Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Vắcxin là “vũ khí” để phòng ngừa một số ung thư

Có khoảng 1/5 số người mắc ung thư trên thế giới là do các tác nhân gây nhiễm như: virút, vi khuẩn và ký sinh trùng. Các vắcxin là “vũ khí” hữu hiệu để phòng ngừa một số ung thư. Xung quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.BS Nguyễn Chấn Hùng - Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam.
Thưa giáo sư, xin giáo sư cho biết tình trạng ung thư tại TPHCM?
Đã có sự gia tăng ung thư tại TPHCM trong giai đoạn 2008 - 2012. Thống kế cho thấy, trong giai đoạn này chỉ riêng dân số của TPHCM đã có 34.581 trường hợp ung thư mới được phát hiện. Ở nam giới, các ung thư đứng hàng đầu là phổi, gan đại - trực tràng, dạ dày và vòm hầu. Ở nữ giới, các ung thư đứng hàng đầu là vú, cổ tử cung, đại - trực tràng, phổi và tuyến giáp. 
Các ung thư hàng đầu ở cả nam và nữ đều tăng nhanh sau 40 tuổi. Đáng lưu ý, có 5.036 trường hợp mới mắc ung thư cổ tử cung qua khảo sát 5 tỉnh thành gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ và TPHCM. Ước tính tại Việt Nam số ca mắc ung thư cổ tử cung vào khoảng 5.700ca/năm.
Nhiễm trùng do một số virút, vi khuẩn là yếu tố nguy cơ của ung thư. Giáo sư có thể cho biết, mối liên quan giữa ung thư và bệnh nhiễm?
Ung thư đầu tiên liên hệ với bệnh nhiễm được phát hiện ở châu Phi nhờ các công trình của Denis Burkitt vào năm 1958 về một loại lymphô đặc biệt thấy ở các trẻ em. Tám năm sau, Epstein và Barr tìm thấy virút trong các tế bào của lymphôm Burkitt. Virút này mang tên Virút Epstein Barr hay EBV.
GS.BS. Nguyễn Chấn Hùng thăm hỏi bệnh nhân
GS.BS Nguyễn Chấn Hùng thăm hỏi bệnh nhân
Nhiễm trùng do một số virút, vi khuẩn và ký sinh trùng được xác nhận là một yếu tố nguy cơ của một số ung thư trên toàn cầu. Có khoảng 1 trên 6 ung thư của con người (16%) là do bệnh nhiễm.
Ung thư cổ tử cung, liên hệ với virút HPV, chiếm 50% các ung thư liên quan bệnh nhiễm ở phụ nữ. Vi khuẩn Helicobacter pylori gây ung thư dạ dày. Các virút viêm gan B (HBV - Hepatitis B virus) và C (HCV - Hepatitis C virus) gây ung thư tế bào gan. 
Ở nam giới, các ung thư gan và dạ dày chiếm 80% các ung thư do bệnh nhiễm. Ngoài ra, các ung thư khác được biết liên hệ bệnh nhiễm gồm một số bệnh bạch cầu và lymphô; ung thư hậu môn, dương vật, âm đạo, âm hộ; lưỡi và họng.
Giáo sư có thể nói rõ hơn cơ chế sinh ung do các tác nhân lây nhiễm?
Các vi sinh vật có thể gây ung thư bằng nhiều cơ chế mà chúng ta chưa hiểu hết. HPV cắt đứt chu kỳ tế bào, khóa tay các protein đè nén bướu như p53 và Rb, giúp sự xáo trộn gen tích lũy để ung thư hình thành. 
H.pylori thì gây ra tình trạng viêm mạn tính, rồi dẫn đến viêm dạ dày mạn tính dạng teo, lâu dần tăng nguy cơ ung thư dạ dày. Đối với HBV và HCV, có vẻ như sự lây nhiễm tự nó tác động ít hơn là sự đáp ứng miễn dịch chống lại nó.
Theo thời gian, tổn thương mô gan sẽ dẫn tới xơ gan, yếu tố nguy cơ của ung thư gan. Nhiều bệnh nhiễm gây ra ung thư, nhưng vì sao chỉ có ở một số người bị nhiễm thì ung thư trổ ra. Phải chăng các gen và các yếu tố khác có thúc đẩy hoặc bảo vệ chống bệnh ung thư ở các cá thể. Còn nhiều điều chúng ta phải học hỏi.
Là chuyên gia hàng đầu, xin giáo sư cho biết làm sao để ngừa các bệnh nhiễm, tránh một số ung thư?
Nhìn chung, phần lớn các ung thư này có thể phòng tránh được nhờ các biện pháp phòng ngừa và/hoặc nhờ các cách điều trị phòng ngừa và điều trị khỏi bệnh nhiễm. 
Tiêm chủng HBV, HPV. Phát hiện sớm các bệnh nhiễm để hạn chế sự lây lan hoặc điều trị bệnh: HBV, HCV, HIV và H.pylori. Điều trị các bệnh lây nhiễm. Phát hiện và điều trị các dạng tiền ung thư: xét nghiệp Pap. Bệnh nhiễm và ung thư cung cấp kiểu mẫu về cơ chế sinh ung, chẩn đoán, điều trị, tầm soát và phòng tránh. 
Xin mượn lời của TS Catherine de Martel thuộc Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu Ung thư (IARC): “Các bệnh nhiễm do vài loại virút, vi khuẩn và ký sinh trùng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất và có thể phòng ngừa hiệu quả nhất của gánh nặng ung thư toàn cầu… 
Áp dụng các biện pháp y tế cộng đồng hiện có để phòng tránh bệnh nhiễm, tiêm chủng với vắcxin hoặc điều trị kháng chẳng hạn, có thể đem lại hiệu quả vững chắc trong tương lai”. Các bệnh nhiễm phải được quan tâm đúng mức trong chiến lược phòng chống ung thư.

Xin cảm ơn giáo sư về cuộc trao đổi ý nghĩa này!



Vitamin và khoáng chất giúp móng khỏe



Nhiều người thấy móng của mình tự nhiên yếu, dễ gãy, giòn, có nhiều đốm trắng xuất hiện trên bề mặt móng... Tất cả những dấu hiệu này báo hiệu cơ thể bạn đang bị thiếu những vitamin và khoáng chất sau.
Vitamin A: Khi trên móng xuất hiện nhiều đốm trắng, đó là dấu hiệu cơ thể thiếu vitamin A và kẽm. Nhu cầu hàng ngày của vitamin A từ 1 - 2mg.
Vitamin B5: Móng mờ đục và không thẳng đều thường là do không đủ vitamin nhóm B và selen. Nhu cầu hàng ngày vitamin này từ 2 - 5mg.
Vitamin C: Giúp phòng ngừa các bệnh nấm móng. Nhu cầu hàng ngày từ 70 - 150mg.
Vitamin E: Đây là vitamin rất cần thiết cho móng, thiếu vitamin này móng sẽ có vấn đề. Nhu cầu hàng ngày từ 30 - 60mg.
Vitamin PP: Nếu cơ thể đủ vitamin PP thì móng sẽ không bị vàng. Nhu cầu hàng ngày 20 - 50mg.
Sắt: Nếu cơ thể đủ sắt móng sẽ không mềm. Nhu cầu hàng ngày 100 - 200mg.
Canxi: Nguyên tố quan trọng đối với xương, răng và móng. Nhờ đủ canxi đem lại sự cứng rắn, bền bỉ cho các bộ phận này. Sự dung nạp canxi sẽ bị cản trở bởi muối. Hơn nữa, muối sẽ đào thải canxi ra khỏi cơ thể. Vì vậy cần loại bỏ thức mặn ra khỏi thực đơn cũng như các món cay, rán. Nhu cầu hàng ngày 800 - 1.200mg.
Kẽm: Quyết định tốc độ phát triển của móng cũng như điều hòa sự tạo thành protid trong cơ thể.
Silic: Nếu không đủ khoáng chất này móng sẽ mất đi độ dẻo dai. Nhu cầu hàng ngày 20 - 30mg.
Selen: Không đủ selen sẽ dẫn đến những thay đổi nghiêm trọng ở móng, độ mềm mại, thậm chí móng còn bị biến dạng. Nhu cầu hàng ngày 0,02 - 0,15mg.
Lưu huỳnh: Không đủ khoáng chất này làm cho móng bị biến dạng. Nhu cầu hàng ngày 500 - 3.000mg.
Flo: Là khoáng chất rất cần cho răng, xương, tóc và tất nhiên cả móng. Nhờ có flo mà chúng trở nên cứng rắn. Nhu cầu hàng ngày 2 - 3mcg.
Acid béo không no: Không có chúng các vitamin A, E cũng như canxi và vitamin D không hòa tan được để hấp thu vào cơ thể. Nhu cầu hàng ngày 1.000 - 2.500mg.
Để giúp cơ thể có đầy đủ các vitamin giúp móng chắc đẹp cũng như phòng ngừa các bệnh về móng, bạn cần thực hiện chế độ ăn đủ 4 nhóm chất: đạm (thịt, cá, trứng, sữa...); đường (gạo, ngô, khoai, sắn, đậu...); béo: chất béo trong cá và hải sản, dầu thực vật dùng để xào, rán; vitamin và khoáng chất: có nhiều trong rau, củ quả.



Thuốc bổ Glucosamine - Tốt xương hại ruột

Ngỡ là thuốc bổ, dùng càng nhiều càng tốt nên nhiều người chưa thấy giảm cơn đau xương thì đã bị Glucosamine dẫn vào bệnh viện.


Glucosamine
Ngất xỉu vì thuốc bổ
Cách đây một năm, chị Lê Nguyệt Ánh, 35 tuổi ở đường Điện Biên Phủ, Quận 10, TPHCM bị tai nạn xe máy, gãy xương và chụp hình X quang thì thấy bị nứt sụn ở vùng khớp gối phải nằm điều trị 3 tháng liền. 
Bây giờ, thỉnh thoảng khi thời tiết thay đổi, chị vẫn bị đau lại. Bạn bè mách có loại thuốc bổ làm từ vỏ cua và vỏ tôm hùm giúp bổ sung canxi, vitamin đặc biệt có Glucosamine giúp xương khớp chắc khỏe hơn, bảo vệ sụn nên chị hào hứng tìm mua.
Cô bán hàng tươi cười tư vấn "Chị uống đi, sẽ không đau nữa đâu" rồi đưa ra một loạt thuốc chứa cùng biệt dược này. Nhấc lên, đặt xuống, đắn đo một lúc lâu rồi chị đã chọn loại 560.000đ/hộp 250 viên 2 hộp Glucosamine. Uống được hai tháng, chị thấy hiệu quả nên tiếp tục mua thêm với hy vọng "chấm dứt cơn đau hoàn toàn" và đề phòng đau khớp khi lớn tuổi hơn.
Nhưng không lâu sau khi dùng thuốc, chị Ánh thấy mình thường xuyên phải đại tiện, có ngày đi hơn 5 lần, mất sức, hay đầy bụng, trướng bụng, chóng mặt. 
Đến khi chị choáng váng, té ngã ở nhà vệ sinh, gia đình vội vàng đưa chị nhập viện thì mới biết nguyên nhân là từ thuốc bổ chứa Glucosamine. Do chị Ánh đã sử dụng quá nhiều loại thuốc này gây ra sự kích thích quá mức tới hệ thống tiêu hóa và thành dạ dày làm tiêu chảy lâu dẫn tới rối loạn thần kinh.
Không phải cứ nhiều là tốt
Dược sĩ Lê Thị Thanh, Công ty dược IMS Việt Nam, cho biết "Các trường hợp phải vào viện điều trị vì dùng quá liều các loại vitamin, thuốc bổ như trên không phải là hiếm. 
Rất nhiều người lạm dụng vitamin, thuốc bổ với mong muốn sẽ có một sức khoẻ tốt hơn, thông minh hơn, mà không hề biết cơ thể mình thừa hay thiếu chất đó, dẫn tới tình trạng quá tải cho hệ thống tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa, căng thẳng thần kinh, suy nhược cơ thể.
Thuốc Glucosamine là một hợp chất cấu tạo từ glucose và amino axit glutamine có tác dụng hình thành và sửa chữa sụn. Trong các loại thuốc bổ chứa Glucosamine cũng thường có thêm nhiều vitamin, omega-3 bổ sung calci nên giành bồi bổ cho người mắc bệnh về xương khớp. 
Tuy nhiên tác dụng phụ của Glucosamine là gây tiêu chảy, đổi màu phân hoặc kích thích dạ dày. Do Glucosamine được sản xuất từ vỏ tôm hùm, cua biển nên những người dễ bị dị ứng hải sản cần cẩn thận khi dùng.
Ngoài ra, Glucosamine là hợp chất của đường glucose nên chúng có thể hạn chế khả năng điều trị ở những bệnh nhân tiểu đường vì chúng gây ra nguy cơ tăng đường huyết. Đặc biệt phụ nữ có thai và trẻ em dưới 18 tuổi được nhà sản xuất khuyến cáo là không nên dùng bổ sung Glucosamine.



Những thực phẩm không nên ăn khi uống viên sắt


Ăn nhiều rau quả
Rau quả với hàm lượng lớn vitamin, chất xơ và chất khoáng rất cần thiết cho cơ thể; có tác dụng phòng chống táo bón, các bệnh nhiễm trùng và ung thư. Nhưng ăn nhiều ra quả khi bạn đang uống viên sắt lại mang lại tác dụng ngược.
Ăn nhiều rau quả, hàm lượng chất xơ đưa vào cơ thể lớn sẽ làm giảm hấp thu sắt trong ruột. Lý do là vì sắt bị chất xơ gắn kết tạo thành một phức hợp phân tử lớn, không tan và không thể hấp thu. Càng nhiều chất xơ càng thì càng làm giảm hấp thu sắt.
Vì vậy, lời khuyên cho những người bệnh thiếu máu đang phải uống sắt là hãy giảm rau trong chế độ ăn, nhất là các loại rau nhiều xơ như rau muống, rau cải, rau bắp cải. Hoặc chọn giải pháp uống viên sắt sau khi ăn 4 tiếng đồng hồ. Khi đó chất xơ đã đi khỏi dạ dày và đoạn ruột non.
Ăn đồ cay nóng
Đồ cay nóng sẽ làm tăng tác dụng phụ của viên sắt. Các gia vị cay nóng thường làm tăng hấp thu nước, làm tăng hoạt động của dạ dày, ruột nên chúng ta thường có cảm giác nóng nực và táo bón. Cũng chính vì thế mà bệnh nhân táo bón khi dùng gừng, hạt tiêu sẽ khiến bệnh nặng hơn.
Để hạn chế tình trạng táo bón mà vẫn không làm giảm tác dụng của viên sắt, bạn nên uống nhiều nước, ăn nhiều chuối.
Ăn ngô khi uống viên sắt
Ngô là loại thực phẩm chứa nhiều chất xơ, mà như đã nói ở trên, chất xơ làm giảm hấp thụ sắt. Thế nên nếu dùng chung ngô với viên sắt thì có thể làm giảm số lượng sắt được hấp thu sau khi uống.
Mặt khác, ngô có thể làm giảm độ axit trong dạ dày. Mà nồng độ axit trong dạ dày giảm thì khả năng hấp thu viên sắt cũng giảm. Bởi thế trong thời gian đang uống viên sắt, tốt nhất bạn nên kiêng ăn ngô (dù là ngô luộc hay rang).
Kết hợp cùng thuốc giảm mỡ
Tưởng như chẳng liên quan, nhưng thuốc giảm mỡ có thể tương tác với viên sắt bổ sung làm giảm khả năng hấp thu sắt. Hai loại thuốc giảm cholesterol là cholestyramine và colestipol là hai trong số đó. Nếu sử dụng những thuốc này chung với viên sắt thì chúng có thể làm giảm hấp thu sắt từ 10-15%.
Uống càng nhiều càng tốt
Bạn hoàn toàn có thể bị nhiễm độc sắt nếu dùng quá liều. Với các triệu chứng điển hình như đau bụng, buồn nôn và nôn xuất hiện rất nhanh, chỉ sau khoảng 1-2 giờ sau khi uống. Tiếp theo là nhức đầu, nặng đầu, ý thức giảm và có thể co giật dẫn đến hôn mê, thậm chí đã có những trường hợp tử vong do ngộ độc sắt.
Vì thế mà đừng bao giờ uống vượt quá liều quy định, khoảng 1-2mg/kg/ngày.
Với liều dùng 10mg/kg/ngày các triệu chứng nhiễm độc sẽ xuất hiện; với liều cao đến 20mg/kg/ngày, người dùng phải nhập viện điều trị.



Bệnh vì… thuốc!

Uống thuốc càng nhiều, dùng thuốc càng thường thì hệ thống phòng vệ càng phải huy động tập trung lực lượng dù chỉ là báo động giả!

Hậu quả là nhiều bệnh khác thừa nước đục thả câu khi sức đề kháng là ngọn đèn trước gió.
Tình trạng lạm dụng thuốc có là mối nguy của sức khỏe cộng đồng ở nước mình hay không? Người bệnh không cần trả lời câu hỏi này vì không thể và cũng không có bổn phận phải trả lời. Người có trách nhiệm giải đáp cho thỏa đáng là ngành y. Nhưng người bệnh có quyền đòi hỏi nhận được câu trả lời chính xác và cụ thể từ những người tự nhận là trong cuộc. Mọi luận cứ khác chỉ là ngụy biện.
Tác dụng khác xa tương tác
Ở nước Đức, vì dùng quá nhiều dược phẩm từ nhiều hãng sản xuất khác nhau nên thầy thuốc cho dù có muốn cũng không thể nào kiểm soát phản ứng tương tác bất ngờ giữa các loại thuốc. Một mặt, các hãng thuốc có muốn cũng không thể thực hiện mô hình xét nghiệm để kiểm định khả năng tương tác của sản phẩm ruột với mấy chục ngàn dược phẩm khác! 
Ở xứ mình còn nhiêu khê hơn nữa vì thầy thuốc cho dù có hết lòng với người bệnh cũng khó lòng trở tay cho kịp nếu người bệnh bên cạnh toa thuốc của bác sĩ này lại dằn túi vài toa của bác sĩ chuyên khoa khác! 
Đó là chưa kể đến trường hợp thầy thuốc làm đúng hết, kiểm soát toa thuốc trước sau đàng hoàng nhưng không ngờ bệnh nhân uống thêm vài thứ thuốc tự mua sau khi xem quảng cáo vô tội vạ trên truyền hình, trên báo chí! 
Nếu ở Đức, hầu như ngày nào cũng có thêm vài loại thuốc mới thì vận tốc chào hàng thực phẩm chức năng bên mình đã qua mặt từ lâu! Ai cấm nổi bệnh nhân cố tìm đâu đó một chút hy vọng? 
Nước Đức đã có lần xôn xao vì chuyện một bệnh nhân mất mạng sau khi nhỏ mắt theo đúng toa thuốc của một bác sĩ nhãn khoa, chẳng qua vì trong thuốc nhỏ có hoạt chất ảnh hưởng trên huyết áp thuộc nhóm “chẹn beta”, trong khi bệnh nhân đang uống thuốc hạ huyết áp, cũng “chẹn beta” theo y lệnh của bác sĩ tim mạch! Hậu quả là hai lần “chẹn beta” dẫn đến chẹn gì đó mà tim ngừng đập!
Thầy thuốc cho dù có hết lòng với người bệnh cũng khó lòng trở tay cho kịp nếu người bệnh bên cạnh toa thuốc của bác sĩ này lại dằn túi vài toa của bác sĩ chuyên khoa khác.
Hao thuốc hao tài!
Không kể đến kinh phí hơn 500 triệu euro phải mất hằng năm vì chi phí điều trị nội trú, cũng không kể đến gánh nặng điều trị ngoại trú triền miên cho số bệnh nhân mất tiền vì thuốc rồi mang tật, đứng trước thực tế là số bệnh nhân tử vong hằng năm ở Đức vì phản ứng tương tác bất lợi giữa dược phẩm cao gấp đôi số nạn nhân mất mạng vì tai nạn giao thông, liên đoàn dược phòng ở Đức đã mạnh dạn vận động mọi người tìm cách giới hạn mức độ nguy hại của việc lạm dụng thuốc bằng một số biện pháp cụ thể như:
- Nhờ bác sĩ gia đình kiểm soát phác đồ điều trị chuyên khoa.
- Chú trọng chức năng tư vấn của nhà thuốc, đồng thời với giải pháp thống kê vi tính tất cả dữ liệu có liên quan đến thói quen dùng thuốc của mỗi bệnh nhân.
- Tăng cường chương trình thông tin giáo dục y tế trên phương tiện truyền thông đại chúng.
- Giới hạn việc lạm dụng liệu pháp đặc hiệu thông qua biện pháp hội chẩn bắt buộc của các thầy thuốc chuyên khoa.
Trông người mà ngẫm đến ta
Đó là chuyện của xứ người. Trở lại với quê nhà. Nước Đức là một quốc gia đã có cấu trúc của ngành y tế đi vào ổn định. Điều đó không có nghĩa là mặt trăng ở Đức tròn hơn mặt trăng bên mình. Điều đó cũng không có nghĩa là biện pháp áp dụng ở nước người không phù hợp với bối cảnh ở xứ mình. Điều đó càng không có nghĩa là vấn đề ở xứ khác không ăn nhằm gì hết với nước ta. Thử hỏi hiện nay:
- Có bao nhiêu người bệnh bên mình tự động mua thuốc mà không cần ý kiến của thầy thuốc?
- Có bao nhiêu người bệnh bên ta đang được điều trị bởi nhiều thầy thuốc chuyên khoa không hề hội ý với nhau?
- Có bao nhiêu người bệnh chưa bao giờ được tư vấn về tác dụng phụ ở nhà thuốc, hay đó chỉ là nơi thuận mua vừa bán?
Già néo sớm đứt dây
Nếu thuốc vào rồi lại ra sau khi để lại tác dụng giúp người uống thuốc hết bệnh thì mọi chuyện êm đẹp như đoạn cuối câu chuyện thần tiên. Kẹt là thuốc nào cũng thế, nội địa hay ngoại nhập cũng vậy, hóa chất tổng hợp hay hoạt chất thiên nhiên cũng thế, đều là chất lạ với cơ thể. Hệ miễn nhiễm do đó phải thủ thế tập trận mỗi lần gia chủ uống thuốc.
Bên cạnh đó, tất cả phế phẩm từ tiến trình biến dưỡng thuốc đều ít nhiều là độc chất đối với cơ thể. Các loại dược phẩm kháng viêm có corticoid, thuốc chống cảm giác đói, thuốc chứa nội tiết tố, thuốc hạ áp thuộc nhóm chẹn beta, thuốc lợi tiểu, thuốc dãn phế quản… là lý do hàng đầu khiến người bệnh mãn tính đồng thời là nạn nhân của thuốc.




Thuốc điều trị xuất tinh ra máu

Xuất tinh ra máu là tình trạng có máu lẫn trong tinh dịch khi xuất tinh, đái máu sau khi xuất tinh. Đây là bệnh ở nam giới và cần được điều trị dứt điểm để không ảnh hưởng tới đời sống tình dục và khả năng sinh sản.
Phần lớn các trường hợp xuất tinh ra máu là lành tính (trừ trường hợp do nguyên nhân ung thư). Nếu được tư vấn và điều trị đúng, bệnh có thể khỏi hoàn toàn và không ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như không gây tâm lý hoang mang sau mỗi lần giao hợp.
Ngoài triệu chứng nhìn thấy máu trong tinh dịch, khi bị xuất tinh ra máu thì bệnh nhân có thể gặp phải một số triệu chứng như: tiểu buốt, đau khi đi tiểu, có lẫn máu trong nước tiểu, đau khi xuất tinh, sưng hoặc đau đớn khu vực trên cơ quan sinh dục, sốt nhẹ, đau lưng dưới, đau bụng dưới, đau, sưng ở vùng tinh hoàn, bìu, đau, sưng ở vùng bẹn.
Thuốc điều trị xuất tinh ra máu
Ung thư tuyến tiền liệt dễ gây xuất tinh ra máu
Xuất tinh ra máu, vì sao?
Nguyên nhân hay gặp gây xuất tinh ra máu là do lao túi tinh. Hiện nay, vấn đề lao đường sinh dục vẫn chưa được quan tâm đúng mức do đó nhiều trường hợp bệnh nhân bị xuất tinh ra máu đã không được điều trị ở những cơ sở chuyên khoa thích hợp.
Các loại ung thư thường gặp như: ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường dẫn tinh, ung thư tinh hoàn, u lympho... dễ gây xuất tinh ra máu.
Viêm nhiễm là một trong các nguyên nhân thường gặp nhất gây xuất tinh ra máu như: viêm túi tinh, viêm đường dẫn tinh, viêm tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn - tinh hoàn... 
Trong đó, các viêm nhiễm ở túi tinh được coi là nguyên nhân hàng đầu của xuất tinh ra máu chiếm khoảng 40% các trường hợp. Các nguyên nhân gây viêm thường là nhiễm khuẩn, chấn thương, canxi hóa tuyến tiền liệt. Vi khuẩn gây viêm thường gặp là Enterrobacteria, Chlamydia, một số vi khuẩn gram dương, trực khuẩn lao và một số loại virut.
Ngoài ra, xuất tinh ra máu còn có thể do sỏi túi tinh, giãn tĩnh mạch thừng tinh, thói quen sinh hoạt tình dục (kìm hãm xuất tinh), bệnh ưa chảy máu, xơ gan, viêm gan...
Điều trị xuất tinh ra máu
Lựa chọn thuốc điều trị xuất tinh ra máu cần căn cứ vào 3 nguyên nhân chủ yếu: do ung thư tuyến tiền liệt, do lao túi tinh, do nhiễm khuẩn. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh thầy thuốc sẽ lựa chọn thuốc điều trị phù hợp.
Xuất tinh ra máu do ung thư tuyến tiền liệt: điều trị đặc hiệu theo phác đồ điều trị ung thư tuyến tiền liệt theo từng giai đoạn.
Xuất tinh ra máu do lao túi tinh: thời gian dùng thuốc điều trị tối thiểu 9 tháng và phải điều trị liên tục không được tự ý ngưng thuốc kể cả khi đã thấy hết xuất tinh ra máu. Thuốc điều trị chủ yếu là thuốc kháng lao như izoniazid (INH), rifampicin, ethambutol, pyrazinamid. 
Ngoài ra, có thể dùng thuốc chống viêm steroid (prenisolon), thuốc hỗ trợ gan khi dùng thuốc kháng lao kéo dài (nhằm làm giảm các tác dụng không mong muốn của thuốc kháng lao) như các thuốc có chứa hoạt chất biphenyl dimethyl dicarboxylate hoặc xuất xứ từ thảo dược).
Xuất tinh ra máu do nhiễm khuẩn: Trường hợp xuất tinh ra máu có viêm do nhiễm khuẩn thì điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ là lý tưởng nhất. Nếu không có kháng sinh đồ thì nên chọn kháng sinh có phổ tác dụng đối với Enterobacteria, đặc biệt ở người trẻ, thuốc phải có tác dụng với cả Chlamydia. 
Hiện nay, có thể dùng các loại kháng sinh như: nhóm quinolon (levofloxacin, norfloxacin, ciprofloxacin...), nhóm cephalosporin thế hệ 2, 3 (cefuroxim, cefoxitin, cefixim, ceftriaxone, cefotaxime…). 
Ngoài ra có thể thay thế bằng kháng sinh metronidazone, trimethoprim, kết hợp cùng nhóm doxycyclin để điều trị nhiễm Chlamydia kết hợp. Tùy tình trạng bệnh lý mà thời gian dùng thuốc sẽ được bác sĩ chỉ định cho phù hợp nhằm giải quyết triệt để tình trạng viêm nhiễm. 
Ngoài việc dùng kháng sinh, bệnh nhân cần được dùng phối hợp các thuốc chống viêm, giảm phù nề (alpha chymotrypsin…) điều trị trong 2 - 3 tuần và thuốc cầm máu transamin, dùng đường uống hoặc tiêm trong 5 - 10 ngày đầu điều trị. 
Bên cạnh đó có thể dùng thuốc tăng sức bền thành mạch, đó là nhóm thuốc có tác dụng trên tuần hoàn tĩnh mạch như diosmin - hesperidin phối hợp với rutin C cũng có hiệu quả trong điều trị.
Xuất tinh ra máu do nguyên nhân tắc túi tinh, sỏi túi tinh, giãn tĩnh mạch niệu đạo, ung thư... cần can thiệp ngoại khoa.
Lời khuyên dành cho người bệnh
Trong thời gian điều trị, bệnh nhân không được quan hệ tình dục hoặc tự ý xuất tinh ra để kiểm tra, điều đó sẽ làm nặng thêm tình trạng tổn thương mạch máu và khiến bệnh dai dẳng hơn. 

Nên từ bỏ thói quen kìm hãm xuất tinh hay uống bia rượu nhiều trước quan hệ tình dục không chỉ gây ra tình trạng xuất tinh ra máu mà còn là nguyên nhân của một số rối loạn tình dục như xuất tinh muộn, xuất tinh ngược dòng, giao hợp không xuất tinh, giảm ham muốn tình dục,...



Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Hội chứng ruột kích thích và thuốc trị

Hội chứng ruột kích thích hay còn gọi là hội chứng đại tràng kích thích. Bệnh tuy không ảnh hưởng tới tính mạng nhưng nó làm ảnh hưởng nhiều tới sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. 
Phần lớn trường hợp mắc hội chứng ruột kích thích không điều trị khỏi hoàn toàn bởi chưa có một thuốc đơn độc nào có hiệu quả với bệnh này. Hiện nay chỉ điều trị theo triệu chứng nổi trội nhằm giúp bệnh nhân dễ chịu hơn mà thôi.
Dấu hiệu nhận biết
Các dấu hiệu của bệnh không giống nhau ở mỗi bệnh nhân và có thể thay đổi theo thời gian. Mỗi triệu chứng có thể gặp riêng lẻ trong các triệu chứng rối loạn chức năng ruột khác. Có thể gặp các triệu chứng như đau bụng, nặng bụng như có khối đá đè trong bụng. 
Triệu chứng này sẽ giảm khi bệnh nhân trung tiện, đại tiện được và đau tăng khi mắc táo bón; Trướng bụng là triệu chứng thường gặp nhất và tăng dần lên trong ngày. 
Các rối loạn nhu động ruột biểu hiện bằng số lần đi cầu, thay đổi mật độ và hình dạng của phân như tiêu chảy hoặc táo bón. Hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy ít gặp hơn thể táo bón.
Hội chứng ruột kích thích và thuốc trịĐau bụng là một triệu chứng của hội chứng ruột kích thích
Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể có các dấu hiệu như nóng ở thượng vị, buồn nôn, thậm chí có thể gặp các trạng thái về tâm lý như suy sụp, lo lắng...
Thuốc nào giúp bệnh nhân dễ chịu?
Trước hết, khi bị hội chứng ruột kích thích, bệnh nhân cần cải thiện chế độ sinh hoạt như: tạo thói quen đi đại tiện đúng giờ trong ngày, thay đổi chế độ ăn uống hợp lý. Nếu các biện pháp trên không cải thiện thì phải điều trị bằng thuốc. Tùy vào triệu chứng nổi trội của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc phù hợp.
Với bệnh nhân bị tiêu chảy thì dùng thuốc chống tiêu chảy loperamid. Đây là một opioid, không qua hàng rào máu não, làm giảm nhu động ruột hoặc diphenoxylate, viên thuốc có chứa diphenoxylate và atropine, điều trị tăng vận động ruột. Thuốc có thể giúp kiểm soát triệu chứng tiêu chảy. Bệnh nhân bị táo bón có thể dùng thuốc forlax hoặc cisapride.
Hội chứng ruột kích thích và thuốc trị​Để giảm các triệu chứng của hội chứng ruột kích thích, cần thực hiện tốt vệ sinh ăn uống. Ảnh: T. M
Ở bệnh nhân mắc hội chứng ruột kích thích, nếu đau là triệu chứng nổi trội thì có thể dùng các thuốc chống co thắt, kháng cholin, các thuốc chống trầm cảm, an thần, các thuốc ức chế kênh canxi, các thuốc điều chỉnh ngưỡng đau. 
Nếu đau sau ăn có thể uống các thuốc dicyclomine, dicycloverine; chống co thắt uống spasmaverine; thuốc kháng cholinergic; pinaverium, thuốc đối kháng Ca ở dạ dày - ruột trimebutine, nospa.
Một số bệnh nhân cần dùng thuốc có ảnh hưởng đến một số hoạt động của hệ thần kinh thực vật để làm giảm co thắt ruột gây đau đớn. Thuốc kháng acetylcholin có thể là hữu ích cho những người có những cơn tiêu chảy, nhưng có thể làm trầm trọng thêm táo bón.
Khi bệnh nhân gặp các triệu chứng bao gồm đau hoặc trầm cảm, bác sĩ có thể cho dùng thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc tái hấp thu serotonin chọn lọc chất ức chế (SSRI). Những thuốc này giúp giảm trầm cảm cũng như ức chế hoạt động của tế bào thần kinh điều khiển ruột. 
Nếu bị tiêu chảy và đau bụng mà không trầm cảm, bác sĩ có thể cho liều thấp hơn so với bình thường thuốc chống trầm cảm ba vòng, chẳng hạn như imipramine và amitriptylin. Tác dụng phụ của các thuốc này bao gồm buồn ngủ và táo bón. Nếu bệnh nhân bị đau và táo bón khiến mệt mỏi và chán nản, có thể dùng thuốc fluoxetine hoặc paroxetin.
Để giảm các triệu chứng, bệnh nhân cần thực hiện chế độ vệ sinh ăn uống. Cần tránh thức ăn làm bệnh tăng như: cà phê, bia, chất xơ, các chế phẩm từ sữa, ăn uống thái quá, nhiều chất béo, tránh sinh hoạt làm việc căng thẳng.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons