Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Để dùng thuốc qua đường tiêu hóa hiệu quả

Trong điều trị bệnh thì dùng thuốc bằng phương pháp uống thuốc qua đường tiêu hóa là phổ biến. Vậy có những cách uống nào và cách dùng đúng ra sao để thuốc đạt hiệu quả cao nhất…

Nuốt thuốc: Đa số các loại thuốc viên (viên nén, viên nang, viên bao tan trong ruột) đều sử dụng cách thức nuốt cùng với nước. Khi nuốt thuốc cần phải nuốt nguyên viên thuốc, mà tuyệt đối không được nhai hoặc bóc lớp vỏ ngoài của thuốc ra để uống. 
Bởi nếu nhai hoặc tháo vỏ viên thuốc ra uống dược chất sẽ bị phân hủy ngay ở dạ dày, mà không được hấp thu ở ruột non sẽ làm giảm hoặc mất tác dụng của thuốc.
Khi uống thuốc viên, nên uống ở tư thế đứng và phải uống thuốc với nhiều nước, còn nếu nằm uống thuốc mà lại không uống nước thì thuốc dễ lưu lại lâu ở thực quản có thể gây loét niêm mạc nơi thuốc tiếp xúc (thực quản). 
Vết thương này có thể gây ra xuất huyết khi thức ăn đi qua chỗ lở loét. Nghiêm trọng hơn có thể gây ra xuất huyết, kích thích đầu mút ở thần kinh, gây đau đớn. Chỗ loét do thuốc gây ra thường rất khó chữa trị, đôi lúc phải phẫu thuật.
Để dùng thuốc qua đường tiêu hóa hiệu quảCần dùng thuốc đúng cách để đạt hiệu quả điều trị cao nhất. Ảnh: M.H
Cần lưu ý, nước dùng để uống thuốc nên là nước đun sôi để nguội mà không dùng nước trà, hoa quả hay sữa để uống thuốc (vì những nước này có thể sẽ gây ra phản ứng hóa học làm giảm hiệu lực của thuốc hoặc những tương tác bất lợi cho cơ thể). Thông thường nên uống thuốc với một cốc nước to (khoáng 150 - 200ml).
Nhai thuốc: Ngoài việc nuốt thuốc, ngậm thuốc thì một số thuốc lại cần nhai trước khi uống mới có tác dụng chữa bệnh. Đó là những loại thuốc kháng axit chữa loét dạ dày. Các thuốc này nên được nhai nát trước khi nuốt và chỉ cần uống với một ít nước thôi. Khi vào dạ dày thuốc sẽ tan rất nhanh, có tác dụng phủ lên vết loét trong dạ dày.
Đối với thuốc trị chứng khó tiêu có chứa than thảo mộc, canxi carbonat, canxi phosphat... cũng cần được nhai nát và uống với nước để tăng cường hấp phụ chất khí, chất độc, trung hòa các dịch tiết ở dạ dày.
Ngậm thuốc: Bên cạnh việc uống thuốc thì một số laoị thuốc lại cần ngậm trong miệng như  các loại thuốc dùng để chữa ho, một số thuốc chữa đau thắt ngực, thuốc chữa tăng huyết áp…
Cách dùng: Để thuốc vào miệng ngậm (hoặc dưới lưỡi) để thuốc tan ra từ từ. Nếu nuốt chửng thuốc hiệu quả chữa trị sẽ giảm đi rất nhiều.
Với những trường hợp đang bị đau thắt ngực, tăng huyết áp thì nuốt chửng thuốc viên lại không mang lại hiệu quả nhanh bằng ngậm dưới lưỡi. Tuy nhiên, thông thường người bệnh tăng huyết áp sử dụng cách nuốt thuốc, vì vậy trong trường hợp lúc nào nên ngậm thuốc cần có chỉ định của bác sĩ.
Theo DS Hoàng Thu Thủy  - Sức khỏe và Đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Tương tác bất lợi giữa thuốc hạ áp và giảm mỡ máu

Ở những người bệnh lớn tuổi, béo phì thường mắc cả hai loại bệnh tăng huyết áp và mỡ máu cao. Do đó thường phải dùng cả thuốc hạ áp và thuốc hạ mỡ máu.

Tuy nhiên hai loại thuốc này nếu được dùng chung thì sẽ có những tác hại. Gần đây, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã có những cảnh báo về tương tác giữa hai loại thuốc này.
Tương tác bất lợi giữa thuốc hạ áp và giảm mỡ máu
Người bệnh mắc cùng lúc tăng huyết áp và mỡ máu cao cần được theo dõi chặt chẽ khi dùng phối hợp thuốc
Tác dụng của 2 loại thuốc là gì?
Amlodipin là dẫn chất của dihydropyridin có tác dụng chẹn calci qua màng tế bào. Amlodipin ngăn chặn kênh calci loại L phụ thuộc điện thế, tác động trên các mạch máu ở tim và cơ. 
Thuốc có tác dụng chống tăng huyết áp bằng cách trực tiếp làm giãn cơ trơn quanh động mạch ngoại biên và ít có tác dụng hơn trên kênh calci cơ tim. Vì vậy thuốc không làm dẫn truyền nhĩ thất ở tim kém đi và cũng không ảnh hưởng xấu đến lực co cơ.
Amlodipin cũng có tác dụng tốt là giảm sức cản mạch máu thận, do đó làm tăng lưu lượng máu ở thận và cải thiện chức năng thận. Vì vậy thuốc cũng có thể dùng để điều trị người bệnh suy tim còn bù.
Amlodipin không có ảnh hưởng xấu đến nồng độ lipid trong huyết tương hoặc chuyển hóa glucose, do đó có thể dùng amlodipin để điều trị tăng huyết áp ở người bệnh đái tháo đường. 
Ở nhiều nước, điều trị chuẩn để bảo vệ người bệnh tăng huyết áp khỏi tai biến mạch máu não và tử vong vẫn là thuốc chẹn beta và thuốc lợi tiểu. 
Tuy vậy, amlodipin có thể dùng phối hợp với thuốc chẹn beta cùng với thiazid hoặc thuốc lợi tiểu quai và cùng với thuốc ức chế enzym chuyển đổi angiotensin. Amlodipin có tác dụng tốt cả khi đứng, nằm cũng như ngồi và trong khi làm việc. Vì amlodipin tác dụng chậm, nên ít có nguy cơ hạ huyết áp cấp hoặc nhịp nhanh phản xạ.
Simvastatin là thuốc hạ cholesterol được dùng để điều trị tăng cholesterol huyết nguyên phát hoặc rối loạn lipid huyết hỗn hợp, dưới dạng hỗ trợ cho chế độ ăn uống, khi sự đáp ứng với chế độ ăn uống và các biện pháp điều trị khác không dùng thuốc (tập thể dục, giảm cân) vẫn chưa đủ.
Simvastatin được dùng trong điều trị tăng cholesterol huyết thể đồng hợp tử có tính gia đình như một sự hỗ trợ cho chế độ ăn uống và các biện pháp làm giảm lipid khác (như: gạn tách LDL) hoặc khi các biện pháp này không thích hợp; điều trị tăng triglycerid huyết. 
Thuốc cũng làm giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân có bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch hoặc bệnh đái tháo đường, với mức cholesterol bình thường hoặc tăng cao.
Khi nào thì 2 thuốc gây tương tác xấu?
Tháng 8/2012, Cơ quan Quản lý Dược phẩm Anh (MHRA) đã khuyến cáo về việc bổ sung chống chỉ định sử dụng đồng thời simvastatin với cyclosporin, danazol và gemfibrozil. 
Ngoài ra, liều khuyến cáo tối đa của simvastatin khi sử dụng phối hợp với amlodipin và diltiazem cũng thay đổi. Khuyến cáo này xuất phát từ quan ngại về khả năng tăng nguy cơ mắc các bệnh cơ và/hoặc tiêu cơ vân do tương tác của simvastatin với các thuốc này.
Liều tối đa của simvastatin được khuyến cáo khi dùng đồng thời với amlodipin là 20mg/ngày; không cần thiết phải thay đổi liều của amlodipin và diltiazem.
Cơ sở khoa học để MHRA đưa ra yêu cầu giới hạn liều dùng này bao gồm:
Nồng độ simvastatin trong máu tăng lên khi sử dụng đồng thời với amlodipin do tương tác thuốc thông qua enzym CYP3A4. 
Tỷ lệ xuất hiện bệnh cơ tăng khi sử dụng liều cao simvastatin cùng với amlodipin, so với khi dùng các mức liều simvastatin thấp hơn hoặc khi không phối hợp simvastatin với amlodipin hoặc diltiazem.
Tác dụng làm giảm cholesterol máu có thể đạt được tới khoảng 75% hiệu quả tối đa khi sử dụng các mức liều thấp của simvastatin và chỉ tăng thêm 6% khi tăng gấp đôi liều simvastatin (từ 20mg/ngày lên 40mg/ngày). 
Do chưa có thêm chứng cứ, mức liều khuyến cáo tối đa của simvastatin (20mg/ngày) được áp dụng khi dùng đồng thời với amlodipin ở cả hai mức liều amlodipin 10mg/ngày và 5mg/ngày.
Theo DS Sỹ Thành - Sức khỏe và Đời sống



ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Tuyệt đối không dùng những thuốc sau khi sốt xuất huyết

SXH gây ra các rối loạn, đặc biệt ở mạch máu - máu. Việc dùng thuốc nhằm để cân bằng lại các rối loạn đó và chống lại các triệu chứng bất lợi. 
Tuy nhiên phải dùng đúng thuốc, nếu dùng sai thuốc hoặc dùng các thuốc chống chỉ định với bệnh SXH thì sự rối loạn ấy sẽ tiến triển theo hướng xấu khiến bệnh trầm trọng thêm, thậm chí nguy hiểm tính mạng.
Tuyệt đối không dùng những thuốc sau khi sốt xuất huyết
Sơ đồ truyền bệnh SXH từ muỗi
Thông thường bệnh nhân SXH phải nhập viện và điều trị theo phác đồ của thầy thuốc. Tuy nhiên có những trường hợp mới chớm mắc bệnh, chưa được chẩn đoán SXH, thường tự điều trị tại nhà, dễ dùng phải những thuốc bất lợi cho bệnh SXH. 
Do vậy, mọi người đều cần biết những thuốc thông thường nào không được dùng cho người bệnh SXH, để có ý thức dùng thuốc, nhất là dân cư vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long như bạn.
Các thuốc không được dùng khi mắc SXH là:
Aspirin: có tác dụng hạ sốt, giảm đau. Trong SXH có hiện tượng chảy máu. Aspirin ngăn sự tập kết tiểu cầu, chống đông máu nên làm cho việc chảy máu do SXH gây ra không cầm được (nhất là xuất huyết đường tiêu hóa). 
Kết quả làm cho bệnh trầm trọng thêm. Do vậy, trong SXH, không được dùng aspirin cho cả người lớn và trẻ em. 
Riêng với trẻ em càng tuyệt đối cấm dùng vì: aspirin là yếu tố thúc đẩy gây hội chứng Reye (phù não và suy gan nhiễm mỡ với tỷ lệ tử vong khoảng 30 - 50%, nếu sống sót cũng để lại di chứng tổn thương não vĩnh viễn). 
Aspirin làm tăng độ acid (vốn thấp ở dạ dày trẻ), gây bỏng rát viêm đường tiêu hóa, nặng hơn gây xuất huyết đường tiêu hóa.
Nhóm thuốc kháng viêm không steroid: đa số các thuốc trong nhóm như: diclofenac, diffunisal, fenoprofen, flurbiprofen, ibuprofen, indomethacin, ketoprofen, mefenamic acid, naproxen, piroxacam... cũng có tác dụng hạ nhiệt và giảm đau, giảm viêm. 
Tuy không làm ngưng tập kết tiểu cầu mạnh như aspirin nhưng các kháng viêm không steroid đều có tính này (với các mức độ khác nhau) nên cũng làm cho việc chảy máu trong SXH khó cầm. Do vậy không dùng nhóm thuốc này trong điều trị SXH.
Thuốc kháng sinh: SXH do virut gây ra mà kháng sinh lại để diệt vi khuẩn, không có tác dụng trong điều trị SXH. Dùng kháng sinh nhằm làm yếu virut, tạo điều kiện thuận lợi cho kháng thể tiêu diệt virut bằng cách thực bào. 
Trong SXH, kháng thể tiêu diệt ngược lại làm cho virut phát triển (như nói trên) nên việc dùng kháng sinh không có ý nghĩa. Hơn nữa, trong SXH, máu bị cô đặc, dùng nhiều kháng sinh bao vây sẽ làm cho nồng độ kháng sinh trong máu cao, dễ gây tai biến.
Theo DS Thanh Hoài - Sức khỏe và Đời sống



ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thuốc mới kỳ diệu điều trị ung thư phổi

Vừa qua, các nhà khoa học đã tìm ra một loại thuốc mới điều trị bệnh ung thư phổi, phương pháp này sẽ giúp cho bệnh nhân tăng gấp đôi khả năng sống của mình.


Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Như đã biết, ung thư phổi là loại ung thư nguy hiểm nhất giết chết gần 1,6 triệu người trên thế giới mỗi năm. Bệnh rất khó chữa trị vì nó thường được phát hiện muộn và với nhiều người hút thuốc lá thì việc phẫu thuật không thích hợp để được tiến hành. 
Hiệp hội Ung thư học lâm sàng Mỹ vừa công bố kết quả nghiên cứu trên 582 người, cho biết thuốc Nivolumab có khả năng chặn đứng các tế bào ung thư ẩn trong cơ thể người bệnh.
Thông thường, hệ thống miễn dịch có nhiệm vụ phòng thủ và bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng, nếu gặp sự cố, nó sẽ tấn công các bộ phận trong cơ thể, chẳng hạn tế bào ung thư
Tuy nhiên, các khối u có khả năng sống sót là nhờ chúng sản xuất ra một loại protein có tên PD-L1, loại protein này có thể dập tắt bất kỳ phần nào của hệ miễn dịch đang cố tấn công chúng. Nivolumab được phát triển bởi các công ty dược, được xem như "chất ức chế trạm kiểm soát". 
Nivolumab có thể chặn đứng chức năng dập tắt hệ miễn dịch của các tế bào ung thư, vì vậy giúp cơ thể tiếp tục hoạt động tấn công khối u.
Nivolumab có thể chặn đứng khả năng dập tắt hệ miễn dịch của các tế bào ung thư
Nhiều cuộc thử nghiệm đã được tiến hành trên cơ thể những bệnh nhân ung thư nặng và những người đã cố gắng thử các phương pháp điều trị khác nhau ở châu Âu và Mỹ. 
Kết quả cho thấy những người đang điều trị thông thường chỉ sống thêm được khoảng 9,4 tháng, trong khi những người sử dụng Nivolumab sống trung bình được 12,2 tháng. Một số bệnh nhân có kết quả ấn tượng hơn khi sống được đến 19,4 tháng. 
Đó là những người có khối u sản xuất ra hàm lượng PD-L1 cao. Những dữ liệu này được đưa ra bởi Công ty dược phẩm Bristol-Myers Squibb.
TS Luis Paz-Ares, trưởng nhóm nghiêm cứu của BV Universitario Doce de Octubre tại Madrid (Tây Ban Nha) cho biết kết quả này ghi dấu một cộc mốc quan trọng trong việc phát triển những phương pháp điều trị mới cho bệnh ung thư phổi. 
Nivolumab là chất ức chế PD-1 đầu tiên cho thấy sự cải thiện đáng kể tỷ lệ sống của bệnh nhân ung thư. Hiện nay các công ty khác cũng đang nghiên cứu những loại thuốc tương tự. TS Martin Forster đến từ Viện Ung bướu của ĐH London (Anh) đang thử nghiệm chúng. 
Ông chia sẻ với BBC rằng loại thuốc này sẽ đem đến những thay đổi mới trong việc điều trị bệnh ung thư phổi. Các nghiên cứu về bệnh ung thư của nước Anh cũng nhấn mạnh việc khai thác hệ thống miễn dịch là một phần tất yếu của điều trị ung thư. 
TS Alan Worsley cũng cho biết việc điều trị ung thư bằng cách chặn đứng tế bào ung thư từ hệ miễn dịch có thể là hướng tốt hơn so với các biện pháp hóa trị hiện tại.
Thuốc mới điều trị ung thư phổi đang mang lại hy vọng lớn cho bệnh nhân. Các nhà khoa học mong muốn nó cũng sẽ phát huy tác dụng ở những dạng bệnh ung thư khác. 
Hiện nay Nivolumab đã được phê duyệt là thuốc đặc trị cho khối u ác tính ở Mỹ. Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi lớn đươc đặt ra như hậu quả lâu dài của việc sửa đổi hoạt động của hệ miễn dịch là gì và cách nào tốt nhất để tìm ra những người phù hợp với việc điều trị. 
Ngoài ra, phương pháp điều trị này cũng rất tốn kém. Đây là những thách thức lớn cho ngành y tế.
Theo Xã luận

ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thận trọng khi sử dụng thuốc hướng thần

Hiểu và tránh các nguy cơ khi sử dụng thuốc chứa valproat là hết sức cần thiết đối với các thầy thuốc và người bệnh.
Thận trọng đặc biệt khi sử dụng thuốc hướng thần
Mẹ dùng valproat khi mang thai dễ sinh con bị sứt môi, hở hàm ếch. (ảnh minh họa)
Đối với bé gái, trẻ vị thành niên nữ, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và phụ nữ có thai khi sử dụng thuốc chứa valproat trong điều trị động kinh, rối loạn tâm thần lưỡng cực hoặc dự phòng cơn đau nửa đầu cấp cần được khởi đầu điều trị và giám sát chặt chẽ bởi bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm. 
Chỉ nên sử dụng thuốc này khi các biện pháp điều trị khác không có hiệu quả hoặc bệnh nhân không dung nạp được. Việc cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ của thuốc nên được các bác sĩ chuyên khoa đánh giá cẩn thận trong mỗi lần thăm khám định kỳ. 
Tốt nhất nên kê đơn thuốc chứa valproat dưới dạng đơn trị liệu và ở liều điều trị thấp nhất có hiệu quả. Nếu có thể, nên sử dụng dưới dạng giải phóng kéo dài để tránh nồng độ đỉnh trong huyết tương cao. Liều hàng ngày nên được chia ít nhất thành hai liều đơn.
Không dùng thuốc để dự phòng cơn đau nửa đầu cấp trong các trường hợp sau: dự phòng cơn đau nửa đầu cấp ở phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ trong độ tuổi sinh sản không sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong suốt thời gian điều trị bằng thuốc chứa valproat. Cần loại trừ phụ nữ có thai trước khi bắt đầu điều trị bằng valproat.
Thận trọng đặc biệt khi sử dụng thuốc hướng thần
Báo cáo mới đây kết luận rằng, trẻ sinh ra từ những bà bầu dùng thuốc sodium valproate có nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần. Ảnh: BBC
Không nên dùng thuốc chứa valproat cho bé gái, trẻ vị thành niên nữ, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và phụ nữ có thai trừ khi các biện pháp điều trị khác không có hiệu quả. 
Valproat có khả năng cao gây quái thai và tiềm tàng nguy cơ rối loạn phát triển ở trẻ từng bị phơi nhiễm valproat trong thời gian người mẹ mang thai. 
Bác sĩ nên đánh giá cẩn thận hiệu quả và nguy cơ của thuốc trong mỗi lần thăm khám định kỳ cho bệnh nhân, khi bệnh nhi đến tuổi dậy thì, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đang được trị bằng thuốc chứa valproat có kế hoạch mang thai hoặc vừa có thai.
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bắt buộc phải dùng các biện pháp tránh thai có hiệu quả trong suốt thời gian điều trị. Bác sĩ cần thông báo cho bệnh nhân các nguy cơ liên quan tới việc sử dụng thuốc chứa valproat trong thai kỳ.
Tuyệt đối không dùng thuốc chứa valproat để dự phòng cơn đau nửa đầu cấp ở phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản không sử dụng các biện pháp tránh thai trong suốt thời gian điều trị bằng valproat hoặc khi các biện pháp điều trị khác vẫn có hiệu quả.
Bệnh nhân nữ có kế hoạch mang thai cần cố gắng chuyển sang các biện pháp điều trị khác thay thế trước khi thụ thai nếu có thể.
Theo BS Bảo Thư - Sức khỏe và Đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Bảo quản thuốc ngày nóng

Trong quá trình vận chuyển với thời gian ngắn thì thuốc có thể cất giữ ở nhiệt độ 300C làm cho thuốc bị thay đổi lý tính, hóa tính, làm giảm tác dụng thuốc thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng cho người sử dụng thuốc.
Điều này càng quan trọng đối với bệnh nhân bị những căn bệnh mãn tính như đái tháo đường và tim mạch. 
Khi một liều thuốc bị biến chất, chẳng hạn như: insulin hoặc nitroglycerin thì có thể khiến bệnh nhân "chết như chơi". Đôi khi nhìn vào màu sắc viên thuốc hoặc thuốc nước thấy không có gì thay đổi, bệnh nhân nghĩ rằng thuốc vẫn còn tốt nhưng thật sự chúng đã ít nhiều biến chất nếu được bảo quản ở nhiệt độ không thích hợp. 
Vì vậy, người sử dụng thuốc cần phải được sự tư vấn của dược sĩ nhà thuốc về cách bảo quản thuốc trong điều kiện khí hậu oi bức.
Bảo quản thuốc ngày nóng
Theo DS Nguyễn Bá Huy Cường


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Nghiên cứu vắc-xin ngừa HIV đạt kết quả khả quan

Sau khi đạt được kết quả thử nghiệm thành công ngoài mong đợi trên loài khỉ, nghiên cứu vắc-xin ngừa HIV sắp được cân nhắc thử nghiệm trên con người ở qui mô quốc tế.

Theo ngân hàng Thế Giới, HIV đã lây nhiễm cho 78 triệu người trên toàn thế giới và cướp đi sinh mạng của 30 triệu người. Các phương pháp điều trị loại vi-rút này đang được tiến hành cải thiện.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia tin rằng vắc-xin mới chính là phương thức hiệu quả nhất để ngăn ngừa đại dịch này. Các nhà khoa học cũng đã trải qua nhiều năm nghiên cứu phát triển vắc-xin phòng ngừa HIV, đặc biệt là trên loài khỉ.
Theo hãng tin Sputnik News (Nga), công ty dược Johnson &Johnson, phối hợp với TS Dan Barouch của trung tâm y tế Beth Israel Deaconess, vừa kết thúc thử nghiệm vắc-xin ngừa một loại vi-rút suy giảm miễn dịch trên khỉ, tương tự như vi-rút HIV của người, và đã có kết quả đáng khích lệ.
Nghiên cứu vắc-xin ngừa HIV đạt kết quả khả quan
Thử nghiêm vắc-xin chống vi-rút suy giảm miễn dịch trên khỉ (Ảnh minh họa)
Nghiên cứu này phát triển một phương pháp tạo vắc-xin ngừa HIV thông qua hai bước. Đầu tiên là sử dụng một loại vi-rút cảm cúm thông thường (vi-rút adenovirus 26) để kích hoạt hệ thống miễn dịch khi bệnh lây lan. Đây là sự chuẩn bị cho cơ thể trước bước thứ hai, tiêm vào cơ thể một lượng nhỏ vi-rút HIV để thúc đẩy các phản ứng miễn dịch.
Phương pháp này cũng được dùng để thí nghiệm để tìm vắc-xin cho đại dịch Ebola. Loại vắc-xin ngừa Ebola cũng đang được bắt đầu tiến hành thử nghiệm giai đoạn đầu trên người.
Do vi-rút HIV chỉ lây nhiễm ở người, các nhà khoa học đã thử nghiệm trên khỉ bằng loại vi-rút suy giảm miễn dịch liều cao có đặc tính tương tự với HIV. Trước đó, các chú khỉ đã được tiêm vác-xin phòng ngừa. Một nửa đàn khỉ được miễn dịch hoàn toàn và chúng còn có thế tự sản xuất kháng thể chống vi-rút giúp đánh giá mức độ miễn dịch.
Nghiên cứu vắc-xin ngừa HIV đạt kết quả khả quan
Thử nghiệm vắc-xin phòng HIV (nguồn : sputniknews)
Kết quả của nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science danh giá, và đã chuyển sang giai đoạn thử nghiệm mới. Các nhà khoa học tin rằng sẽ chứng minh được vắc-xin an toàn và đủ khả năng kích thích phản ứng miễn dịch.
TS Barouch cho biết : “Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm qua có một công ty dược tài trợ cho việc phát triển thử nghiệm lâm sàng vắc-xin phòng HIV. Một trong những hạn chế trong lĩnh vực nghiên cứu HIV đã được cải thiên khi các các công ty dược chịu tránh nhiệm tham gia vào chương trình phát triển thử nghiệm lâm sàng.
Chỉ có một loại vắc-xin duy nhất gần chống lại được HIV. Nó được tiến hành thử nghiệm trên diện rộng ở Thái Lan từ năm 2003 tới năm 2009 với tỷ lệ thành công là 31%. Tuy nhiên, vắc-xin này chỉ miễn dịch với chủng HIV thông thường trong khu vực. Nếu thử nghiệm lần này thành công, tỉ lệ ngừa HIV có thể đạt khả năng từ 50% trở lên.
Theo Hồng Phạm - Sức khỏe và Đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons