số các loại thuốc kháng sinh khác thường phải đưa thuốc nhiều lần trong ngày để duy trì nồng độ điều trị và dùng kéo dài từ 7 - 10 ngày thì azithromycin chỉ đưa thuốc vào cơ thể 1 lần trong ngày và nên dùng thuốc khoảng 3 ngày đối với thuốc tiêm và từ 3 - 5 ngày đối với các dạng thuốc uống.
Đau đầu là một tác dụng phụ của azithromycin.Đau đầu là một tác dụng phụ của azithromycin
Những lưu ý khi sử dụng
Azithromycin được chỉ định cho các nhiễm khuẩn đường hô hấp như viêm xoang, viêm amidan, viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi. Với các nhiễm khuẩn da, mô mềm, viêm tai giữa, thuốc này cũng được lựa chọn do phân bố rất tốt vào mô. Điều trị bệnh lây qua đường sinh dục do Chlamydia trachomatis được khuyến cáo dùng liều duy nhất 4 viên.
Không dùng thuốc này cho người có tiền sử quá mẫn với azithromycin hoặc bất kỳ kháng sinh nào thuộc nhóm macrolid (như clarithromycin hoặc erythromycin...). Thận trọng khi sử dụng cho người mắc bệnh gan, thận, phụ nữ có thai và cho con bú.
Theo dõi phản ứng dị ứng thuốc có thể xảy ra. Thực tế điều trị ít gặp tác dụng không mong muốn khi dùng azithromycin, hầu hết các tác dụng phụ thường gặp ở mức độ nhẹ đến vừa như rối loạn tiêu hoá, buồn nôn, nôn, đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy. 
Nó có thể gây đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, lơ mơ. Dùng lâu dài, liều cao có thể làm giảm sức nghe có hồi phục ở một số người bệnh. 
Nếu phải dùng đồng thời với các thuốc antacid, cimetidin trong các bệnh lý về dạ dày tá tràng thì nên dùng azithromycin trước 1h hoặc sau 2h để tránh tương tác. Cần theo dõi nếu dùng cùng với cyclosporin, digoxin do azithromycin ảnh hưởng tới chuyển hóa của những thuốc này.
Azithromycin là một kháng sinh tốt và dễ sử dụng cho các nhiễm khuẩn không cần điều trị tại bệnh viện. Tuy nhiên, do không hiểu biết và lạm dụng thuốc tràn lan trong cộng đồng nên có thể ở một số nơi, thuốc đã bị kháng với tỉ lệ khá cao. Trong trường hợp đó, cần cân nhắc và chọn loại kháng sinh khác phù hợp.



Thuốc Paracetamol không tốt như chúng ta vẫn nghĩ


Nghiên cứu của các nhà kha học Úc công bố trong tạp chí The Lancet, là thử nghiệm ngẫu nhiên lớn đầu tiên để so sánh hiệu quả của Paracetamol với giả dược trong việc điều trị chứng đau lưng thấp.
Nghiên cứu phân tích thử nghiệm ngẫu nhiên 1.652 cá nhân có độ tuổi trung bình 45 và mắc chứng đau lưng thấp từ 235 trung tâm chăm sóc ban đầu tại Sydney, Úc. Họ được dùng Paracetamol với liều thông thường trong 1 tháng.
Trong số này được chia làm 3 nhóm: nhóm nhận Paracetamol 3 lần/ngày lên đến 3.990mg; lên đến 4.000mg /1 ngày khi cần thiết và nhóm dùng giả dược.
Nghiên cứu cho thấy thời gian phục hồi là 16-17 ngày cho tất cả 3 nhóm. Tức là loại thuốc giảm đau phổ biến này không tốt hơn so với giả dược trong việc đẩy nhanh tốc độ phục hồi các cơn đau cấp.
TS Christopher Williams, trưởng nhóm nghiên cứu tại ĐH Sydney, cho biết: "Thuốc giảm đau đơn giản như Paracetamol có thể không quan trọng hàng đầu trong việc điều trị cơn đau lưng cấp tính. Kết quả cho thấy chúng ta cần phải xem xét lại các khuyến nghị Paracetamol trong điều trị hàng đầu cho bệnh đau lưng thấp".
Hiện nay, tất cả các hướng dẫn điều trị đau lưng trên thế giới khuyến cáo Paracetamol là loại thuốc giảm đau được chọn đầu tiên. Tuy nhiên, ông Williams cho biết thực tế cho thấy không có nghiên cứu nào trước đây cung cấp bằng chứng mạnh mẽ về chức năng hoạt động của loại thuốc này.



Dùng thuốc trị hen thế nào cho hiệu quả?

Hen phế quản là bệnh lý hô hấp rất phổ biến, đặc biệt trong thời tiết giao mùa thì tỉ lệ phát các cơn hen cấp lại càng tăng. 
Hiện nay đã có khá nhiều thuốc được dùng điều trị cắt cơn hen cấp và thuốc kiểm soát dự phòng cơn hen. Trong bài này xin giới thiệu một số thuốc cắt cơn, thuốc dự phòng chính hiện nay cũng như những lưu ý khi sử dụng các thuốc này.
Chống co thắt phế quản
Thuốc hay dùng và hiệu quả nhất trong điều trị cắt cơn hen là các thuốc nhóm kích thích ß2 adrenergic (còn gọi là thuốc chủ vận ß2). 
Cơ chế tác dụng của các thuốc trong nhóm này là thuốc gắn với thụ cảm thể ß2 ở màng tế bào cơ trơn phế quản làm hoạt hoá men Adenyl cyclase dẫn đến tăng nồng độ AMP vòng và hoạt hoá protein kinase A làm tăng canxi tự do nội bào cuối cùng có tác dụng giãn cơ trơn phế quản. 
Các thuốc nhóm này lại được chia thành 2 nhóm là thuốc tác dụng ngắn và thuốc tác dụng kéo dài.
Bệnh hen là bệnh lý hô hấp rất phổ biến.Bệnh hen là bệnh lý hô hấp rất phổ biến
Thuốc tác dụng ngắn bao gồm salbutamol, terbutalin, fenoterol, thuốc có tác dụng ngay sau khi dùng và thời gian tác dụng kéo dài từ 4 - 6h.
Thuốc tác dụng kéo dài khoảng 12h bao gồm salmeterol, formoterol. Tốt nhất là dùng thuốc cắt cơn hen bằng thuốc nhóm này dưới dạng hộp có liều định chuẩn (MDI) để xịt họng khi có cơn khó thở hoặc dạng ống khí dung ngày 3-6 lần.
Dự phòng cơn hen về đêm nên dùng salbutamol tác dụng kéo dài hoặc salmeterol.
Tác dụng không mong muốn và thận trọng khi dùng nhóm thuốc này bao gồm các triệu chứng đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, run nhẹ (đặc biệt ở đầu ngón tay). Hiếm gặp các triệu chứng khác như nhức đầu, mất ngủ, giãn mạch ngoại biên, loạn nhịp tim, hạ kali máu, tăng glucose và acid béo tự do trong máu, phản ứng quá mẫn. 
Dùng đường khí dung có thể gây co thắt phế quản. Dùng nhiều lần sẽ có hiện tượng quen thuốc, bệnh nhân có xu hướng phải tăng liều. Đối với bệnh nhân cường giáp, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, loạn nhịp tim, đái tháo đường, đang điều trị bằng MAOI thì phải hết sức thận trọng khi dùng.
Thuốc nhóm methylxanthin: do có một số tác dụng phụ và tác dụng giãn phế quản kém hơn thuốc nhóm kích thích ß2 adrenergic, hiện nay ít dùng trong điều trị hen phế quản so với trước đây. Các dạng thuốc nhóm này hiện nay có trên thị trường thuốc: theophylin, synthophylin. 
Cơ chế chung của thuốc nhóm này là ức chế men photphodiestease làm tăng AMPc, chống viêm, ức chế thụ cảm thể Adrenosin A1, A2, A3 làm giảm giải phóng các trung gian hoá học như: histamin, leucotrien.
Hiện nay, theophylin uống giải phóng nhanh ít được dùng trong điều trị hen, chủ yếu dùng theophylin giải phóng chậm, duy trì đủ nồng độ thuốc trong máu trong 12h để điều trị dự phòng và kiểm soát hen về đêm. 
Trong cơn hen nặng, theophylin được dùng phối hợp với các thuốc cường β2 hoặc corticoid để làm tăng tác dụng giãn phế quản, nhưng lại có thể làm tăng tác dụng không mong muốn của thuốc cường β2 (hạ kali máu).
Theophylin có thể dùng đường tiêm là aminophylin, hỗn hợp của theophylin và ethylendiamin, tan trong nước gấp 20 lần so với theophylin đơn độc. Trong điều trị cơn hen nặng, tiêm tĩnh mạch aminophylin rất chậm (ít nhất trong 20 phút).
Tác dụng không mong muốn
Thường gặp nhịp tim nhanh, tình trạng kích thích, bồn chồn, buồn nôn, nôn. Ít gặp: kích ứng đường tiêu hóa, đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, run, co giật, loạn nhịp tim, hạ huyết áp, phản ứng dị ứng.
Với bệnh nhân quá mẫn cảm với thuốc, bệnh nhân bị loét dạ dày - tá tràng tiến triển, rối loạn chuyển hóa porphyrin, động kinh không kiểm soát được thì không được sử dụng nhóm thuốc này. 
Bệnh nhân có bệnh tim, tăng huyết áp, cường giáp, tiền sử loét dạ dày - tá tràng, suy gan, động kinh, có thai và cho con bú, người cao tuổi, đang bị sốt, dùng cùng các thuốc ức chế enzym chuyển hóa thuốc ở gan phải thận trọng và được bác sĩ theo dõi trong quá trình sử dụng.
Thuốc nhóm kháng cholinergic: có tác dụng giãn cơ trơn do ức chế thụ cảm thể muscarinic ở cơ trơn phế quản, ức chế phó giao cảm, tác dụng cắt cơn hen kém hiệu quả hơn so với nhóm kích thích ß2, tác dụng chậm hơn nhưng kéo dài hơn. Thuốc thường dùng là ipraptopium bromide hoặc dùng dạng phối hợp với fenotenol khí dung hoặc dùng dạng xịt họng.
Các thuốc chống viêm
Corticosteroid: cơ chế ức chế phản ứng viêm trong hen, hiện nay coi là thuốc chính trong điều trị hen phế quản. Tuy vậy, trong điều trị hen hay dùng các thuốc tác dụng tại chỗ vì dùng đường toàn thân (đường uống hay đường tiêm) có nhiều tác dụng phụ nguy hại đặc biệt khi dùng kéo dài. 
Các thuốc hay dùng là prednisolon, methyl prednisolon dùng đường tiêm trong cơn hen cấp tính nặng. Khi đã cắt cơn dùng thay nhanh bằng đường uống hoặc corticosteroide tại chỗ dùng dạng xịt hít hoặc khí dung.
Hiện nay, xu hướng hay dùng dạng thuốc phối hợp giữa corticoide tại chỗ với một thuốc kích thích ß2 adrenergic tác dụng kéo dài như ống hít symbicort (formoterol với budesonide) hoặc hộp xịt seretide (salmeterol với fluticasone) để kiểm soát hen, nếu bệnh nhân tuân thủ điều trị, kết quả kiểm soát hen rất tốt.
Tuy nhiên, khi bệnh nhân có các triệu chứng hô hấp nghi ngờ bị bệnh hen phế quản thì cần đến các cơ sở chuyên khoa hô hấp để được bác sĩ chẩn đoán bệnh, đánh giá mức độ nặng của bệnh, tư vấn cách điều trị dự phòng cũng như cách dùng thuốc để kiểm soát bệnh một cách triệt để.



Thuốc tiểu đường có thể phòng tránh ung thư

Một loại thuốc được chỉ định rộng rãi để điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2 có thể giúp tất cả chúng ta sống lâu hơn và phòng tránh ung thư, một nghiên cứu tại Anh mới đây cho biết.

thuoc-tieu-duong
Nghiên cứu cho thấy thuốc Metformin giúp kiểm soát lượng đường cũng có thể ngăn ngừa bệnh tim mạch và ung thư - bất kể người đó có bị bệnh tiểu đường hay không.
Các phát hiện được công bố trên tạp chí Diabetes, Obesity và Metabolism. Cụ thể, các nhà khoa học đã nghiên cứu hơn 180.000 người và tìm thấy một "cải tiến nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê về sự sống còn giữa những người dùng thuốc Metformin so với những người uống thuốc chống đái tháo đường cũ và một nhóm khác không bị tiểu đường".
Theo đó, nghiên cứu và thống kê đã chỉ ra rằng, thời gian sống trung bình ở những người khỏe mạnh thậm chí thấp hơn là 15% so với bệnh nhân tiểu đường dùng thuốc Metformin, còn những bệnh nhân đái tháo đường dùng các loại thuốc cũ có thời gian sống thấp hơn 38% những bệnh nhân dùng Metformin.
Tác giả chính của nghiên cứu, GS Craig Currie của ĐH Y Cardiff (Anh) cho biết, nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của Metformin trên những người khỏe mạnh cho kết quả khả quan, đặc biệt khi nó có tác dụng phụ không đáng kể.
"Đáng ngạc nhiên, kết quả cho thấy, loại thuốc tiểu đường giá rẻ và được chỉ định dùng rộng rãi này có lợi ích không chỉ đối với bệnh nhân tiểu đường mà còn với cả những người không bị bệnh", GS Craig Currienói.
Ông cũng cho biết bệnh nhân bị bệnh tiểu đường tuýp 2 thường giảm trung bình khoảng 8 năm tuổi thọ. Cách tốt nhất để tránh tình trạng này hoàn toàn là giữ cơ thể không bị béo phì và thường xuyên tập một số tập thể dục nhẹ.
Tuy nhiên, Kevin McConway, giáo sư về thống kê ứng dụng tại ĐH Mở (Anh) cho biết, sự khác biệt rõ ràng trong sự sống còn giữa các bệnh nhân tiểu đường dùng Metformin và những người khỏe mạnh trong nghiên cứu là tương đối nhỏ và có thể là do các yếu tố khác - như bệnh nhân tiểu đường được theo dõi và điều trị tốt hơn cho các vấn đề liên quan đến tim từ đó cho những kết quả có khả năng tốt hơn trong ngắn hạn.
Dẫu vậy, phát hiện mới về thuốc Metformin khá "hấp dẫn" và cần tiến hành các cuộc thử nghiệm qui mô lớn trên dân số khỏe mạnh để xác thực lợi ích kéo dài tuổi thọ của thuốc, cũng như để xem có nên chỉ định nó cho người bình thường hay không.



 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons