Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Lợi và hại gì?

Tetracyclin là một loại kháng sinh có công hiệu tốt, được sử dụng điều trị nhiều bệnh. Tuy nhiên, nếu dùng không đúng dễ dẫn đến vi khuẩn kháng thuốc cũng như gặp phải một số tác dụng không mong muốn mà người dùng thuốc cần biết để tránh.
Tetracyclin là một loại kháng sinh được phát hiện ra từ năm 1948, đến nay nó vẫn là một kháng sinh có tác dụng chữa bệnh tốt. Tuy vậy, nếu sử dụng không đúng bạn có thể gặp phải một số tác dụng không mong muốn của thuốc.
Tác dụng có lợi
Tetracyclin là một kháng sinh phổ rộng có tác dụng kìm hãm sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn bởi sự ức chế quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn. Vì thế, khi xâm nhập vào vi khuẩn tetracyclin sẽ gắn vào ribosom của vi khuẩn và ức chế chức năng hoạt động của chúng. 
Tác dụng của tetracyclin là ức chế quá trình tổng hợp protein làm cho vi khuẩn không thể sinh sôi và phát triển được. 
Các chủng vi khuẩn kháng lại tetracyclin là do vị trí gắn tetracyclin trên ribosom bị biến đổi, bởi vậy, tetracyclin không gắn được vào ribosom của vi khuẩn và mất tác dụng với vi khuẩn đó gọi là vi khuẩn kháng lại tetracyclin.
Lợi và hại gì?
​Men răng vàng xỉn do dùng tetracyclin
Tetracyclin là một kháng sinh có phổ hoạt động rộng, bởi vì, chúng có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn gây bệnh (vi khuẩn gram âm, gram dương; vi khuẩn hiếu khí, kỵ khí). 
Tetracyclin là kháng sinh đầu bảng dùng điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Chlamydia (bệnh mắt hột, bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục, tiết niệu...), Mycoplasma (bệnh nhiễm khuẩn sinh dục, viêm phổi,...), Rickettsia (bệnh sốt mò), đặc biệt là điều trị bệnh do phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae) gây ra bệnh tiêu chảy cấp tính. 
Tetracyclin có tác dụng tốt đối với các loại xoắn khuẩn (Leptospira, Treponema). Tuy vậy, tetracyclin không có tác dụng với ký sinh trùng (vi nấm, lỵ amip, sán lá gan, sán lá phổi, giun, sán...) và các loại bệnh do virut gây ra.
Thuốc được hấp thu như thế nào? Với dạng uống, tetracyclin được hấp thu qua đường tiêu hóa, nếu uống thuốc lúc đói, có khoảng 80% tetracyclin được hấp thu. Tetracyclin sẽ không hấp thu được nếu uống cùng với sữa hoặc uống gần với thời gian uống sữa do sữa làm đông vón tetracyclin. Thuốc được thải trừ qua nước tiểu và tetracyclin cũng tập trung ở gan, bài tiết qua mật vào ruột, một phần được tái hấp thu trở lại qua vòng tuần hoàn gan - ruột.
Tác dụng bất lợi
Kháng sinh tetracyclin là một loại kháng sinh có công hiệu tốt, chưa thể loại bỏ khỏi tủ thuốc kháng sinh của nhân loại. Tuy vậy, nếu dùng nhiều, bừa bãi dễ dẫn đến vi khuẩn kháng thuốc và xảy ra một số tác dụng không mong muốn. 
Việt Nam là một trong các nước đang lạm dụng thuốc kháng sinh, trong đó có tetracyclin đã dẫn đến vi khuẩn kháng thuốc rộng rãi, làm giảm hoặc mất tác dụng của thuốc. Ðối với tụ cầu khuẩn, người ta ước tính có trên 50% các chủng đã kháng tetracyclin. Ðối với trực khuẩn gram âm, có khoảng trên 40% chủng đã kháng thuốc.
Việc sử dụng tetracyclin có thể xuất hiện một số tác dụng không mong muốn, đó là cảm giác khó chịu sau khi uống (bỏng rát bụng, bỏng rát sau xương ức, cảm giác buồn nôn và nôn) do phản ứng làm kích ứng niêm mạc dạ dày. Với người bệnh có sẵn bệnh về dạ dày, cảm giác kích ứng niêm mạc dạ dày sẽ tăng lên và rõ rệt hơn. 
Tetracyclin có thể gây hiện tượng giảm nhu động. Nếu nhu động ruột bị giảm, hoạt động tiêu hóa sẽ bị đình trệ và người bệnh có cảm giác đầy bụng, không muốn ăn. Thêm vào đó, giảm nhu động ruột còn gây nhiễm khuẩn cơ hội trên đường tiêu hóa. 
Vì vậy, không được sử dụng kháng sinh tetracyclin ở bệnh nhân sau phẫu thuật bụng, vì những đối tượng này, nhu động ruột sau phẫu thuật chưa hồi phục hoàn toàn.
Một tác dụng bất lợi phải kể đến, đó là ảnh hưởng tới thẩm mỹ do tác dụng trên răng và xương ở trẻ em. Tetracyclin kết hợp với canxi và tạo phức hợp (chelat) bền vững, thành phần nhiều trong xương và răng, làm hỏng men răng, răng có màu vàng, xám, nâu vĩnh viễn và ảnh hưởng xấu đến phát triển xương của trẻ. Nếu dùng tetracyclin cho bà mẹ đang mang thai vào giai đoạn cuối của thai kỳ thì sẽ ngăn chặn sự phát triển xương của trẻ.
Trong tiêu hóa, tetracyclin gây ức chế tổng hợp protein gây ra ứ đọng các axit amin, các đơn vị tiền thân của protein, vì vậy, sự dư thừa các axit amin gây tăng phân giải tạo ra các sản phẩm urê và nitơ (urê máu sẽ cao) hoặc dùng với thuốc lợi tiểu sẽ làm tăng urê huyết. 
Vì vậy, hết sức cẩn thận khi dùng cho người cao tuổi và người có sẵn bệnh lý về thận (viêm thận mạn,...) có thể làm tăng urê máu dẫn đến hôn mê. Tetracyclin gây ra viêm gan và viêm tụy mức độ nặng nếu chúng ta dùng liều cao và kéo dài.
Một tác dụng bất lợi gây nguy hiểm cũng cần được lưu ý, đó là tetracyclin có thể làm tăng áp lực nội sọ, có thể gây tử vong cho người bệnh. Ngoài ra, nếu dùng tetracyclin với thuốc chống acid (thuốc chống acid chứa nhôm, bismut, calci hay magiê) sẽ giảm hoạt tính điều trị rõ rệt. Nếu nhất thiết phải dùng, cần dùng cách nhau một khoảng thời gian giữa hai loại thuốc.
Lưu ý, tetracyclin vẫn có thể gây dị ứng, sốc phản vệ, nhất là đối với người có cơ địa dị ứng.

Để hạn chế hoặc không bị tác dụng không mong muốn, cần sử dụng thuốc theo đơn của bác sĩ.



Mù loà vì tự ý dùng thuốc nhỏ mắt

Hàng trăm bệnh nhân đang chờ đến lượt khám tại BV Mắt Trung ương. Trong số đó, có nhiều người có nguy cơ bị mù do tự ý dùng thuốc nhỏ mắt.
Chị Nguyễn Thị V. (33 tuổi, Hà Nam) thường xuyên bị ngứa, khô mắt, tự ra hiệu thuốc mua thuốc về nhỏ. Khoảng 3 tháng sau, chị V nhìn mờ nhưng vẫn không để ý. Chị V nghĩ do mình thiếu ngủ và đến giờ khi nhập viện, hai mắt chị gần như không còn nhìn thấy gì.
Một trường hợp khác, anh Nguyễn Văn B. (30 tuổi, Hưng Yên) cũng có nguy cơ mù lòa vì phát hiện ở giai đoạn muộn. Trước đó anh B. thường xuyên tự ý dùng thuốc nhỏ mắt khi có biểu hiện mắt mờ.
Theo PGS.TS Cung Hồng Sơn, Phó Giám đốc BV Mắt TƯ, người dân tùy tiện dùng thuốc nhỏ mắt rất đáng báo động. Thực tế, thuốc nhỏ mắt có nhiều loại khác nhau, từ kháng sinh đến corticoid… và mỗi loại bệnh lại có chỉ định riêng. Tuy nhiên, người dân dễ dàng tự ý mua thuốc không có chỉ định, dẫn đến nhiều người dùng thuốc corticoid kéo dài, rất có nguy cơ gây bệnh.
Mù loà vì tự ý dùng thuốc nhỏ mắt - 1Tự ý dùng thuốc dễ bị hỏng mắt
Theo thống kê BV Mắt Trung ương, bệnh nhân bị Glôcôm góc mở, có tiền sử tra corticoid kéo dài nhiều, trong đó số người trong lứa tuổi lao động chiếm 63,1%. Nhiều bệnh nhân mắc Glôcôm khi nhập viện trong tình trạng muộn, thị lực thấp, nguy cơ mù loà cao.
Glôcôm hay thiên đầu thống là bệnh thường gây đau nhức và mất thị lực vĩnh viễn không hồi phục. Kết quả điều tra ở những người trên 50 tuổi của BV Mắt Trung ương tại 16 tỉnh, thành có khoảng 25.000 người mù do bệnh glôcôm. Đa số những người này sống ở nông thôn, nơi thiếu các dịch vụ chăm sóc mắt hoặc khó tiếp cận với các dịch vụ đó.
TS Đào Thị Lâm Hường- Nguyên Trưởng khoa Glôcôm - BV Mắt Trung ương cho biết, chỉ trong 1 năm đã có gần 33% bệnh nhân bị glôcôm, có tiền sử tra thuốc nhỏ mắt Corticoid kéo dài, trong đó trên 63% người tuổi từ 25-59.
Theo TS Hường, nhiều bệnh nhân nhập viện trong tình trạng thị lực thấp, nguy cơ mù lòa cao. Có nhiều trường hợp khi điều trị không tuân thủ hướng dẫn của của bác sĩ chuyên khoa, nên bệnh thường bị tái phát nặng. Đáng lo ngại hơn là trên 53% người dân khi được hỏi đều trả lời không nghe, không biết hoặc biết rất lơ mơ về bệnh glôcôm.
BS Hường lo ngại, nhiều cơ sở chuyên khoa mắt tuyến tỉnh hầu như chưa được trang bị về các phương tiện cơ bản phục vụ việc chẩn đoán và theo dõi BN glôcôm. Nhiều nơi BS chưa được trang bị đủ kiến thức về bệnh glôcôm, dẫn đến chỉ định điều trị sai. 
Vì thế đã có không ít trường hợp lẽ ra phải chỉ điều trị bằng thuốc, lại cho chỉ định phẫu thuật. Ngoài ra, có trường hợp cần được phẫu thuật sớm, bị giữ lại điều trị bằng thuốc, không chuyển lên tuyến trên... nên bị mù vĩnh viễn.


Theo Diệu Thu - Khám phá

Thuốc tan cục máu đông trong lòng mạch

Tiến trình thành lập cục máu đông sẽ được khởi phát khi dòng chảy của máu tiếp xúc với những chất hóa học khác nhau được gọi là yếu tố mô.
Thuốc tan cục máu đông trong lòng mạch
Các chất này tồn tại trong da hoặc thành mạch máu. Các chất này bình thường không tiếp xúc dòng máu, nó chỉ tiếp xúc dòng máu khi mạch máu bị vỡ và chảy máu ra khỏi thành mạch. 
Phần lớn các trường hợp nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não xảy ra từ hậu quả của thành lập cục máu đông đột ngột từ mảng xơ vữa cholesterol ở bên trong động mạch của tim hoặc não. 
Khi mảng xơ vữa vỡ ra đột ngột, các yếu tố mô bên trong mảng xơ vữa sẽ tiếp xúc với dòng máu, khởi phát tiến trình thành lập cục máu đông. Cục máu đông cũng thành lập khi dòng máu chảy quá chậm chạp. 
Rung nhĩ là tình trạng nhịp tim bất thường làm cho máu ứ đọng lại trong buồng tim, tình trạng này gây hình thành cục máu đông. Sự bất động lâu ngày gây ra chậm dòng máu ở chi, làm tăng nguy cơ tạo thành cục máu đông ở những tĩnh mạch chân.
Chất làm tan cục máu đông còn được gọi là liệu pháp tiêu sợi huyết, đây là biện pháp điều trị làm tan cục máu đông nguy hiểm trong lòng mạch, cải thiện dòng chảy mạch máu, bảo vệ mô và cơ quan của cơ thể. 
Chất tiêu sợi huyết cũng có thể được tiêm vào mạch máu hoặc tiêm trực tiếp vào cục máu đông thông qua một ống thông mạch máu. Thuốc tiêu sợi huyết thường được dùng trong điều trị cấp cứu mà cục máu đông gây tắc hoàn toàn mạch máu nuôi dưỡng tim và não, đó là những lý do chính gây nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não dạng thiếu máu, hoặc ở những động mạch ở phổi (thuyên tắc phổi cấp tính).
Theo BS.CKII. Đặng Minh Trí - Sức khỏe và Đời sống



Liệt dương vì … thuốc chống liệt dương

Việc dùng các sản phẩm chức năng, thuốc kích dục trôi nổi trên thị trường khiến một số quý ông chẳng những không... mạnh hơn  mà còn chẳng may bị... liệt dương.

Vừa qua, các bác sĩ ở BV Việt Đức tiếp nhận một bệnh nhân nam hơn 50 tuổi (ngụ tại Hà Nội) đến phòng khám nam khoa vì một chứng bệnh khó nói: dương vật cương cứng trong vòng 12h!
Theo lời kể của bệnh nhân nói trên, ông đã nhiều lần sử dụng Viagra để có thể quan hệ tình dục, mỗi lần uống một viên, nhưng những lần trước thấy một viên vẫn có vẻ chưa đủ “đô” nên lần này ông tự ý tăng liều lên gấp ba: uống một lúc 3 viên! Hậu quả là sau cuộc mây mưa mà “của nợ” vẫn cứ trơ trơ lên mãi, không chịu xuống!
Theo BS Trịnh Hoàng Giang (BV Việt Đức), tháng nào phòng khám nam khoa của bệnh viện cũng gặp trường hợp tương tự. Nguy hiểm là phần lớn bệnh nhân bị sự cố này thường xấu hổ, cứ ngồi nhà ôm “của nợ” với hi vọng chờ nó trở lại bình thường. Họ không biết rằng nếu để hiện tượng cương đau kéo dài quá 12h, đặc biệt là để quá 24h thì nguy cơ liệt dương vĩnh viễn sẽ rất cao.
Cùng đến bệnh viện với bệnh nhân nói trên là một ông trên 60 tuổi. Vì có chút hiểu biết về nghề y (là y sĩ), ông đã tự chích Papaverine – một loại thuốc có tác dụng làm cương cứng dương vật (nhưng nay được khuyến cáo không nên sử dụng để tiêm gây cương do nguy cơ quá liều). 
Hậu quả là sau khi tiêm thuốc này và quan hệ xong, dương vật của ông vẫn cương cứng như lúc chưa làm gì. Ông để vậy chịu trận gần một ngày mới đến BV Việt Đức.
Theo BS Trịnh Hoàng Giang mặc dù được phẫu thuật điều trị giải thoát khỏi tình trạng trớ trêu, nhưng đến 80% khả năng bệnh nhân này sẽ bị liệt dương vĩnh viễn. Với bệnh nhân sử dụng thuốc liền một lúc ba viên Viagra, tình hình có khả quan hơn nhưng hiện bác sĩ vẫn đang phải theo dõi tích cực.
liet duong hinh anh 1
 Ảnh minh họa
Các bác sĩ nam khoa BV Việt Đức còn hay gặp các trường hợp mấy ông anh đeo khuyên, cấy bi, bơm sillicon vào “của nợ” khiến nó bị hoại tử da và ngộ độc sillicon tại chỗ, buộc phải đến bác sĩ để lấy “dị vật” ra. Với các trường hợp bơm sillicon, theo các bác sĩ, điều khó khăn là không bao giờ có thế lấy hết được lượng sillicon đã bơm vào, tức là nguy cơ vẫn còn sau khi bệnh nhân đã được điều trị.

Theo BS Giang, các trường hợp đeo khuyên, cấy bi cho dương vật, tức là đưa một vật thể lạ vào dương vật (vốn là vị trí rất dễ nhiễm khuẩn) thường bị các hiện tượng như: tạo ổ mủ, ổ viêm, gây kích ứng tại chỗ, lở loét…

Khảo sát trong số những bệnh nhân đến khám nam khoa, chúng tôi thấy có người chỉ 22-23 tuổi, nhưng phần lớn là nam giới ở lứa tuổi 35-60. Họ vốn trước đây hoàn toàn bình thường, nhưng gần đây có những trục trặc như rối loạn cương hoặc xuất tinh sớm. 
Cũng theo BS Giang, gần đây nam giới có trục trặc về đời sống tình dục đã sẵn sàng đi gặp bác sĩ nam khoa nhiều hơn so với trước, không quá giấu giếm tình trạng của mình. Nhưng nỗi ngại ngùng, lo sợ cơ quan, gia đình và đồng nghiệp biết chuyện của mình khiến rất nhiều ông hay sử dụng biện pháp tự chữa hoặc nghe mách nước từ bạn bè, người quen để chữa trị những rắc rối của mình. 

Các bác sĩ nam khoa khuyến cáo: “Kể cả dùng thuốc và thực phẩm chức năng thì đều nên có sự tư vấn của bác sĩ để đạt được hiệu quả sau điều trị. Đừng nghe người quen mách rồi tự dùng các thuốc, thực phẩm chức năng trôi nổi không rõ nguồn gốc để xảy ra tai biến và ảnh hưởng tới khả năng đàn ông.
Theo Lan Anh - Tuổi trẻ


Rước họa vì tự “nạp” thuốc giảm đau khớp

Để "chữa cháy", nhiều bệnh nhân mắc bệnh xương khớp đã tự ý dùng thuốc chống viêm, giảm đau tức thì. Tuy nhiên, không ít người đã ôm hận vì tác dụng phụ nguy hại của các loại thuốc này.

Lợi bất cập hại
Sau khi bác sĩ chẩn đoán mắc bệnh thoái hóa khớp, ông Nguyễn Văn Hợp (ở Đống Đa, Hà Nội) được kê đơn thuốc về nhà uống. "Khi uống thuốc thấy bệnh có thuyên giảm, nhưng mấy tháng sau "trở trời" bệnh lại tái phát", ông kể. Ông Hợp mua hai loại thuốc giảm đau và chống viêm ở hiệu thuốc về uống. Ít lâu sau, khi bệnh khớp có giảm đi chút ít thì ông bị bệnh loét dạ dày. 
Tương tự, không chịu đựng cơn đau do bệnh thấp khớp hành hạ, anh Trịnh Sơn (46 tuổi, ở Từ Liêm, Hà Nội) mua thuốc giảm đau về uống. Một thời gian tự ý dùng thuốc, anh Sơn bị viêm dạ dày và men gan tăng cao bất thường.
PGS.TS.BS Lê Anh Thư - Phó chủ tịch Hội Thấp khớp học VN - cho biết: "Các thuốc chống viêm, giảm đau tức thì là một biện pháp điều trị quan trọng và hữu hiệu trong các bệnh lý cơ - xương - khớp. Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp lâu dài và gây nhiều biến chứng". Theo bác sĩ, nếu có chỉ định tiêm corticosteroid thì cũng cần có kỹ năng chứ không phải ai cũng tiêm được vì dễ xảy ra các biến chứng như canxi hóa bao khớp, nhiễm trùng, đứt gân, teo da, teo mỡ, thậm chí tử vong sau tiêm…
BS Anh Thư cho biết thêm, sau tuổi 40, nhóm bệnh viêm khớp tăng cao nhất trong các bệnh lý của con người, hơn cả tim mạch và ung thư. Đặc biệt, thoái hóa khớp chiếm đến 50% trong nhóm bệnh viêm khớp. 
Tại Việt Nam, tỉ lệ người thoái hóa khớp trên 35 tuổi là 30%, trên 65 tuổi là 60% và trên 80 tuổi lên đến 85%. "Thực trạng đáng lo ngại là những người có vấn đề về cơ, xương hay khớp ở Việt Nam thường không chủ động đến gặp bác sĩ chuyên khoa mà tự ý điều trị, sử dụng tùy tiện thuốc chống viêm, giảm đau thông thường", bác sĩ Thư cho biết.
Điều trị "trúng đích" và an toàn
GS-TS-BS Trần Ngọc Ân - Chủ tịch Hội Thấp khớp học VN - nhận định, xu hướng điều trị bệnh khớp cần ngày càng phải trúng đích và an toàn, không thể sử dụng lâu dài các biện pháp điều trị toàn thân trong khi tình trạng viêm, đau chỉ khu trú ở một vài vị trí. Theo đó, thuốc sinh học và điều trị từ gốc được xem là bước tiến bộ quan trọng và là cuộc cách mạng trong phòng cũng như điều trị thoái hóa khớp, các loại viêm khớp.
Các thuốc sinh học có mặt tại VN trong thời gian gần đây đã mang đến những tiến bộ trong việc điều trị và hỗ trợ điều trị các bệnh khớp, điển hình là dưỡng chất sinh học UC-II (collagen tuýp 2 không biến tính), khi sử dụng bằng đường uống sẽ cung cấp axít amin collagen tuýp 2 trực tiếp cho sụn, điều chỉnh đáp ứng miễn dịch tại khớp thông qua hoạt động của các tế bào T giúp cơ thể nhận biết và bảo vệ mô sụn, đồng thời làm giảm đáng kể lượng các cytokine gây viêm nên có hiệu quả giảm sưng đau khớp.
"Các thuốc chống viêm, giảm đau tức thì là một biện pháp điều trị quan trọng và hữu hiệu trong các bệnh lý cơ - xương - khớp. Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp lâu dài và gây nhiều biến chứng", PGS.TS.BS Lê Anh Thư - Phó Chủ tịch Hội Thấp khớp học VN - nói.


Các loại vitamin quan trọng mẹ bầu cần bổ sung khi mang thai

Việc bổ sung các vitamin cho cơ thể trở nên đặc biệt quan trọng trong giai đoạn bạn mang thai để đảm bảo cho sự phát triển khỏe mạnh của em bé. Dưới đây là một số loại vitamin mà mẹ bầu cần đặc biệt lưu ý và vai trò của nó đối với sức khỏe của cả mẹ và con trong giai đoạn mang thai.
Các loại vitamin quan trọng mẹ bầu cần bổ sung khi mang thai 1
Theo Trí thức trẻ


Đừng tin vitamin C chữa khỏi cảm lạnh

Xưa nay, nhiều người quan niệm dùng vitamin C để trị cảm lạnh. Song trên thực tế, chưa có nghiên cứu nào khẳng định điều đó.

vitamin c
Cảm lạnh là một bệnh thường gặp mỗi khi thay đổi thời tiết. Các triệu chứng thường gặp là chảy mũi, nghẹt mũi, ho hoặc hắt hơi. Những triệu chứng này thường đi kèm với đau cơ, mỏi mệt, nhức mỏi, khó chịu, nhức đầu, chán ăn. Người bị cảm lạnh có thể sốt kéo dài trong 7-10 ngày, thậm chí tới vài tuần.
Cảm lạnh thông thường là căn bệnh truyền nhiễm thường gặp nhất ở người. Bệnh không quá nguy hiểm, thường có thể tự khỏi kể cả khi không dùng thuốc. Nhiều người được khuyên dùng vitamin C để chữa khỏi bệnh cảm lạnh thông thường. Tuy nhiên, theo An Ninh Thủ Đô, chưa có một kết luận nào về sức mạnh nào của vitamin C với bệnh cảm lạnh.
Dưới đây là những sự thật thú vị về mối liên quan giữa vitamin C và cảm lạnh thông thường:
1. Nghiên cứu không xác định được mối liên quan giữa dùng vitamin C và chữa bệnh cảm lạnh thông thường
Đã có rất nhiều nghiên cứu về mối liên quan này nhưng chưa đưa ra được kết luận cuối cùng. Không ai có thể đảm bảo chắc chắn việc dùng liều cao vitamin C có thể thực sự chữa cảm lạnh. Có thể vitamin C giúp rút ngắn thời gian bị cảm lạnh, nhưng điều đó không đúng với tất cả mọi người.
2. Bổ sung vitamin C qua thực phẩm
Nếu bạn đang định dùng vitamin C để chữa cảm lạnh hoặc tăng cường hệ miễn dịch, hãy bổ sung nó qua thực phẩm hàng ngày chứ không phải các chế phẩm bổ sung.
Vitamin C có tự nhiên trong các thực phẩm sau: trái cây và nước ép trái cây họ cam quýt , ớt xanh và ớt đỏ, dâu tây, cà chua, súp lơ xanh, rau lá xanh đậm, khoai lang, khoai tây, dưa đỏ, quả mâm xôi, quả việt quất và nam việt quất, dưa hấu, dứa và bắp cải.
3. Bổ sung vitamin C không phải không có lợi
Liều dùng vitamin C khuyến nghị hàng ngày là 90mg ở nam và 75mg ở nữ. Dùng nhiều hơn liều khuyến nghị hoặc Ahơn 500mg/ngày để chữa cảm lạnh không có lợi vì cơ thể bạn thực sự không thể dung nạp hết. Những người có vấn đề về thận cũng không nên dùng quá nhiều vitamin C. Dùng quá nhiều vitamin C có thể gây tiêu chảy và khởi phát bệnh dạ dày.
Theo nhiều nghiên cứu, bạn có thể không chữa khỏi cảm lạnh với liều cao vitamin C nhưng cũng không nên vì thế mà ngừng ăn các loại thực phẩm giàu vitamin C vì nó có thể giúp bạn hấp thu sắt và dù có chữa được cảm lạnh hay không, vitamin C cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch của bạn.



 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons