Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Mẹ suýt mất con vì cho trẻ dùng thuốc không đủ liều

Được chỉ định dùng thuốc dự phòng hen 6 tháng, nhưng sau khi dùng 2 tháng thấy con đỡ, phụ huynh nhất định không cho dùng thêm. Hậu quả là cháu bé phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch.

Thời gian qua, liên tục xuất hiện nhiều trường hợp trẻ bị hen nặng phải nhập viện, điều đáng nói là lỗi đa phần do người lớn chủ quan.
Thấy con đỡ, bỏ thuốc ngay
Theo thống kê của khoa Miễn dịch - Dị Ứng - Khớp, BV Nhi Trung ương, có tới 60% trường hợp các gia đình sau một thời gian điều trị dự phòng cho con, thấy sức khỏe trẻ ổn định là tự động bỏ thuốc, không đưa con tái khám định kỳ.

Đây là sai lầm thường gặp ở các bậc phụ huynh khiến tình trạng hen của trẻ càng trở nên trầm trọng, thậm chí phải nhập viện cấp cứu do cha mẹ đột ngột ngừng dự phòng.

Điển hình là trường hợp gia đình chị Hà (Hoàng Mai, Hà Nội) đã suýt mất con vì lý do này. Bé Sóc nhà chị Hà được chẩn đoán mắc hen và được chỉ định dùng thuốc dự phòng hàng ngày ít nhất trong 6 tháng. Nhưng mới được hơn 2 tháng, thấy bệnh bé đỡ hẳn nên bà ngoại xót cháu, nhất định không cho dùng thêm thuốc.

Không những thế, chị Hà còn nghe người bạn mách trong thuốc hen có chứa corticoid, dùng lâu dài có thể khiến mặt bị phù, thay đổi nội tiết và liệt kê một loạt các tác dụng phụ nên chị Hà ngưng hẳn việc dự phòng.

Cho đến khi đang đi học, cô giáo gọi điện thông báo bé Sóc phải đi cấp cứu. Vào viện, nhìn con gái bé bỏng vật vã, tím tái, đờ đẫn trong cơn hen, chị Hà không ngừng tự trách bản thân mình: “Nếu không được đưa vào bệnh viện kịp thời, có lẽ mình đã mất con rồi”.

Tương tự trường hợp bé Sóc, bé Minh, con trai chị Uyên (Yên Bái) năm nay mới 7 tuổi nhưng đã có tiền sử 5 năm sống chung với bệnh hen. Thời gian đầu mới điều trị cho con, chị Uyên tuân thủ rất nghiêm ngặt lời căn dặn của bác sĩ.

Tuy nhiên, sau khi dùng thuốc được 6 tháng, phần vì thấy con trai đã ăn ngon, ngủ tốt, phần vì công việc bận rộn, nên chị quên hẳn việc phải đưa Minh đến tái khám định kỳ. Gần đây, khi thời tiết giao mùa, thấy con trai tái phát tình trạng ho, khò khè mỗi đêm, thể trạng lúc nào cũng lờ đờ, mệt mỏi vì mất ngủ chị mới đưa con trở lại phòng khám.

Nếu để kéo dài sẽ không thể phục hồi
Đánh giá về những rường hợp nhập viện do chủ quan trên, ThS.BS Lê Thu Hương - chuyên khoa Miễn dịch - Dị Ứng - Khớp, cho biết các bậc phụ huynh cần hiểu rằng, hen là một bệnh viêm mãn tính đường thở. Ngay cả khi trẻ không có triệu chứng bệnh thì tình trạng viêm nhiễm vẫn diễn ra âm thầm. Nếu không được kiểm soát hen triệt để, trẻ mắc hen với những tổn thương phổi kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng chức năng phổi suy giảm đến mức không thể phục hồi.
Theo BS Hương, việc dự phòng hen không đúng cách vừa ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, lại khiến chi phí chăm sóc cho bệnh nhân tăng vọt, đặc biệt là khi trẻ phải nhập viện cấp cứu. Nhiều gia đình điều trị dự phòng nhưng không đều đặn vì cho rằng không cần thiết. Bên cạnh đó, các bậc cha mẹ còn lo ngại tác dụng phụ của thuốc hen nếu trẻ phải điều trị kéo dài.
“Các gia đình không hiểu một điều rằng, mỗi một lần con lên cơn, lượng thuốc bé phải dùng sẽ tăng gấp nhiều lần thuốc dự phòng. Thêm vào đó, việc sử dụng thuốc đường uống hoặc đường tiêm để xử trí trẻ lên cơn hen cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác dụng phụ hơn”, BS Hương chia sẻ.

Theo các bác sĩ, hen là một bệnh hoàn toàn có thể kiểm soát được nếu cha mẹ biết hướng con đến lối sống lành mạnh và chăm sóc điều trị trẻ hen đầy đủ, đúng cách.

Dự phòng hen giúp trẻ duy trì chức năng phổi tốt, hạn chế tình trạng trẻ tái cơn cũng như chịu đựng tác dụng phụ của thuốc, từ đó tiết kiệm công sức và chi phí điều trị bệnh.

Bên cạnh đó, cha mẹ cần tránh cho trẻ tiếp xúc với các yếu tố kích thích; tiêm vaccine đầy đủ, đặc biệt là vaccine cúm; tuân thủ đúng kế hoạch điều trị do bác sĩ chuyên khoa tư vấn; sử dụng đúng thuốc được kê đơn, xịt thuốc đúng phương pháp. Tái khám bác sĩ đều đặn để được đánh giá mức độ kiểm soát hen, chức năng phổi, tình trạng viêm, chỉnh thuốc theo tiến triển bệnh.



Bổ sung vitamin đúng cách

Vitamin rất cần thiết cho cơ thể, tuy nhiên việc bổ sung Vitamin không đúng cách sẽ dẫn tới tình trạng thiếu hoặc thừa Vitamin quá mức cần thiết gây tổn hại đến sức khỏe.

Não bộ: Vitamin D
Các nghiên cứu đã chỉ ra, vitamin D giúp cải thiện khả năng hoạt động của não, tăng cường trí nhớ. Phơi nắng là cách đơn giản nhất để cơ thể có được loại vitamin này. Hơn nữa, vitamin D còn giúp giảm nguy cơ ung thư buồng trứng, ung thư ruột kết và tuyến vú.
Cơ thể tự sản sinh ra vitamin D khi da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Vitamin D cũng có trong một số thực phẩm như tôm, sò, cá, trứng, bơ...
Mắt: Vitamin E
Ngoài vitamin A, vitamin E cũng là một dưỡng chất cần thiết cho mắt. Vitamin E là một loại vitamin tan trong chất béo, cũng là một trong những chất chống oxy hóa tốt nhất, có thể ức chế quá trình peroxide hóa lipid trong thủy tinh thể, giúp tránh tình trạng giãn mạch ngoại vi, cải thiện tuần hoàn máu và dự phòng phát sinh, tiến triển bệnh cận thị.
Tim mạch: Axit béo omega-3
Loại axit béo có trong dầu cá có thể làm giảm nồng độ triglyceride (chất làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường và bệnh tim). Mỗi ngày uống 1.000mg axit béo omega-3 có thể bảo vệ tim mạch, giúp người mắc bệnh tim giảm nguy cơ bị bệnh mạch vành (còn gọi là thiếu máu cơ tim).
Thận: Vitamin B6
Uống đủ nước là cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe của thận. Mỗi ngày bổ sung 40mg vitamin B6 cũng có thể giảm 60% nguy cơ bị sỏi thận. Vitamin B6 còn là vật chất cần thiết để chuyển hóa đường, chất béo trong cơ thể. Loại vitamin này cũng liên quan tới sự chuyển hóa của estrogen nên có tác dụng phòng tránh một số bệnh phụ khoa.
Vi sinh vật trong đường ruột của người có thể tổng hợp ra vitamin B6, nhưng số lượng này rất ít. Thực tế, lượng cần thiết của vitamin B6 đối với cơ thể liên quan tới lượng protein được tiếp nạp. Chẳng hạn, với người thường ăn nhiều thịt cá thì nên chú ý bổ sung vitamin B6 nhằm tránh bị các bệnh mãn tính do thiếu vitamin này gây nên.
Tuy nhiên, cần chú ý, không bổ sung dư thừa vitamin B6 vì sẽ dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ.
Gan: Cây cúc gai
Cúc gai được mệnh danh là thần dược bảo vệ gan. Tác dụng của các thuốc chiết xuất từ cây này giúp giảm viêm gan, xơ gan, suy giảm chức năng gan do rượu bia, giúp gan giải độc... Ngoài ra, cây cúc gai còn hỗ trợ kháng oxy hóa, lợi tiểu...
Các dược phẩm có nguồn gốc từ cây cúc gai cần được bác sĩ hướng dẫn trước khi sử dụng.
Xương cốt: Vitamin C
Ngoài việc tăng cường hệ thống miễn dịch, vitamin C còn cần thiết cho việc hình thành xương, khỏe da và chắc răng, cũng như việc sản xuất collagen. Cơ thể thiếu vitamin C sẽ gây ra nhiều bệnh như xuất huyết, loãng xương... 
Vitamin C cũng hỗ trợ phân giải chất béo, thúc đẩy hấp thụ sắt và là một chất chống oxy quan trọng. Tuy nhiên, nếu bổ sung vitamin này quá nhiều sẽ gây loét dạ dày, tá tràng, viêm bàng quang.
Vitamin C có nhiều trong hoa quả, như anh đào, họ cam quýt...



Thuốc chống ói cho bà bầu

Một liều thuốc chống nôn có thể giúp thai phụ vượt qua cơn nghén dễ dàng. Nhưng thuốc chống ói có thực sự là cứu tinh.

Chị Nguyễn Thị Thu (Thanh Xuân Bắc, Hà Nội) mang thai vừa được tháng thì có dấu hiệu nghén nặng. Mỗi ngày chị nôn ói đến 25-30 lần. Triệu chứng nôn ói khiến chị đau bụng, tức ngực. Chị than thở: "Đến mình còn không sống nổi thì em bé làm sao chịu được". 
Chính vì thế chị nghĩ đến việc dùng thuốc chống ói. Nhưng khi thấy chị cầm vỉ thuốc chống ói về thì mẹ chồng và chồng nhất định ngăn cản không cho uống vì sợ ảnh hưởng tới thai nhi. Vậy là cuộc "chiến tranh lạnh" trong gia đình chị bắt đầu. 
Chị hậm hực với chồng: "Anh thử nghén xem anh có chịu nổi không. Thuốc họ bán được cho bà bầu, tức là mình có thể dùng được. Cứ để nôn ói mãi, có khi cả mẹ và con đều nguy".
Hiện tượng nôn ói như chị Thu là rất phổ biến ở các thai phụ. BS Nguyễn Bạch Đằng, Bộ môn tiêu hóa, Học viện Quân y cho hay: "Có tới 90% thai phụ có cảm giác nôn và buồn nôn trong những tháng đầu của thai kỳ, sau đó giảm đi ở tuần thứ 14. 
Nhưng vẫn có một số người bị ói đến tận lúc sinh". Nhiều người vì nôn ói quá mức dẫn tới mất nước, mất dinh dưỡng phải nhập viện để truyền nước. Trên thị trường lại có rất nhiều thuốc chống nôn ói. Vì thế không ít người muốn tìm đến thuốc chống nôn để giải quyết thực trạng.
Cẩn thận lặp lại thảm họa thalidomide
Trước vấn đề thai phụ có thể dùng thuốc chống nôn không, BS Đằng đưa ra nhận định: Một số trường hợp nôn ói nặng, bác sĩ vẫn kê đơn một số thuốc chống nôn thuộc nhóm kháng histamine hoặc domperidon, metoclopramid. Một số loại thuốc thường được kê cho thai phụ là metoclopraimid (primperan), promethazin, prochlorperazin, chlorpromazine.
Mặc dù chưa có nghiên cứu nào về tác hại của các thuốc trên với thai nhi nhưng thực tế các thuốc này vẫn qua được nhau thai và có ảnh hưởng ít nhiều tới bé. Trong trường hợp thai phụ có bệnh dạ dày, viêm tụy, viêm ruột thừa… thì thuốc chống nôn càng gây ra hậu quả xấu với sức khỏe của mẹ.
Khi trao đổi với phóng viên, BS Đằng cũng đã nhắc lại thảm họa về thuốc chống nôn thalidomide. Đã bị cấm dùng từ thập niên 1960 nhưng thảm họa của thalidomide để lại vẫn còn ám ảnh đến tận bây giờ. Những năm 1950, thalidomide ra đời và được thai phụ trên 46 quốc gia tin dùng. 
Thành phần của thuốc có tác dụng an thần mạnh mẽ nên giảm tình trạng nôn. Ở thời điểm đó, thalidomide được xem như là thần dược của phụ nữ có thai. Nhưng y khoa nhận thấy những ca sinh ra bị dị tật lại tăng một cách nhanh chóng. Lúc đó người ta nghi ngờ thalidomide.
Theo ghi nhận của Tổ chức y tế thế giới thì có khoảng 10.000 ca dị tật do phơi nhiễm thalidomide, nặng nề nhất là các ca ở Đức. Hơn nửa thế kỷ qua đi, nhưng vẫn nhiều người ám ảnh bởi thảm kịch mà thalidomide gây ra. Tháng 8/2012, Tổng giám đốc hãng dược Gruenenthal, Đức đã công khai xin lỗi những bà mẹ từng dùng loại thuốc này và bắt đầu kế hoạch đền bù.
Bởi những điều trên, nên BS Đằng cho rằng chỉ khi nào việc nôn ói ảnh hưởng quá nặng đến sức khỏe, thai phụ mới nên dùng thuốc và việc dùng thuốc phải được bác sĩ kê chứ không tự ý dùng.
Vitamin B6 - "thuốc" an toàn nhất
Trước hết để giảm chứng nôn ói, BS Đằng khuyên bạn nên ăn theo từng bữa nhỏ, ăn những đồ ăn vừa đủ ấm, không quá nóng, hay quá lạnh và hạn chế các gia vị mạnh (tiêu, tỏi, hành).
Còn trong các dạng dược phẩm mà thai phụ có thể dùng, BS Đằng khuyên thai phụ nên tìm dùng các viên bổ sung vitamin B6 trước khi dùng thuốc Tây khác. 
Nguyên nhân là do B6 vừa là thành phần cần thiết cho cơ thể, có tác dụng tốt với sự phát triển của thai nhi. Vitamin B6 dù sinh ra không phải là thuốc chống nôn nhưng thực tế lại cho thấy nhiều trường hợp dùng chúng thì giảm hẳn cơn nôn ói.
Đến bây giờ y khoa chưa thống nhất lý do vì sao B6 chống được những cơn buồn nôn nhưng một số giả thuyết cho rằng do nó giúp chuyển hóa tốt protein nên giảm nôn ói. Mỗi ngày, thai phụ có thể bổ sung 2-10mg B6. 
Tuy nhiên bạn không được lạm dụng vì nếu dùng quá nhiều B6 sẽ gây mệt mỏi thần kinh. B6 cũng có trong nhiều thực phẩm như ngũ cốc, trứng, đậu, các loại hạt, quả bơ. Bởi vậy, trong thai kỳ, bạn bổ sung thêm các thực phẩm trên cũng có thể giảm cơn nôn ói.



Lưu ý để uống thuốc đúng cách


luu y khi uong thuoc-suckhoegiadinh
Uống thuốc không phải đơn giản và rất nhiều người đã gặp phải khó khăn trong quá trình uống thuốc. Tùy vào dược tính và tính khả dụng, sự hấp thụ, chuyển hóa, phân phối, thải trừ của thuốc mà thuốc viên được bào chế với các hình dạng khác nhau. Nhiều loại uống rất dễ dàng nhưng cũng có loại với kích thước "quá khổ" khiến cho người bệnh khó nuốt.
Điều này vốn là nỗi ám ảnh của rất nhiều người đặc biệt là đối với trẻ em. Việc sợ uống thuốc do khó nuốt có thể sẽ làm cho cuống họng càng bị siết chặt lại, điều này càng làm cho viên thuốc nằm lâu hơn trong miệng dẫn đến sợ hãi việc uống thuốc ở những lần sau.
Vì vậy, theo thông tin trên Người Lao Động, để việc uống thuốc trở nên dễ dàng hơn, bạn nên áp dụng những tuyệt chiêu sau:
Không được nuốt thuốc khi nằm
Cách tốt nhất là chỉ nuốt trong tư thế ngồi hoặc đứng.
Tìm cách gia tăng tuyến nước bọt
Miệng bị khô cũng là nguyên nhân gây khó khăn cho việc nuốt thuốc. Bạn có thể tự làm tăng sự tiết nước bọt bằng cách tưởng tượng ra rằng đang thưởng thức những món ăn khoái khẩu hoặc những loại trái cây chua như me, xoài, cóc, ổi… 
Bạn cũng có thể uống trước một hớp nước hoặc đánh nhẹ mặt trên và mặt dưới của lưỡi vào môi hay răng. Rất nhiều người cảm thấy việc nuốt thuốc bỗng trở nên dễ dàng nếu áp dụng phương cách như trên.
Không nên nuốt thuốc bằng cách cắt, bẻ viên thuốc ra làm đôi hoặc nhiều phần nhỏ hơn
Phương pháp này có thể ảnh hưởng đến phương cách mà thuốc sẽ được hòa tan trong dạ dày, đồng thời còn làm cho viên thuốc càng có mùi vị "khó ưa" hơn. Bên cạnh đó, những cạnh sắc của mặt cắt viên thuốc có thể gây trầy xước cuống họng khi nuốt.
Vài viên thuốc được bao viên một cách đặc biệt có tác dụng "hẹn giờ". Khi bẻ viên thuốc ra, sẽ khiến cho viên thuốc được giải phóng nồng độ một cách nhanh chóng hơn, vì thế dễ xảy ra những trường hợp ngộ độc thuốc.
Không uống chung với những loại nước giải khát, nước trái cây
Có nhiều bậc cha mẹ tìm cách cho trẻ nuốt thuốc dễ hơn bằng việc cho uống chung với những loại nước giải khát, nước trái cây. Điều này hoàn toàn bất lợi cho việc sử dụng thuốc.
Cần phải được tư vấn bởi bác sĩ hoặc dược sĩ về việc nuốt thuốc với tất cả những loại thức uống. Rất nhiều dược phẩm bị mất đi tính hiệu quả hoặc gây ra tác dụng phụ khi được sử dụng chung với một số loại thực phẩm và thức uống. Chẳng hạn, vài loại kháng sinh không bao giờ được sử dụng chung với sữa hoặc những sản phẩm từ sữa (phô mai, yaourt…).
Một số người sử dụng thuốc đã "phát minh" ra những cách đưa thuốc vào cơ thể bằng việc cà thành bột rồi rắc vào đồ ăn, thức uống hoặc nuốt chung với trái cây như chuối, táo… Điều này chỉ làm phản tác dụng của thuốc hoặc có thể gây ra những tác dụng phụ có hại.
luu-y-khi-uong-thuoc-suckhoegiadinh
Khi nuốt chung với dịch ép nước bưởi, một số dược phẩm được tăng sự hấp thu
Nếu một loại thuốc được hấp thu nhanh hơn mong đợi, có nghĩa là thuốc ấy sẽ tăng tác động. Ví dụ, thuốc dùng để hạ huyết áp có thể sẽ làm hạ huyết áp quá mức. Nếu một loại thuốc tăng hấp thu, đồng nghĩa với việc tăng những tác dụng phụ. 
Nguyên nhân là trong dịch ép nước bưởi có nồng độ cao các chất naringin, bergamottin và dihydroxybergamottin. Những chất này sẽ tác dụng với enzyme cytochrome P450 insoform CYPA4. 
Các loại thuốc tương tác với nước ép bưởi gồm hạ huyết áp, hạ cholesterol statin, ức chế miễn dịch dùng trong các trường hợp cấy ghép các cơ quan nội tạng, chất ức chế men protease trong điều trị HIV/AIDS, vài loại thuốc chống lo âu (anti-anxiety) và kháng histamine (antihistamin). Cần tham khảo ý kiến dược sĩ xem những thuốc bạn đang sử dụng có bị ảnh hưởng bởi dịch ép nước bưởi hay không.
Nếu gặp khó khăn trong việc nuốt thuốc thì có thể bạn mắc phải chứng khó nuốt (dysphagia). Đây là lúc bạn cần phải được chẩn đoán và điều trị. Hãy nhớ rằng những bệnh nhân dysphagia không những gặp khó khăn khi nuốt thuốc mà còn khổ sở trong việc nuốt thực phẩm, uống nước…
Các loại nước uống không tốt khi dùng thuốc
Bạn cần được dược sĩ tư vấn để xem loại thuốc đang dùng với loại nước đang uống có thể xảy ra tương tác hay không. 
Trà và cà phê thường làm giảm hoặc mất hoạt tính của thuốc. Đặc biệt, dịch ép nước bưởi có thể gây bất lợi cho việc uống thuốc. Dịch ép nước bưởi sẽ làm tăng sự hấp thu của một số dược phẩm. Điều này nghe có vẻ như có lợi song thực tế lại gây nguy hiểm cho cơ thể.



Nhỏ thuốc mắt chớ nhỏ bệnh

Thói quen tự mua thuốc về nhỏ mắt có thể khiến bạn có cảm giác dễ chịu lúc đó nhưng thực chất chúng đang khiến bạn bị bệnh nặng thêm, thậm chí có nguy cơ mù lòa.



Coi chừng đục thủy tinh thể
Trong một lần đau và ngứa mắt, chị Lê Thu Hoa, Thanh Xuân, Hà Nội đã không đi khám và mua thuốc mà lại dùng thuốc của người bạn, vì nghe nói: "Lần trước, tôi cũng bị như thế, dùng thuốc này rất tốt".
Chị nhỏ thuốc vào buổi tối thì ban đầu chỉ thấy dặm dặm mắt khó chịu, đến sáng hôm sau mắt sung vù lên, đỏ. Khi đến khám tại BV Mắt Quốc tế, Hoa mới biết cô bị như thế là do dị ứng với corticoid trong lọ thuốc nhỏ mắt. Ngay lập tức các bác sĩ cho dừng sử dụng loại thuốc nhỏ mắt này, và cô phải điều trị tại đây 3 ngày thì khỏi.
Không ít người cũng giống chị Hoa, hễ thấy ngứa mắt nhỏ mắt là tự ý mua thuốc về dùng, hoặc nhất định yêu cầu quầy thuốc tư bán cho loại thuốc đã dùng như lần trước. Tình trạng bán thuốc không theo đơn, dùng thuốc ko theo chỉ định của bác sĩ… tương đối phổ biến ở Việt Nam.
BS Đặng Văn Quế - Phó Giám đốc BV Mắt Quốc tế cho biết, thuốc nhỏ mắt có nhiều loại (kháng sinh, corticoid…), trong đó việc sử dụng thuốc nhỏ mắt có chứa corticoid nhất thiết phải theo sự chỉ định của bác sĩ. Ngay cả trường hợp bác sĩ chỉ định những thuốc có corticoid để nhỏ vào mắt thì bác sĩ cũng phải thận trọng khuyên người ta nhỏ trong vòng bao nhiêu lâu.
Thuốc nhỏ mắt có corticoid có công dụng trị bệnh rất nhanh nếu dùng đúng. Nhưng chúng lại dễ để lại tác dụng phụ nguy hiểm, không chỉ gây nguy cơ dị ứng như trường hợp của chị Hoa mà còn có thể gây hỏng mắt như thủy tinh thể, tăng nhãn áp. Lý do là quá trình chuyển hóa thuốc trong cơ thể có thể làm ảnh hưởng đến tương tác trong phần thủy tinh thể nên nó gây đục.
Trước nguy cơ trên, BS Quế còn nhấn mạnh: Không chỉ những loại thuốc nhỏ mắt chứa corticoid mới cần dùng theo đơn của bác sĩ, mà ngay các loại thuốc nhỏ mắt thông thường khác người bệnh cũng không nên tự ý mua dùng.
Tốn tiền, bệnh không khỏi
Các loại bệnh về mắt được chia làm nhiều dạng, nhưng chúng thường có một vài biểu hiện bên ngoài giống nhau như: đỏ, ngứa. Chính vì thế, dù nhiều người đang bị một bệnh khác với lần trước nhưng lại chủ quan cho rằng dùng thuốc như lần trước cũng hiệu quả.
Đồng thời, thuốc nhỏ mắt loại corticoid lại vừa mang tính kháng viêm, vừa giảm đau luôn có thể làm mắt êm hơn, đỡ đau nhức, đỡ xót, giảm dấu hiệu đỏ và ngứa. Thế nên bệnh nhân nhầm tưởng loại nhỏ mắt có thành phần corticoid có công hiệu, dù đang bị bệnh gì.
Nhưng trên thực tế, BS Quế cho biết thuốc corticoid không chống được tình trạng viêm loét (như trong bệnh viêm loét giác mạc) nên nếu người bệnh dùng coricoid có thể khiến viêm nhiễm mạnh hơn, bệnh nặng thêm. Trong trường hợp này, đáng lẽ bệnh nhân phải dùng loại nhỏ mắt có kháng sinh hoặc thuốc có kết hợp kháng sinh với corticoid.
Việc dùng thuốc nhỏ có kháng sinh có công hiệu trong trị bệnh viêm loét ở mắt nhưng dùng không theo chỉ định cũng có thể gây nguy hiểm là quen thuốc, nhờn thuốc, khiến mắt lâu khỏi và khó khỏi hơn. 
Việc dùng lại các lọ thuốc của lần trị bệnh trước, hoặc dùng chung với người khác cũng có thể khiến mắt thêm nhiễm khuẩn. Nguyên nhân là lọ thuốc sau khi đã mở nắp có có không khí vào đem theo vi khuẩn, vi nấm gây nhiễm bẩn.
Những lưu ý khi dùng thuốc nhỏ mắt
Sau khi đã được chỉ định đúng loại thuốc, bạn cũng cần học cách "nhỏ":
- Không nhỏ 2 hoặc 3 loại thuốc cùng lúc: Hai loại thuốc phải nhỏ cách nhau tối thiểu 15 phút để tránh phản ứng thuốc với nhau và tránh lãng phí thuốc do bị trào ra ngoài.
- Một lọ thuốc sau khi đã mở nắp thì không dùng quá 15-20 ngày
- Không cất trữ lọ thuốc dùng dở dang sau khi đã khỏi bệnh.
- Khi sử dụng, tránh đụng chạm vào đầu lọ thuốc nhỏ mắt vì sẽ gây nhiễm bẩn lọ thuốc và lọ thuốc lúc này sẽ trở thành nguồn gây bệnh.



Thuốc chữa bệnh: Một thủ phạm gây suy giảm tình dục ở nam giới

Tác dụng không mong muốn của thuốc rất phong phú và đa dạng, trong đó suy giảm tình dục là một tác dụng không mong muốn thường gặp ở một số thuốc, được biểu hiện như giảm ham muốn, liệt dương… Vậy, đó là những thuốc nào?
Nhóm thuốc kháng histamin
Trong lâm sàng hiện đang dùng các thuốc kháng histamin H1 và kháng histamin H2.
Nhóm thuốc kháng hisamin H1, thế hệ 1 hiện được dùng rất phổ biến chống dị ứng, hoặc chống say tàu xe, gồm các thuốc có thể đi qua hàng rào máu não dễ dàng, có tác dụng an thần mạnh, chống nôn và kháng cholinergic. Chính do tác dụng kháng cholinergic nên thuốc có thể gây suy giảm tình dục (liệt dương).
Thuốc chữa bệnh: Một thủ phạm gây suy giảm tình dục ở nam giớiMột số thuốc chữa bệnh có thể gây giảm ham muốn tình dục
Nhóm thuốc kháng histamin H2, điển hình như cimetidin, có tác dụng ức chế cạnh tranh với histamin tại thụ thể H2 của tế bào thành dạ dày, làm giảm bài tiết và giảm nồng độ acid dạ dày cả ở điều kiện cơ bản (khi đói) và khi được kích thích bởi thức ăn… 
Vì vậy, thuốc được dùng trong các trường hợp: điều trị ngắn ngày (4 - 8 tuần) để làm liền loét tá tràng tiến triển và loét dạ dày lành tính tiến triển, bao gồm cả loét do stress và do thuốc chống viêm không steroid; Điều trị duy trì loét tá tràng với liều thấp sau khi ổ loét đã lành để giảm tái phát; Điều trị ngắn ngày (12 tuần) khi viêm loét thực quản ở người bị bệnh trào ngược dạ dày - thực quản... 
Tuy nhiên khi dùng liều cao, kéo dài thì một trong những tác dụng phụ của thuốc là gây chứng bất lực (làm giảm ham muốn tình dục, gây ức chế việc kích thích, cương cứng, làm khô các mô âm đạo...). 
Nguyên nhân do cimetidine có tác động đến hệ thống enzyme cytocrom P450 ở gan nên thuốc có tác dụng đối kháng với các thụ thể của androgen (hormon sinh dục nam) và tăng cường chuyển hoá testosteron thành estrogen. 
Điều này là lý do gây ra các trục trặc trong chuyện chăn gối ở những người phải dùng thuốc lâu ngày. Khi dùng cimetidine từ 1 tháng trở lên (thậm chí có trường hợp sớm hơn) có thể xuất hiện thiểu năng tình dục. Khi dùng các kháng histamin H2 khác như rannitidin, famotidin sẽ ít gặp tác dụng phụ này hơn so với khi dùng cimetidine.
Thuốc chống trầm cảm
Nhiều thuốc trong nhóm chống trầm cảm, như chống trầm cảm loại 3 vòng (imipramin) gây rối loạn nội tiết và tình dục. Các biểu hiện như thiểu lực, chậm khoái cảm cực độ… thường gặp khi dùng liều cao kéo dài. Amitriptyline gây giảm ham muốn tình dục, liệt dương, hoặc khó khăn trong việc đạt cực khoái.
Các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) như prozac, paxil, zoloft hoặc họ hàng với SSRI như effexor hay với tricyclics như elavil, sinequan... đều có tác dụng phụ làm giảm ham muốn, sao nhãng chuyện chăn gối và làm chậm quá trình khoái cảm.
Cách khắc phục: Nên giảm liều dùng hoặc chuyển sang dùng loại thuốc ít phản ứng phụ này hơn hay dùng thuốc tăng cường tình dục. Việc dùng thuốc khắc phục tình trạng này như thế nào cần do bác sĩ tư vấn, chỉ định.
Thuốc ức chế thần kinh
Các thuốc ức chế thần kinh như nhóm dẫn xuất phenothiazin (clorpromazin…) hoặc dẫn xuất benzodiazepin (diazepam), các tác dụng phụ thường gặp của thuốc như có thể gây rối loạn sinh dục, ức chế phóng noãn, vô kinh, chảy sữa, giảm ham muốn tình dục, sao nhãng và chậm quá trình khoái cảm. 
Để khắc phục, nếu có thể, nên thay thế bằng thuốc khác có tác dụng tương ứng nhưng ít ảnh hưởng đến chức năng tình dục hơn. Điều này cần có sự tư vấn của bác sỹ chuyên khoa cho từng trường hợp cụ thể.
Thuốc chữa tăng huyết áp
Hầu hết các nhóm thuốc dùng trong điều trị tăng huyết áp đều có thể gây bất lực ở các mức độ khác nhau do có tác dụng trực tiếp trên hệ thống mạch máu và làm giảm áp lực máu tại cơ quan sinh dục. Trong các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp, thì thuốc lợi niệu, thuốc ức chế beta-giao cảm có tác dụng làm giảm ham muốn tình dục rõ rệt, làm chậm quá trình khoái cảm. Cụ thể:
Các loại thuốc lợi niệu nhóm thiazide thường được chỉ định điều trị trong các bệnh tim mạch, tăng huyết áp. Thuốc lợi niệu nhóm thiazide ngoài tác dụng đào thải muối (Na+ và Cl) và nước ra khỏi cơ thể làm hạ huyết áp, thuốc còn gây hạ K+ máu. 
Đây là nguyên nhân làm cho “cậu nhỏ” không thể cương hoặc cương nhưng không cứng hoặc cương nửa chừng rồi lại mềm đi ngay. Suy giảm khả năng tình dục do các thuốc lợi niệu gặp ở khoảng 5% số người sử dụng. Các biểu hiện có thể gặp là rối loạn cương, rối loạn khả năng phóng tinh và giảm hưng phấn. Mặc dù tất cả các nhóm lợi niệu đều có thể gây ra các biểu hiện này nhưng thường gặp nhất là với nhóm thiazide.
Thuốc chẹn beta-giao cảm là những thuốc được dùng phổ biến trong chuyên khoa tim mạch do thuốc có tác dụng ức chế hoạt động giao cảm nên làm hạ huyết áp và giảm nhịp tim. 
Cũng do tác dụng ức chế giao cảm nên thuốc gây co thắt cơ trơn của vật hang dương vật, làm cho lượng máu đến dương vật giảm đi dẫn đến hiện tượng “cậu nhỏ” khó cương cứng hay không thể cương được. Nguy cơ này tăng tỷ lệ thuận với liều dùng của thuốc. Các thuốc metoprolol, nadolol, propranolol còn làm giảm ham muốn tình dục và rối loạn chức năng phóng tinh, riêng propranolol còn gây ra chứng cương dương buổi sáng.
Ngoài ra, một số thuốc tim mạch khác cũng gây rối loạn tình dục. Ví dụ digoxin gây rối loạn chức năng cương và hội chứng vú to ở khoảng 1/3 số nam giới dùng thuốc, cơ chế có thể do thuốc làm giảm nồng độ testosteron và tăng nồng độ estrogen. Disopyramidole - một loại thuốc chống loạn nhịp tim cũng được ghi nhận có thể gây rối loạn chức năng cương.
Có nhiều cách để hạn chế, như thay thế các thuốc phù hợp hơn, nhưng đều cần sự tư vấn của bác sỹ, vì điều trị ngắt quãng hay dừng thuốc có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho người đang dùng thuốc.
Rượu
Mặc dù nhiều người tin rằng rượu (bia) có thể làm tăng các hoạt động tình dục, nhưng nếu dùng rượu kéo dài thường dẫn đến tình trạng huỷ hoại khả năng tình dục. Sử dụng rượu nhìn chung đều có thể dẫn tới liệt dương ở nam giới. Tỉ lệ liệt dương có thể tới 50% trong số các bệnh nhân nghiện rượu mạn tính. 
Bên cạnh đó, nghiện rượu còn dẫn tới giảm khả năng sinh sản, do thay đổi chức năng vùng dưới đồi và do độc tố trực tiếp từ rượu đến tế bào sinh tinh. Nghiện rượu cũng ảnh hưởng đến ham muốn tình dục và khả năng sinh sản của nữ giới.
Một số thuốc khác
Ngoài các thuốc thường gặp trên, một số thuốc khác cũng ảnh hưởng đến khả năng tình dục như các thuốc chống động kinh, thuốc chống loạn thần, thuốc điều trị parkinson, các thuốc điều trị bệnh lý tiền liệt tuyến, và đặc biệt việc sử dụng không theo chỉ dẫn các thuốc điều trị rối loạn cương như viagra cũng gây ra tình trạng tương tự. 

Bên cạnh đó, methadone, chất dạng thuốc phiện hiện đang được dùng điều trị thay thế cho người nghiện heroin, khi dùng dài ngày, có thể dẫn đến giảm ham muốn và năng lực tình dục



Hiểm họa khi dùng thuốc hết hạn

Tiếc 1 thiệt 10
Đợt vừa rồi chị Nguyễn Quỳnh Hoa ở Quận 7, TPHCM bị nóng trong, mặt nổi rất nhiều mụn trứng cá. Thấy người bạn mách thuốc kháng sinh Tetracyclin uống vào trị trứng cá rất tốt. Trong nhà còn vỉ thuốc kháng sinh Tetracyclin để điều trị đau mắt hột mua cách đây hơn hai năm nhưng còn thừa hai vỉ. Của nhà sẵn có chị liền bỏ ra dùng cho đỡ phí.
Chị uống được 5 ngày, mỗi ngày hai viên trước bữa ăn theo lời hướng dẫn của bà bạn. Chị bắt đầu thấy người buồn nôn, tiêu chảy, da mẩn ngứa và khó thở. Ngay sau đó người nhà đưa chị đi bệnh viện kiểm tra. Sau khi cho chị Hoa thở ôxy và lọc thận bác sĩ cho biết chị bị sốc phản vệ do dùng thuốc không đúng cách và yêu cầu gia đình mang loại thuốc chị đã sử dụng đến kiểm tra.
Sau khi kiểm tra thuốc và hỏi về lý do dùng thuốc của chị Hoa, bác sĩ cho biết, do tự ý dùng thuốc điều trị lại là thuốc đã quá hạn sử dụng nên chị Hoa bị sốc thuốc. Vẫn còn may là gia đình đưa đến bệnh viện ngay khi có các triệu chứng sốc nếu để lâu sẽ rất nguy hiểm. Chị Hoa phải ở lại bệnh viện để bác sĩ theo dõi suốt 3 ngày mới được cho về nhà.
Trường hợp Bà Nguyễn Thị Quế ở phường Lĩnh Nam, Quận Hoàng Mai, Hà Nội cũng tương tự chị Hoa. Nhà có lọ thuốc Berberin đã mua từ lâu mà trong nhà chẳng bị bác tào đuổi nên lọ thuốc gần như còn nguyên. 
Hôm ấy bà thèm món bún đậu mắm tôm nên ra ngoài đầu ngõ ăn. Bình thường bà vẫn ăn ở hàng bùn ấy chẳng sao thế mà hôm ấy bà bị bác tào tháo hỏi thăm. Sau bữa trưa về nhà bà cứ cắm chốt trong nhà toilet. Ngại ra ngoài mua thuốc mà trong nhà lại sẵn có Berberin bà lấy ra uống liền một lúc 20 viên như chỉ định trên lọ.
Uống xong cũng thấy đỡ được chừng mười lăm phút, bà lại đau dữ dội và đi như thường cứ nghĩ thuốc mới uống chắc chưa kịp có tác dụng bà cố nhìn đến chiều nhưng tình trạng ấy vẫn không giảm. Đi ra ngoài nhiều người bà Quế phờ phạc, mệt lả người nhà liền đưa bà vào bệnh viện khám.
Đến bệnh viện bác sĩ hỏi bà quế có dùng thức ăn gì lạ không bà kể đầu đuôi câu chuyện bữa trưa với món bún đậu mắm tôm và đã uống thuốc Berberin những 20 viên mà không khỏi. Bác sĩ cho biết bà bị ngộ độc thức ăn và yêu cầu người nhà đem lo thuốc bà đã uống đến bệnh viện cho bác sĩ xem. Sau khi xem lọ thuốc bác sĩ lắc đầu bảo với bà bác uống thuốc hết hạn sử dụng hơn một năm thế này thì làm gì còn tác dụng nữa.
Chớ dùng hàng cũ
Nhiều gia đình trữ lọ thuốc bổ chứa vitamin, chất khoáng thuộc loại to chứa hàng mấy trăm viên, dùng một thời gian thì ngưng khi thuốc vẫn còn nhiều, sau đó dự định sẽ dùng lại để tẩm bổ khi cần thì đúng lúc hết hạn. Nhìn bề ngoài viên thuốc vẫn mới vỏ bóng lưỡng, màu sắc vẫn tươi rói, một số người cho rằng như vậy là thuốc vẫn có thể sử dụng dùng chắc chẳng sao, thế là tiếp tục dùng để không lãng phí.
Nhưng thực tế theo GS.TS Phạm Thanh Kỳ (Nguyên Hiệu trưởng, Trường ĐH Dược Hà Nội), thuốc hết hạn dùng sẽ không còn giữ được các tính chất cần thiết như đã đăng ký trong tiêu chuẩn chất lượng, mặc dù trông vẻ bề ngoài, đặc tính cảm quan của thuốc không có sự thay đổi, thuốc trông giống y như khi còn hạn dùng.
Nhiều người thấy thuốc bề ngoài còn tốt nghĩ rằng thuốc quá hạn dùng trong thời gian ngắn không sao nên cứ dùng để tránh lãng phí nhưng điều đó có thể gặp nguy hiểm. Thuốc quá hạn dùng không chỉ giảm hoặc mất tác dụng điều trị mà còn có thể gây độc. Việc thuốc biến đổi hay bị hỏng ra sao thì còn tùy vào từng loại thuốc cụ thể. Nhưng một điều chắc chắn là tuyệt đối không dùng thuốc đã hết hạn.
Thuốc men, giống như thực phẩm, nó có hạn sử dụng và điều quan trọng là phải hiểu những rủi ro liên quan đến khi tiêu thụ các thuốc đã hết hạn.Khi dùng thuốc hết hạn cũng giống như khi ta ăn thịt hoặc các sản phẩm bị hỏng. 
Thậm chí thuốc hết hạn có thể trở thành độc hại và gây ra ngộ độc trong một số trường hợp.Và việc giữ các loại thuốc đã hết hạn trogn tủ thuốc có thể làm cho người dùng có khả năng dùng thuốc sai khi nhãn mác không nguyên vẹn hoặc đã bị mờ.
Các loại thuốc có thời hạn sử dụng được bảo quản khi được cung cấp các điều kiện thích hợp về ánh sáng, nhiệt, nhiệt độ và độ ẩm. Sau khi thuốc hết hạn hiệu quả của thuốc có thể không như đã được ghi trên bao bì và nó có thể gây ra các tác dụng có hại nếu uống phải.
Thuốc chứa những hợp chất phức tạp và các thành phần này sẽ phá vỡ theo thời gian và làm cho chúng kém hiệu quả hoặc vô dụng. Không chỉ mất các tác dụng của nó khi thuốc hết hạn, mà khi không còn hạn dùng thuốc có khả năng sản xuất chất độc hoặc gây ra một phản ứng tiêu cực khi được sử dụng kết hợp với các thuốc khác.
Tương tác thuốclà một vấn đề sẽ xảy ra với các thuốc đã hết hạn. Vi khuẩn hoặc nấm mốc cũng có thể phát triển trong các loại thuốc hết hạn sử dụng gây tác hại nếu tiêu thụ chúng. Vì vậy cần phải loại bỏ thuốc quá hạn sử dụng kịp thời và đúng cách.
Thực tế là một số thuốc hết hạn có thể dẫn đến hậu quả chết người. Như viên nén Nitroglycerin, được sử dụng để ngăn những cơn đau thắt ngực và nhưng cơn đau tim nhưng nó bị phân hủy rất nhanh và không còn tác dụng khi đã hết hạn sử dụng.
Nếu sử dụng viên Nitroglycerin đã hết hạn hậu quả có thể gây chết người. Epinephrine là một loại thuốc có thể tự phun và được sử dụng khi bịong đốt hoặc cho những người bị dị ứng nặng.Nếu tiêm 1 liều thuốc Epinephrine đã hết hạn sẽ gây nguy hiểm cho người sử dụng và có thể dẫn đến tử vong.
Những người sử dụng các loại thuốc cho những bệnh đe dọa đến tính mạng và các thuốc điệu kiện như insulin cho bệnh đái tháo đường hoặc nitroglycerin cho các vấn đề về tim mạch thì việc dùng thuốc rất quan trọng vì thế tuyệt đối không được dùng thuốc đã hết hạn.
Khi dùng các loại thuốc đã hết hạn có nghĩa là đang mạo hiểm cuộc sống của người sử dụng. PGS.TS Nguyễn Hữu Đức (ĐH Y dược TPHCM cũng từng cho biết, khi dùng thuốc hãy chú ý xem hạn sử dụng của thuốc có còn không. Cũng có một số thuốc có đến 2 hạn dùng. Đó là các thuốc gọi là không phân liều, được dùng nhiều lần.
Điển hình là thuốc nhỏ mắt. Ngoài hạn dùng ghi trên bao bì, hộp, nhãn thuốc (hạn dùng chỉ kể khi thuốc chưa được mở) còn có hạn dùng nữa phải tính khi lọ thuốc nhỏ mắt được mở ra sử dụng. Khi mở nắp thuốc nhỏ mắt để sử dụng, hạn dùng ghi trên nhãn không còn ý nghĩa nữa, mà sau 15 ngày dùng thuốc, nếu thuốc còn thừa phải bỏ đi vì sau nhiều lần sử dụng, thuốc có nguy cơ bị nhiễm vi khuẩn, nấm mốc.
Thuốc nước tiêm hay uống dùng nhiều lần cũng thế, sau khi dùng cho một đợt điều trị có thể sau một ngày hay một tuần nếu còn thừa phải bỏ đi, không được căn cứ vào hạn dùng được ghi trên bao bì mà để dành dùng sau này là rất nguy hiểm.



 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons