Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Thuốc mới điều trị viêm gan C

Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã cho phép thuốc viekira pak để điều trị bệnh nhân viêm gan virus C (HCV) mạn tính (bao gồm cả xơ gan).


Bệnh viêm gan virus C (HCV) có thể dẫn đến giảm chức năng gan, suy gan hoặc ung thư gan. Hầu hết những người bị nhiễm viêm gan C không có triệu chứng của bệnh cho đến khi tổn thương gan trở nên rõ ràng, có thể mất hàng thập kỷ. 
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ, khoảng 3,2 triệu người Mỹ bị nhiễm HCV, và không có điều trị thích hợp, 15-30 % những người này sẽ tiếp tục phát triển xơ gan.
Mới đây, cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã cho phép thuốc viekira pak để điều trị bệnh nhân viêm gan virus C (HCV) mạn tính (bao gồm cả xơ gan). 
Đây là sản phẩm thuốc thứ tư của FDA phê duyệt trong thời gian gần đây để điều trị bệnh viêm gan C mãn tính gồm: Olysio (simeprevir) được phê duyệt trong tháng 11/2013, sovaldi (sofosbuvir) trong tháng 12/2013, harvoni (ledipasvir và sofosbuvir) trong tháng 10/2014 và viekira pak tháng 12/2014.
Viekira Pak có chứa ba loại thuốc (ombitasvir, paritaprevir và dasabuvir) để ức chế sự phát triển của HCV. Các tác dụng phụ thường gặp nhất được báo cáo ở những người tham gia thử nghiệm lâm sàng là cảm giác mệt mỏi, ngứa, buồn nôn và khó ngủ…


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Cảnh báo những loại thực phẩm và thuốc kỵ nhau

Thực phẩm có thể làm cho tác dụng của thuốc kém hiệu quả hoặc mạnh hơn. Dưới đây là một số cảnh báo nên tránh kết hợp:

Sữa và các thuốc chữa bệnh tuyến giáp

Bạn nên tránh uống sữa trong thời gian của thuốc tuyến giáp. Nếu mặc bệnh suy giáp, bạn có thể uống một loại thuốc theo quy định để cung cấp cho cơ thể bạn các kích thích tố tuyến giáp cần thiết.
Khi nào nên tránh tiêu thụ các sản phẩm sữa, vì canxi trong sữa có thể ngăn chặn sự hấp thu của thuốc. Để chắc chắn, chỉ cần chờ 3-4 giờ sau khi mới uống sữa.

Cà phê và thuốc chống trầm cảm

Thuốc chống trầm cảm có thể tương tác với cà phê và các sản phẩm có chứa caffeine khác. Do chất cafein trong cà phê làm tăng tác dụng của thuốc, có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng hơn.
Kết hợp cà phê và thuốc chống trầm cảm có thể dẫn đến sốc, hoảng loạn và mất ngủ. Vì vậy, tốt nhất là không nên uống cà phê nếu như bạn đang dùng thuốc chống trầm cảm.

Các loại rau có lá màu xanh lá cây và thuốc làm pha loãng máu

Loại thuốc này có tác dụng ngăn ngừa cục máu đông, tắc mạch phổi, và đột quỵ. Vì thuốc này hoạt động bằng cách làm loãng máu, bạn nên xem xét số lượng vitamin K - hiệu ứng đông máu - họ có thể tiêu thụ.

Ngoài uống vitamin K được tìm thấy trong thực phẩm như các loại rau lá xanh. Điều này sẽ dẫn đến phản tác dụng khi bạn đang dùng thuốc làm loãng máu. Vì vậy, hãy nói chuyện với bác sĩ về lượng vitamin K phù hợp với mình.

Caffeine và giãn phế quản

Thuốc giãn phế quản được sử dụng cho những người bị bệnh hen suyễn để tăng lưu lượng không khí vào phổi, và nó có thể bị ảnh hưởng bởi caffeine.

Những loại thuốc này là chất kích thích, và tính chất kích thích caffeine tự nhiên có thể cộng hưởng, gây ra các tác dụng phụ nguy hiểm khi kết hợp, chẳng hạn như tăng nhịp tim. Để ngăn chặn điều này xảy ra, tránh các sản phẩm caffeine như cà phê, nếu bạn sử dụng một thuốc giãn phế quản.

Bưởi và thuốc tránh thai

Thuốc tránh thai rất phổ biến và mọi người đều nghĩ thuốc tránh thai không gây tương tác với bất cứ thực phẩm hay dược phẩm nào. Tuy nhiên, thuốc tránh thai có thể gây tương tác với bưởi.
Bưởi làm tăng đáng kể nồng độ estradiol, có thể làm tăng tác dụng phụ. Nếu bạn muốn giữ lượng hormone cân bằng, nên tránh xa bưởi khi uống thuốc tránh thai.

Bưởi và nhóm thuốc statin làm giảm mỡ máu

Bưởi là một thực phẩm tương tác với nhiều loại thuốc, không chỉ là những viên thuốc.Ví dụ, bưởi làm tăng nồng độ của các thành phần hoạt động khi sử dụng cùng với một nhóm các thuốc giảm lipid máu.

Kết hợp bưởi với nhóm statin của các loại thuốc giảm mỡ máu có thể làm tăng tác dụng phụ. Kết hợp nhóm thuốc atorvastatin, lovastatin và simvastatin với bưởi có thể dẫn đến tổn thương gan.

Nước ép trái cây màu xanh và thuốc trị bệnh tiểu đường

Nếu bạn đang dùng thuốc cho bệnh tiểu đường và nước xanh nước uống, nên theo dõi lượng đường trong máu của bạn một cách cẩn thận.

Nước ép trái cây xanh có thể làm giảm lượng đường trong máu, và bạn có thể cần đến gặp bác sĩ để thảo luận về liều lượng thuốc của mình ....
Theo Thùy Linh - Giáo dục Việt Nam




ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Nghi ngờ công dụng của thuốc trị cúm Tamiflu

Theo Tổ chức nghiên cứu sức khỏe độc lập Cochrane Collaboration, thuốc Tamiflu có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh cúm, song không có bằng chứng cho thấy nó có thể giảm các biến chứng đi kèm.

Việc sử dụng Tamiflu đã gia tăng mạnh kể từ khi bùng nổ dịch cúm H1N1 năm 2009. Ban đầu, người ta tin rằng loại thuốc này sẽ giúp giảm thời gian điều trị và các biến chứng của cúm, như bệnh viêm phổi trong thời kỳ diễn ra dịch.

Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu thuộc Cochrane, các dữ liệu về tính hiệu quả và tác dụng phụ của Tamiflu không đủ cơ sở để ủng hộ sử dụng Tamiflu trong ngăn ngừa sự lây lan cúm từ người sang người, cũng như trong việc giảm các biến chứng của nó.
So với thuốc điều trị thông thường, Tamiflu làm giảm nhanh hơn các triệu chứng cúm khoảng nửa ngày, từ 7 ngày xuống còn 6 ngày rưỡi ở người trưởng thành.

Tuy nhiên, việc thuốc có thể làm giảm thời gian phải nằm viện hay các biến chứng cúm đáng ngại khác không vẫn chưa được chứng minh.

TS David Tovey, Tổng biên tập của Thư viện Cochrane, cho rằng chưa chứng minh được liệu Tamiflu có hiệu quả hơn các loại thuốc chống cúm thông thường không và dường như một số tác hại của thuốc còn chưa được công bố trên các các tạp chí y học.

Trước những quan ngại trên, tập đoàn Roche, nhà sản xuất thuốc Tamiflu, ra tuyên bố cho biết họ "hoàn toàn không đồng ý" với những kết luận trong báo cáo của Cochrane.

Roche cam kết "bảo đảm chất lượng và tính thống nhất của các dữ liệu đã công bố, điều được thể hiện trong các quyết định của 100 cơ quan quản lý trên khắp thế giới."

Hãng cũng tin rằng Tamiflu là một loại thuốc hiệu quả trong điều trị và phòng ngừa cúm.

Cochrane là một tổ chức phi lợi nhuận với khoảng 30.000 cộng tác viên đến từ hơn 120 quốc gia, chuyên tiến hành thu thập và đánh giá các thông tin y tế.

Tổ chức này không nhận tài trợ quảng cáo và không có xung đột lợi ích với bên nào.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Coi chừng tăng huyết áp do thuốc

Theo Tổ chức Y tế thế giới, số huyết áp (HA) tốt nhất là 120/80mmHg, số 120 là số HA trên và số 80 là số dưới. Bị tăng huyết áp (THA) khi 2 số trên dưới cao hơn 140/90mmHg.











Những lưu ý về HA
Ở một số người, việc điều trị được xem là ổn khi số HA được ổn định ở mức cao hơn, như đối với người bệnh tuổi trung niên hoặc có bệnh đái tháo đường, mục tiêu của việc điều trị là đưa HA về dưới 130/85mmHg, hoặc ở người từ 60 tuổi trở lên đưa HA về dưới 140/90mmHg.
Điều đặc biệt lưu ý đối với người bị bệnh THA, bên cạnh việc dùng thuốc (có khi phải dùng thuốc suốt đời) để kiểm soát tốt HA, còn phải quan tâm đến những yếu tố trong cuộc sống có thể ảnh hưởng đến HA, làm HA tăng cao hơn trị số mà việc điều trị cần phải đạt được.
Như trong chế độ dinh dưỡng, người bị bệnh THA không được ăn mặn, tức hạn chế ăn muối (muối natri clorua) vì natri của muối hiện diện nhiều trong cơ thể sẽ giữ nước làm THA. Nếu người dư cân béo phì phải có chế độ ăn uống giúp giảm cân, bởi vì có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy người thực hiện chương trình giảm cân tích cực sẽ giảm nguy cơ THA rất rõ.
Về chế độ sinh hoạt, người bệnh THA nên tăng vận động thể lực thích hợp (vừa giúp hạ HA vừa giảm nguy cơ bị các bệnh tim mạch và nội khoa khác), nếu hút thuốc lá phải ngưng thói quen xấu này, hạn chế tối đa việc uống rượu bia, tập thư giãn để chống stress trong cuộc sống.
Điều mà rất ít người quan tâm là việc dùng thuốc (người bệnh THA không chỉ dùng thuốc trị THA, mà còn dùng nhiều thuốc để trị bệnh từ thông thường như cảm cúm đến các bệnh nội khoa khác) có thể gây THA một cách bất thường.
Các thuốc có thể gây THA
Dạng thuốc sủi bọt: khá nhiều thuốc được dùng ở dạng sủi bọt (còn gọi là viên sủi), chỉ uống khi hòa tan thuốc này trong ly nước cho tan hoàn toàn mới uống.
Hai loại thuốc thông dụng là thuốc giảm đau hạ nhiệt trị cảm sốt và thuốc bổ cung cấp vitamin, chất khoáng thường được dùng với dạng sủi bọt để giúp cho dễ uống. Nhưng chính dạng thuốc sủi bọt này làm cho người uống bị THA.
Do dạng thuốc sủi bọt luôn chứa tá dược rã sinh khí là natri bicarbonat hoặc natri carbonat (khi hòa vào nước sẽ phản ứng với acid citric cũng là tá dược phóng thích khí CO2 gây sủi bọt), cho nên, trong thuốc sủi bọt luôn chứa natri (mỗi viên thuốc sủi bọt có chứa 274 - 460mg natri), có thể gây THA đối với người bị sẵn bệnh lý này và đang kiêng muối. Người cao tuổi đang điều trị bệnh THA tuyệt đối không dùng thuốc dạng sủi bọt.
Thuốc trị cảm - sổ mũi chứa phenylpropanolamin, pseudoephedrin: các thuốc trị cảm - sổ mũi ngoài dược chất paracetamol thường chứa thêm thuốc có tác dụng làm co mạch, chống sung huyết ở niêm mạc mũi như phenylpropanolamin hoặc pseudoephedrin (vì vậy thuốc làm cho hết sổ mũi, nghẹt mũi rất tốt).
Nhưng chính do chứa chất co mạch vừa kể mà dùng thuốc để trị cảm sổ mũi không thôi, có thể bị THA rất đáng ngại. Người đã sẵn bị bệnh THA cần xem kỹ thành phần của thuốc trị cảm (chỉ có paracetamol là không đáng ngại) để dùng thuốc cho an toàn.
Thuốc giảm cân: có một số thuốc giảm cân có thể làm THA đối với người đang điều trị bệnh này, đó là sibutramin và ephedra. Sibutramin là thuốc Tây y được chính thức công nhận điều trị dư cân béo phì. Còn ephedra (thực chất ephedra là vị thuốc Đông y tên Ma hoàng) có trong chế phẩm thực phẩm chức năng, dùng để giảm cân thông dụng ở Hoa Kỳ (có thể chế phẩm loại này được nhập không chính thức vào nước ta).
Cũng cần lưu ý một số thuốc trị cảm có thể chứa ephedrin là dược chất có trong ephedra (ephedrin dùng liều cao để giảm cân trong khi dùng liều thấp giúp trị nghẹt mũi, sổ mũi giống như pseudoephedrin).
Thuốc trị viêm xương khớp: đó là các thuốc được gọi tên chung là các thuốc chống viêm không steroid (viết tắt là NSAID). Không chỉ có thuốc NSAID cổ điển như diclofenac, ibuprofen… mà cả thuốc mới như celecoxib có thể gây THA. Người cao tuổi thường dễ mắc bệnh viêm xương khớp (còn gọi là thoái hóa khớp) nếu có thêm bệnh THA mà lại dùng bừa bãi thuốc NSAID thì dễ bị tai biến nguy hiểm.
Thuốc hormone: có 2 loại hormone (còn gọi là nội tiết tố do tuyến nội tiết tiết ra) được dùng làm thuốc và dùng lâu dài có thể gây THA là estrogen và glucocorticoid (thường được gọi corticoid).
Estrogen là hormone thường có trong thuốc ngừa thai phối hợp (vừa chứa estrogen và progesteron là 2 hormone sinh dục nữ) và thuốc trị rối loạn do mãn kinh ở phụ nữ (gọi là liệu pháp hormone thay thế). Estrogen không chỉ có nguy cơ THA mà còn gây huyết khối làm thuyên tắc tĩnh mạch.
Còn corticoid là tên chung của các thuốc như: dexamethason, prednisolon, prednison… là thuốc chống viêm, chống dị ứng (trị viêm xương khớp, hen suyễn…) có thể gây THA do giữ nước và natri lại trong cơ thể.
Thuốc Đông y: ở các nước phương Tây, thuốc Đông y được xem là chế phẩm "hỗ trợ dinh dưỡng" hay "thực phẩm chức năng" nhưng lưu ý có một số thuốc Đông y có thể gây THA. Như cam thảo có thể gây THA do tác dụng giữ nước và natri lại trong cơ thể. Đặc biệt là nhân sâm là vị thuốc quý dùng lâu đời trong Đông y được nhiều người chuộng dùng.
Đối với người bình thường, thuốc được xem là an toàn nhưng đối với người bị THA hoặc bị các bệnh tim mạch khác, nhân sâm do có tác dụng kích thích, đặc biệt nhân sâm thường phối hợp với các vị thuốc kích thích dùng lâu ngày có thể gây THA. 
Ở ta cần lưu ý có tình trạng lưu hành thuốc Đông y giả mạo, thường kết hợp với thuốc Tây y là corticoid nhằm đạt các tác dụng: trị đau nhức, ăn được, mập ra… nhưng dùng lâu ngày sẽ bị các tác dụng phụ nguy hiểm, trong đó có gây THA.



ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Dùng thuốc điều trị mắt chứa corticoid

Thuốc điều trị mắt chứa corticoid đem lại lợi ích trong điều trị nhưng cũng dễ gây ra tai biến nếu dùng không đúng chỉ định, không đúng liều kéo dài.

Tác dụng không mong muốn từ thuốc điều trị mắt chứa corticoid
Từ thập niên 50 thế kỷ trước, thầy thuốc đã dùng corticoid đơn độc hay phối hợp trong các bệnh mắt như: viêm kết mạc dị ứng, viêm bờ mi, viêm màng bồ đào, viêm nội nhãn… 
Corticoid có tính chống viêm chống dị ứng, làm giảm rất nhanh các triệu chứng khó chịu, bệnh chóng khỏi, nên người bệnh rất thích. Tuy nhiên vì ham muốn cái lợi trước mắt, có người hễ cứ đau mắt là tự ý dùng, không cân nhắc kỹ lưỡng nên có thể gặp tai biến.
Corticoid gây ức chế miễn dịch làm giảm hay mất hẳn khả năng đề kháng của mắt. Trong các nhiễm khuẩn nặng, sự giảm khả năng đề kháng của corticoid sẽ làm giảm hiệu lực kháng sinh, nặng thêm bệnh. 
Trong các bệnh không do nhiễm khuẩn nhẹ, dùng đơn độc đúng liều đúng thời gian sẽ tốt song dùng liều cao kéo dài thì corticoid thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn nấm, gây đục thủy tinh thể, mờ mắt.
Corticoid gây tích tụ chất glycosaminoglycan, tăng sản xuất chất protein-TIGR (Trabercular meshowrk-Inducible Glucocortcoid Respone) làm bít các lỗ bè, dẫn tới tăng nhãn áp, gây bệnh glaucoma góc mở thứ phát. 
Tác dụng phụ này xuất hiện sau vài tuần với loại mạnh (predforte, solucort ophta, cebedex, dexacol), sau vài tháng với loại nhẹ (fluometholon); hay gặp hơn với dạng tra trực tiếp vào mắt, thứ đến là dạng tiêm nội nhãn, không mấy khi gặp ở dạng tiêm, uống, khí dung; hay gặp ở người có tiền sử gia đình bị glaucoma nguyên phát, bị cận thị cao, đái tháo đường, bệnh tổ chức liên kết. 
Biểu hiện rất kín đáo, hầu như không có triệu chứng cơ năng (không đau nhức, không đỏ mắt) nên người bệnh đến khám muộn, buộc phải phẫu thuật, sau đó chức năng thị giác rất kém; nếu không chữa sớm sẽ bị mù.
Dùng thuốc điều trị mắt chứa corticoidCorticoid cũng làm mỏng giác mạc. Nếu bị rách, lột giác mạc mà dùng thuốc tra mắt có chứa corticoid sẽ bị thủng.
Không phải bệnh mắt nào, thuốc điều trị mắt chứa corticoid nào cũng dùng được.
Loại thuốc nhỏ mắt đơn thuần chứa corticoid:
Trong các bệnh mắt không nhiễm khuẩn (ví dụ viêm kết mạc do dị ứng) dùng loại thuốc đơn thuần chứa corticoid dúng liều đúng thời gian (không quá 10 ngày) sẽ giảm viêm giảm dị ứng giảm các triệu chứng khó chịu nhanh chóng, song nếu dùng liều cao kéo dài thì sẽ bị các tác dụng phụ như nêu trên. 
Trong bệnh về mắt không do nhiễm khuẩn nhưng có rách loét giác mạc (ví dụ bị các vật lạ như: hạt thóc, bụi sắc) thì việc dùng các thuốc này sẽ làm mỏng, thậm chí làm thủng giác mạc.
Loại thuốc điều trị mắt kết hợp corticoid và kháng sinh:
Hiệu lực, tác dụng không mong muốn của loại biệt dược này thay đổi tùy theo tỉ lệ kết hợp giữa các thành phần. Tạm chia ra hai nhóm:
- Nhóm kháng sinh kết hợp với corticoid yếu hay có hàm lượng thấp thì tác dụng kháng viêm không mạnh nhưng lại có ưu điểm ít gây suy giảm miễn dịch.
- Nhóm kháng sinh kết hợp với corticoid mạnh hay có hàm lượng cao thì tác dụng kháng viêm mạnh nhưng có nhược điểm gây suy giảm miễn dịch mạnh.
Tác dụng phụ của kháng sinh khi phối hợp với thuốc điều trị mắt chứa corticoid
Trong thực tế, có khi dùng một biệt dược đơn chứa kháng sinh với biệt dược đơn chứa corticoid hoặc có khi dùng biệt dược kép kết hợp sẵn kháng sinh và corticoid.
Với thuốc điều trị mắt chỉ chứa kháng sinh đơn thuần:
Thường có các biệt dược: sufacollyre (sufacetamid 10-20-30%); dung dịch cloramphenicol (0,4%); mỡ tetracyclin (1%); rifamycin (thuốc nhỏ mắt 100mg/10ml, thuốc mỡ 50mg/5g); polydelzal (chloramphenicol + polymycin+naphazolin); ciprofloxacin (ciloxan thuốc điều trị mắt 0,3%); oflovid; vigamox (moxifloxacin); adevirus (moroxydin 50mg/ml), mỡ tra mắt acyclovir (3%).
Một số kháng sinh khi dùng toàn thân có phổ kháng khuẩn rất rộng nhưng khi nhỏ vào mắt với lượng nhỏ có thể không được như vậy; nếu dùng lâu dài sẽ làm tăng quá sản các chủng không nhạy cảm, gây kháng thuốc. 
Thí dụ thuốc mắt moxifloxacin dùng cho viêm kết mạc do nhiễm đa khuẩn nhưng nếu kéo dài lại gây sự bội nhiễm kể cả bội nhiễm nấm. Trong trường hợp này, nếu dùng thêm thuốc mắt chứa corticoid thì sự bội nhiễm càng tăng lên. 
Vì vậy, khi bị nhiễm khuẩn mắt, nên dùng kháng sinh đặc hiệu cho mỗi bệnh, khi cần mới dùng loại phổ rộng, với thời gian không quá 2 tuần, nếu không đáp ứng thì khám lại, thay thuốc.
Một số kháng sinh có thể gây tác dụng phụ tại chỗ. Ví dụ thuốc mắt moxifloxacin có thể làm giảm thị lực, khô mắt, viêm giác mạc, cương tụ, đau mắt, ngứa mắt, xuất huyết kết mạc; hay gặp khi khi dùng liều cao; sẽ hết khi ngừng thuốc. 
Trong trường hợp này nếu dùng thêm thuốc điều trị mắt chứa corticoid liều vừa đủ, thời gian ngắn sẽ có lợi nhưng nếu dùng liều cao thì sẽ làm giảm hiệu lực kháng sinh, đồng thời làm xuất hiện các tác dụng phụ của corticoid. Có khi không cần thiết phải phối hợp với thuốc điều trị mắt chứa corticoid mà chỉ cần dùng xen kẽ với thuốc có tính làm dịu cũng sẽ hạn chế sự khó chịu ở mắt.
Một phần thuốc đưa vào mắt sẽ theo mạch máu vào bên trong. Nếu dùng liều cao và /hoặc kéo dài quá 2 tuần thì lượng thuốc vào bên trong nhiều, đủ gây ra một số tác dụng phụ toàn thân như khi uống. Điều này dễ xảy ra với thuốc có sự thải trừ chậm, tích lũy. 
Một vài thuốc dễ gặp tác dụng phụ này thường có ghi rõ chống chỉ định (ngay trên lọ thuốc mắt). Ví dụ: không dùng thuốc nhỏ mắt chloramphenicol cho trẻ sơ sinh, người suy tủy; không dùng thuốc mắt cyclofloxacin cho người có thai, cho con bú.
Khi dang dùng thuốc mắt chứa kháng sinh, nếu có bệnh khác cần dùng thêm kháng sinh uống, tiêm thì cần chú ý tránh tương tác không lợi. Ví dụ khi dùng thuốc nhỏ mắt chloramphenicol thì không dùng gentamycin, tetracyclin, polimycin, cephalosporin.
Với các biệt dược kết hợp sẵn kháng sinh và corticoid:
Thường có các biệt dược: Chlorocid-H (hydroccortison + chloramphenicol); Dexalor, Dexacol, Spesadex (dexamethaosn + chloramphenicol); Polydeson (neomycin+ dexamethason); Maxitrol (dexametason + neomycin+ polymycin); Polidexa ophtalmicque (neomycin + polimycin B sulfat + dexametason metasulfobenzoat natri); Polidexan (dexamethason + chloramphenicol + naphazolin).
Dùng các biệt dược này tiện lợi nhưng vì tỉ lệ sự phối hợp các chất đã cố định nên việc cân nhắc khó hơn:
Khi sự phối hợp cố định phù hợp với yêu cầu chữa bệnh (kháng sinh đủ mạnh chống nhiễm khuẩn, corticoid chỉ ở mức kháng viêm, không giảm nhiều sức đề kháng) thì mới dùng, thực tế thường dùng trong một số bệnh nhẹ như: nhiễm khuẩn bán phần trước của mắt.
Khi sự phối hợp cố định không phù hợp với yêu cầu chữa bệnh (kháng sinh không đủ mạnh, lại bị corticoid khống chế, nên hiệu lực kháng khuẩn bị giảm). 
Trong các nhiễm khuẫn mắt nặng (viêm kết mạc do siêu vi, nhiễm nấm, tổn thương nhãn cầu do lao, loét giác mạc, củng mạc), nếu dùng loại biệt dược này thì sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho bệnh nặng thêm, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhiễm khuẩn thứ phát (bao gồm virút, nấm) làm chậm lành vết thương… từ đó có thể dẫn tới một số bệnh mắt khác (tăng áp lực nội nhãn tiến triển thành glaucoma, gây tổn thương thị giác).
Mấy lời kết
Tuy dùng tại chỗ, nhưng thuốc điều trị mắt không phải là thuốc dùng ngoài; lại có chứa corticoid, kháng sinh, yêu cầu phải dùng theo đơn. Khi có biểu hiện bất thường ở mắt, cần khám xác định đúng bệnh mới dùng thuốc, tránh dùng hú họa, tránh sự nhầm lẫn lạm dụng dẫn đến tai biến. 



ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Các thuốc phòng và trị gút

Gút là bệnh rối loạn chuyển hoá, biểu hiện bằng các đợt viêm khớp cấp tính và lắng đọng natri urat trong các tổ chức do tăng acid uric máu. Các nguyên nhân làm tăng acid uric máu gồm: ăn nhiều thịt (đạm), thoái giáng acid nhân tế bào, tăng tổng hợp purin nội sinh và giảm đào thải acid uric ở thận.
Acid uric máu tăng cao làm các dịch trong cơ thể bão hoà natri urat, gây ra hiện tượng kết tinh urat tạo thành tinh thể trong một số tổ chức, đặc biệt là dịch khớp, sụn, xương, gân, tổ chức dưới da, nhu mô thận, đài bể thận. 
Sự kết tinh thành các tinh thể natri urat khi đạt đến một lượng nhất định sẽ gây ra viêm khớp (viêm khớp vi tinh thể) và gây ra cơn gút cấp tính. Biểu hiện khớp sưng to, nóng, đỏ, phù nề, căng bóng, đau dữ dội, va chạm nhẹ cũng gây đau tăng. 
Sự lắng đọng urat ở đài bể thận sẽ gây ra sỏi thận (gặp 10 - 20% số bệnh nhân), sỏi thường nhỏ và không cản quang. Lắng đọng urat trong nhu mô thận gây ra viêm thận kẽ, về sau tiến triển đến suy thận và là nguyên nhân tử vong của bệnh nhân gút.
Hình ảnh tổn thương khớp do gút.Hình ảnh tổn thương khớp do gút
Dùng thuốc nào?
Điều trị bao gồm điều trị cơn gút cấp và điều trị hội chứng tăng acid uric máu.
Khi có cơn gút cấp, cần phải điều trị bằng thuốc và thuốc chống viêm giảm đau tốt nhất được lựa chọn trong điều trị cơn gút cấp là colchicin. Thuốc được uống sau bữa ăn, liều lượng và số lần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. 
Cần lưu ý, thuốc có thể gây tiêu chảy, đau dạ dày, nôn mửa. Ngoài colchicin, có thể dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nhóm không steroid (indomethacin, diclofenac, ibuprofen) nhưng tác dụng kém hơn. Corticoid làm giảm viêm nhanh nhưng ngừng thuốc lại đau trở lại, hơn nữa, corticoid làm tăng acid uric máu nên không dùng.
Điều trị hội chứng tăng acid uric máu, sử dụng thuốc làm giảm acid uric máu gồm nhóm thuốc làm giảm tổng hợp acid uric như allopurinol, thiopurinol, thuốc ức chế men xanthin oxydase làm giảm tạo thành acid uric. 
Thuốc ít tác dụng phụ nhưng có thể gặp phản ứng dị ứng, nổi mẩn da, rối loạn tiêu hóa. Nhóm thuốc làm tăng phân huỷ acid uric là uricozym, đây là một men urat oxydase được chiết xuất từ nấm aspegilus flavus có tác dụng làm thoái giáng acid uric thành allantoin. Allantoin có độ hòa tan gấp 10 lần so với uric và dễ dàng được thận đào thải. 
Uricozym làm giảm acid uric máu rất mạnh. Nhóm thuốc làm tăng đào thải acid uric qua nước tiểu như probenecid, sulfinpyrazon (anturan). Thuốc có thể gây phản ứng dị ứng, rối loạn tiêu hoá, chán ăn, buồn nôn, đau dạ dày, đi tiêu lỏng. 
Hai thuốc trên không được dùng đồng thời với aspirin liều nhỏ hoặc thiazid vì làm mất tác dụng đào thải acid uric. Vì thuốc làm tăng đào thải acid uric qua thận nên có thể làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận. Ngoài ra, cần phải kiềm hoá máu để làm tăng độ hoà tan của acid uric bằng uống các nước có kiềm (soda), thuốc viên nabica.
Phòng ngừa ra sao?
Điều quan trọng hơn là phải dự phòng cơn gút cấp tái phát bằng chế độ ăn và điều trị hội chứng tăng acid uric máu để luôn duy trì nồng độ acid uric máu trong giới hạn bình thường. Người ta thấy cơn gút cấp thường xảy ra sau bữa ăn nhiều thịt, rượu, chấn thương, kể cả đi giày chật. 
Vì vậy, người bị gút không nên ăn quá 0,8g đạm động vật/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Ví dụ, người 50kg không nên ăn quá 40g đạm động vật/ngày. Một lạng thịt lợn nạc, thịt bò, cá có 20g đạm, vậy không ăn quá 2 lạng thịt động vật/ngày. 
Không uống rượu, bia, cần uống nhiều nước (>2lít/ngày), nên uống các loại nước có bicacbonat. Định kỳ kiểm tra acid uric máu, dùng thuốc làm giảm acid uric máu như allopurinol, uricozym để duy trì nồng độ acid uric máu trong giới hạn bình thường. Không nên sử dụng các thuốc gây tăng acid uric máu như thiazid, ethambuton, pyrazynamid, aspirin liều nhỏ.



ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thận trọng với thuốc làm tăng nguy cơ trầm cảm

Nhìn chung, ngoài tác dụng chữa bệnh, các thuốc tân dược đều có những tác dụng phụ không mong muốn. Trong đó, một số thuốc có tác dụng phụ làm tăng nguy cơ trầm cảm.

Nhìn chung, ngoài tác dụng chữa bệnh, các thuốc tân dược đều có những tác dụng phụ không mong muốn. Trong đó, một số thuốc có tác dụng phụ làm tăng nguy cơ trầm cảm cho người dùng, đặc biệt đối với những người đang mắc bệnh trầm cảm cần hết sức lưu ý.
Thuốc chẹn beta dùng trong tim mạch
Nhóm thuốc chẹn beta (atenolol, metoprolol, propranolol, carvediol, satolol) dùng chữa tăng huyết áp, đau thắt ngực, điều hòa nhịp tim. 
Chúng có khả năng làm tăng trầm cảm do nhóm thuốc này chặn sự hoạt động của beta adrenergic nên ức chế sự hoạt động của norepinephrin - một chất dẫn truyền thần kinh. Cách khắc phục: thay các thuốc chẹn beta adrenergic bằng các thuốc khác.
Một số loại thuốc có tác dụng phụ tăng nguy cơ trầm cảm.Một số loại thuốc có tác dụng phụ tăng nguy cơ trầm cảm
Nhóm thuốc corticoid
Nhóm thuốc này có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch nên được dùng chữa trị nhiều bệnh như các bệnh về xương khớp, các bệnh tự miễn (như luput ban đỏ hệ thống). 
Corticoid làm giảm lượng serotonin (một chất dẫn truyền thần kinh), do đó, làm tăng trầm cảm (gồm các triệu chứng đơn lẻ hay kết hợp), biểu hiện ở người lớn với các triệu chứng thay đổi tính tình, lo lắng, sợ hãi, kích thích, cáu bẳn, hưng phấn hay lãnh đạm, thờ ơ, mất ngủ, li bì. 
Ở trẻ em hay có các rối loạn hành vi như nói lắp, quấy khóc. Dùng ngắn ngày có xu hướng bị hưng cảm; dùng dài ngày có xu hướng bị trầm cảm. Có 20 - 63% người lớn dùng corticoid kéo dài bị rối loạn này, trong đó, 6% ở mức nặng. Rối loạn nhận thức gồm thiếu hụt về trí nhớ, ngôn ngữ, lời nói.
Giải pháp khắc phục: Có thể thay thế bằng nhóm kháng viêm không steroid như aspirin, diclofenac, bằng thuốc chống dị ứng hay bằng các thuốc ức chế miễn dịch khác.
Nhóm an thần benzodiazepin
Nhóm thuốc này có tác dụng an thần, gây ngủ, thư giãn cơ bao gồm: diazepam (seduxen), alprazolam (xanax), lorazepam (ativan), temazepam, triazolam. Chúng làm tăng trầm cảm vì khi vào gan, chúng không được chuyển hóa hoàn toàn. 
Riêng người lớn tuổi, do sức khỏe sút kém dẫn đến thiếu một enzym chuyển hóa, kết quả là tích tụ lại gây độc. 
Mặt khác, trong cơ thể có hệ GABA- glutamic ở thế cân bằng động, trong đó glutamic làm tăng các hoạt động kích thích, GABA làm tăng các hoạt động ức chế. Benzodiazepin làm tăng hoạt động ức chế của GABA gây nên hiện tượng ức chế giống như trầm cảm.
Cách khắc phục: Nếu người trầm cảm bị kích thích khó ngủ, nên dùng các thuốc trầm cảm thuộc nhóm trầm cảm 3 vòng (TCA) có tính an thần như amitriptylin. 
Khi cần thiết, có thể phối hợp thuốc trầm cảm TCA với benzodiazepin như diazepam nhưng với liều thấp, trong thời gian ngắn, lúc mới dùng TCA. Bình thường, với các trường hợp khác, chỉ dùng benzodiazepin liều vừa đủ, không dùng quá 10 ngày.
Nhóm thuốc kích thích thần kinh
Nhóm này thường có methylphenidat (ritalin), modafinil (provigil) dùng điều trị chứng buồn ngủ quá mức ban ngày, buồn ngủ triền miên, ngủ rũ, chứng ngưng thở khi ngủ, chứng giảm tập trung tăng động (ADHD). 
Thuốc làm tăng trầm cảm do làm tăng hoạt động của hệ dopaminergic gây ra dạng trầm cảm có tính loạn thần (nay còn gọi là tâm thần phân liệt) với các triệu chứng âm tính giống như triệu chứng trầm cảm.
Cách khắc phục: Trong trường hợp bị trầm cảm, giảm sút năng lượng tâm thần do sự suy giảm các chất dẫn truyền thần kinh trong synap xuống dưới ngưỡng sinh lý bình thì phải dùng loại thuốc làm phục hồi lại các chất này đến ngưỡng sinh lý như thuốc trầm cảm 3 vòng (TCA), thuốc ức chế thu hồi chọn lọc serotonin (SSRI) hay thuốc ức chế monoaminooxydase (MAOI) mà không được dùng các thuốc kích thích thần kinh.
Nhóm thuốc statin chữa rối loạn lipid máu
Cholesterol là nguyên liệu tổng hợp nên các chất có cấu trúc sterol trong đó có các chất dẫn truyền thần kinh. Statin ức chế sự tổng hợp cholesterol chống rối loạn lipid máu cũng đồng thời làm giảm nguyên liệu tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh. Khi thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh thì gây ra trầm cảm.
Cách khắc phục: Để điều trị rối loạn lipid máu, cần dùng chế độ ăn thích hợp, dùng các thuốc khác kết hợp với statin để không phải dùng statin đơn liều cao. Chỉ dùng statin trong khung liều khuyến cáo (cho từng thuốc trong nhóm). Sự tổng hợp cholesterol xảy ra tại gan vào ban đêm, nên uống vào bữa tối cho hiệu quả cao hơn.
Người bình thường, khỏe mạnh khi dùng các nhóm thuốc trên liều cao hoặc kéo dài thì có thể bị trạng thái trầm cảm, song khi giảm liều hoặc ngừng thuốc thì trạng thái trầm cảm ấy sẽ mất dần đi, không gây ra bệnh trầm cảm.
Người có sẵn các nguy cơ bị trầm cảm nếu dùng các thuốc này liều cao hoặc kéo dài thì chúng sẽ làm tăng thêm nguy cơ dễ xuất hiện bùng phát trầm cảm. Ví dụ: Bị bệnh tự miễn, kéo dài làm suy nhược lo âu chán nản, có sẵn nguy cơ trầm cảm, nếu lại dùng corticoid liều cao hoặc kéo dài sẽ dễ xuất hiện, bùng phát trầm cảm.
Người đã bị bệnh trầm cảm thì không được dùng các nhóm thuốc này vì các thuốc làm mất tác dụng của thuốc trầm cảm đang dùng, gây nên trạng thái trầm cảm làm cho bệnh nặng thêm.
Theo DS Hà Thủy Phước - Sức khỏe và Đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons