Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Codeine trị ho ở trẻ em có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng

Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã đưa ra một cảnh báo rằng với trẻ em dưới 18 tuổi dùng thuốc chứa codeine để điều trị ho và cảm lạnh gây ra tác dụng phụ.

FDA quyết định đánh giá vấn đề an toàn của codeine đối với trẻ em sau khi Cơ quan Y tế châu Âu ra thông báo rằng codeine không được phép sử dụng để điều trị ho và cảm lạnh ở trẻ em dưới 12 tuổi. Ngoài ra, Cơ quan Y tế châu Âu đề nghị thanh thiếu niên có các vấn đề hô hấp trong độ tuổi từ 12 đến 18 tuổi không nên uống thuốc có chứa codeine.
Phụ huynh cần lưu ý các tác dụng phụ có thể xảy ra khi trẻ em dùng thuốc codeine là hơi thở khó khăn, thở nông, khó thở , nhầm lẫn lung tung hay buồn ngủ bất thường. 
Trẻ em bị bệnh về hô hấp như bệnh hen suyễn, có thể trở nên đặc biệt nhạy cảm, các tác dụng phụ nêu trên cũng trở nên nghiêm trọng hơn. Nếu có bất kì dấu hiệu nghiêm trọng nào, phụ huynh nên cho trẻ em ngưng sử dụng codeine và tới ngay cơ sở y tế gần nhất, theo cảnh báo từ FDA.
FDA trước đó đã đưa ra cảnh báo về việc sử dụng thuốc codeine ở trẻ em có thể gây ra tác dụng phụ, đặc biệt là những trẻ đã trải qua phẫu thuật  cắt amiđan hoặc hạch vòm họng. FDA cảnh báo các bậc phụ huynh và bác sĩ cần thận trọng khi kê toa thuốc cho trẻ em có chứa codeine chữa bệnh ho và cảm lạnh. 
Phụ huynh nên cẩn trọng khi sử dụng codeine điều trị ho ở trẻ
Phụ huynh nên cẩn trọng khi sử dụng codeine điều trị ho ở trẻ. Ảnh minh họa
Helio dẫn lời quan chức FDA cho biết: "Chúng tôi đang đánh giá tất cả các thông tin sẵn có và cũng sẽ tham khảo ý kiến ​​với các chuyên gia bằng cách triệu tập một ủy ban tư vấn để thảo luận về các vấn đề an toàn. Chúng tôi sẽ đưa ra kết luận cuối cùng sau khi hội ý ".
Tại Việt Nam, trang thông tin Thuốc và Biệt dược ghi chú codeine là thuốc tác dụng trên đường hô hấp, dược lực là giảm đau và giảm ho. Codein là methylmorphin thay thế vị trí của hydro ở nhóm hydroxyl liên kết với nhân thơm trong phân tử morphin, do vậy codein có tác dụng giảm đau và giảm ho.
Tác dụng phụ thường gặp của codeine là: đau đầu, chóng mặt, khát và có cảm giác khác lạ, buồn nôn, nôn, táo bón, bí đái, đái ít, mạch nhanh, mạch chậm, hồi hộp, yếu mệt, hạ huyết áp thế đứng. Tác dụng phụ ít gặp là phản ứng dị ứng như ngứa, mày đay, suy hô hấp, an dịu, sảng khoái, bồn chồn, đau dạ dày, co thắt ống mật.
Các tác dụng phụ hiếm gặp là: phản ứng phản vệ, ảo giác, mất phương hướng, rối loạn thị giác, co giật, suy tuần hoàn, đỏ mặt, toát mồ hôi, mệt mỏi. Biểu hiện khi nghiện thuốc: dùng codein trong thời gian dài với liều từ 240 - ­ 540 mg/ngày có thể gây nghiện thuốc. 
Các biểu hiện thường gặp khi thiếu thuốc là bồn chồn, run, co giật cơ, toát mồ hôi, chảy nước mũi. Có thể gây lệ thuộc thuốc về tâm lý, về thân thể. 
Theo Thái Hà - Chất lượng Việt Nam


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Một số thuốc khắc tinh với dấm táo

Sử dụng dấm táo có thể mất tác dụng hoặc tăng độc tính của thuốc: thuốc trợ tim như các glycosid trợ tim (digitalis), thuốc lợi tiểu, thuốc nhuận tràng.

Dấm táo là một vị thuốc quý. Theo y học cổ truyền, dấm táo thuộc nhóm tiêu thực hóa tích, giúp tăng tiết dịch dạ dày, dịch tụy, dịch mật có tác dụng chủ yếu điều trị các chứng rối loạn tiêu hóa do ăn nhiều thịt, dầu mỡ, trẻ em ăn sữa không tiêu, giúp ăn ngon miệng...
Một số thuốc khắc tinh với dấm táo
Chính vì những tác dụng này mà nhiều người có thói quen sử dụng dấm táo thường xuyên. Tuy nhiên, khi sử dụng dấm táo những người đang dùng một số thuốc sau cần đặc biệt lưu ý: thuốc trợ tim như các glycosid trợ tim (digitalis), thuốc lợi tiểu bendroflumethiazide, chlorthalodone, hydrochlorothiazide, furosemid... thuốc nhuận tràng docusate, lactulose... 
Vì khi dùng đồng thời dấm táo với các thuốc này sẽ làm giảm, làm mất tác dụng của thuốc hoặc tăng độc tính của thuốc đối với cơ thể.
Ngoài ra, dấm táo cũng có một số tác dụng phụ như gây ra tình trạng ợ nóng và khó chịu đường tiêu hóa (nguyên nhân do lượng axit trong dấm táo không được trung hòa trong cơ thể). 
Đây là những khó chịu ở đường tiêu hóa rất phổ biến và gặp phải ở nhiều người, nhất là những người tiêu thụ quá nhiều dấm táo. Ngoài ra, có thể gặp tác dụng phụ khác như làm hỏng men răng, gây hạ kali máu, loãng xương.
Theo BS Bảo Thư - Sức khỏe và Đời sống



ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Chớ dùng Cefalexin trị các nhiễm khuẩn nặng

Cefalexin tôi là thuốc kháng sinh uống, nhóm cephalosporin thế hệ 1. Tôi được dùng trong điều trị các nhiễm khuẩn do các vi khuẩn nhạy cảm, nhưng không chỉ định điều trị các nhiễm khuẩn nặng.

Tôi khá hữu ích trong một số nhiễm khuẩn: viêm phế quản cấp và mạn tính và giãn phế quản nhiễm khuẩn viêm tai giữa, viêm xương chũm, viêm xoang, viêm amiđan hốc mủ và viêm họng, viêm bàng quang và viêm tuyến tiền liệt. 
Ðiều trị dự phòng nhiễm khuẩn đường niệu tái phát. Tôi cũng được sử dụng trong nhiễm khuẩn sản phụ khoa, nhiễm khuẩn da, mô mềm và xương, bệnh lậu (khi penicilin không phù hợp), nhiễm khuẩn răng miệng. Ngoài ra, tôi còn được dùng điều trị dự phòng thay penicilin cho người bệnh mắc bệnh tim phải điều trị bệnh răng.
Không dùng cefalexin tôi cho người bệnh có tiền sử dị ứng với kháng sinh nhóm cephalosporin. Không dùng cephalosporin cho người bệnh có tiền sử sốc phản vệ do penicilin hoặc phản ứng trầm trọng khác qua trung gian globulin miễn dịch IgE.
Cefalexin tôi thường được dung nạp tốt ngay cả ở người bệnh dị ứng với penicilin, tuy nhiên cũng có một số rất ít bị dị ứng chéo. Giống như những kháng sinh phổ rộng khác, sử dụng cefalexin dài ngày có thể làm phát triển quá mức các vi khuẩn không nhạy cảm (ví dụ: candida, enterococcus, clostridium difficile), trong trường hợp này nên ngừng thuốc. 
Ðã có thông báo viêm đại tràng màng giả khi sử dụng các kháng sinh phổ rộng, vì vậy cần phải chú ý tới việc chẩn đoán bệnh này ở người bệnh tiêu chảy nặng trong hoặc sau khi dùng kháng sinh.Giống như với những kháng sinh được đào thải chủ yếu qua thận, khi thận suy, phải giảm liều cefalexin cho thích hợp... Thận trọng dùng tôi cho phụ nữ mang thai và cho con bú.
Tỉ lệ tác dụng không mong muốn khoảng 3 - 6% trên toàn bộ số người bệnh dùng tôi để điều trị. Một số tác dụng phụ thường gặp: tiêu chảy, buồn nôn. 
Để thoát khỏi tác dụng phụ, tránh các tương tác thuốc gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, các bạn nên tuyệt đối tuân thủ hướng dẫn của thầy thuốc, khi có những triệu chứng khác lạ phải báo ngay cho thầy thuốc để có hướng xử trí kịp thời.
Theo Nguyên Khoa - Sức khỏe và Đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Uống thuốc nào có nguy cơ gây hại cho dạ dày?

Trong quá trình dùng thuốc, một điều đáng lo ngại nhất là thuốc gây hại cho dạ dày, thể hiện dưới nhiều mức độ. Nguy hiểm nhất là gặp các tai biến nặng như loét, xuất huyết dạ dày...

Trong quá trình dùng thuốc, một điều đáng lo ngại nhất là thuốc gây hại cho dạ dày, thể hiện dưới nhiều mức độ tổn thương. Nguy hiểm nhất là gặp các tai biến nặng như loét dạ dày, xuất huyết dạ dày, thủng dạ dày... Chúng ta cần biết để đề phòng và xử lý kịp thời.
Viêm loét, xuất huyết dạ dày là tác dụng phụ rất hay gặp với các mức độ khác nhau: cảm giác đầy bụng, nóng rát vùng thượng vị, viêm loét dạ dày tá tràng; chảy máu, thủng dạ dày, hành tá tràng. Tác dụng phụ xuất hiện cả khi dùng đường uống hoặc đường tiêm. 
Sở dĩ, tác dụng phụ này hay gặp nhất do một mặt thuốc gây tổn thương trực tiếp niêm mạc dạ dày, mặt khác nó làm giảm quá trình sản xuất chất nhầy tạo điều kiện cho acid và pepsin của dịch vị gây tổn thương niêm mạc. 
Khi dùng đường uống, thuốc sẽ gây loét theo 2 cơ chế: kích ứng trực tiếp dạ dày và do giảm chất nhầy. Còn nếu dùng thuốc với các đường dùng khác, thuốc chỉ gây loét theo cơ chế làm giảm chất nhày hoặc gây tăng tiết dịch vị. Dùng thuốc theo đường uống tác dụng gây loét sẽ tăng lên rất nhiều trong khi đuờng uống lại là đường dùng phổ biến.
Điểm mặt thuốc gây hại dạ dày
Để hạn chế tác hại của một số loại thuốc trên đường tiêu hóa, phải uống thuốc lúc no
Thuốc gây viêm loét, xuất huyết dạ dày
Có nhiều loại thuốc có thể gây tai biến ở dạ dày nếu ta sử dụng không đúng, đáng ngại hơn cả là các hormon vỏ thượng thận loại corticoid (có rất nhiều loại thuốc có corticoid mang những tên và biệt dược khác nhau) và các thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm không steroid (viết tắt là NSAID) như: aspirin, diclofenac, indomethacin, piroxicam... 
Trên thực tế, các thuốc NSAID được dùng rất phổ biến. Đây cũng là những thuốc được quảng cáo khắp nơi và có mặt rộng rãi ở các nhà thuốc... nên người dân có thể tự ý mua về dùng. Một trong những tác dụng phụ thường gặp do nhóm thuốc này gây ra là loét dạ dày - tá tràng, chảy máu dạ dày. Các thuốc corticoid có thể gây thủng dạ dày. 
Các NSAID đều có đặc tính chung là các dẫn chất acid có độ tan kém. Các dẫn chất này khi ở trong môi trường acid của dạ dày lại rất khó tan, sẽ kết tụ thành từng đám trong dạ dày, tinh thể acid trong dạ dày sẽ kích thích trực tiếp gây loét.
Một số thuốc giảm đau dễ gây viêm loét và xuất huyết dạ dày
Aspirin: Đây là thuốc hay dùng nhất trong nhóm dẫn xuất của acid salicylic. Aspirin có tác dụng giảm đau tốt nên được nhiều người tín nhiệm để uống khi bị sốt cao, nhức đầu, đau răng, đau người, thấp khớp cấp và mạn. 
Ngoài tác dụng hạ sốt và giảm đau, chống viêm còn có tác dụng chống kết tập tiểu cầu, vì vậy thuốc làm giảm quá trình đông máu. Tuy nhiên, đây cũng là thuốc nguy cơ rất cao gây viêm loét dạ dày tá tràng. Lạm dụng thuốc có thể gây xuất huyết dạ dày, thậm chí thủng dạ dày.
Ibuprofen: Có trong thành phần của nhiều loại thuốc giảm đau như alaxan, antidol và thường được kết hợp với paracetamol (thuộc nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt) có thể giảm cơn đau nhanh chóng do ức chế sự tổng hợp hay phóng thích prostaglandin. 
Tuy nhiên, thuốc thường gây ra tác dụng phụ về đường tiêu hóa. Có tới 5 - 15% người bệnh dùng ibuprofen gặp hiện tượng: chướng bụng, đau bụng, buồn nôn, nôn, nặng hơn là loét dạ dày tiến triển, chảy máu dạ dày, ruột...
Diclofenac (voltaren, diclofen): Là thuốc giảm đau, chống viêm thường dùng để điều trị các chứng viêm đa khớp, thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống, đau lưng... Đây cũng là một trong những thuốc gây loét dạ dày - tá tràng - ruột khá nguy hiểm nếu lạm dụng thuốc.
Indomethacin: Có tác dụng chống viêm, giảm đau, dùng để điều trị đau lưng, viêm dây thần kinh, viêm khớp mạn tính... Lạm dụng thuốc có thể gây viêm loét dạ dày - tá tràng, ruột, rối loạn đông máu.
Các thuốc meloxicam (mobic, M-cam, camrox); pirocicam (fendene); tenocicam (ticoltil) được dùng trong điều trị viêm xương khớp, thoái hóa khớp, viêm cột sống cứng khớp. Tuy phản ứng có hại gây loét và xuất huyết đường tiêu hóa ít gặp hơn nhưng vẫn là nhóm thuốc có nguy cơ cao gây chảy máu đường tiêu hóa nếu bị lạm dụng, dùng liều cao kéo dài.
Hạn chế bằng cách nào?
Để khắc phục tác dụng phụ gây loét đường tiêu hóa, các nhà sản xuất đã bào chế ra dạng đặc biệt, đó là viên bao tan trong ruột. Ví dụ như viên aspirin pH8 chẳng hạn. Với dạng bào chế này, thuốc không tan trong dạ dày mà tan ở ruột. 
Vì vậy sẽ làm giảm tác dụng phụ, tuy nhiên thuốc vẫn gây loét theo cơ chế làm giảm chất nhầy. Ngoài ra, dạng viên sủi hay gói bột hòa tan sẽ giúp thuốc được phân tán đều mà không tích tụ thành đám trong dạ dày giúp hạn chế cơ chế loét trực tiếp.
Để tránh những rối loạn về tiêu hóa, nên uống thuốc vào lúc no, sau khi ăn và uống với một cốc nước (khoảng 200 - 250ml). Cần đặc biệt chú ý đây là loại thuốc thường dùng để điều trị đau cấp tính, chỉ nên dùng trong thời gian ngắn mà không nên kéo dài. Không tự ý dùng thuốc này nếu không có chỉ định. Nếu bị khó chịu ở dạ dày, nên uống thuốc cùng với thức ăn hoặc ngay sau ăn.
Theo DS Thanh Hoài - Sức khỏe và đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Nguy cơ do phơi nhiễm valproat trong thai kỳ

Việc sử dụng valproat đơn trị liệu hoặc đa trị liệu đều có liên quan tới một số bất thường trong thai kỳ.

Các dữ liệu hiện có cho thấy nguy cơ dị dạng bẩm sinh khi sử dụng phác đồ đa trị liệu trong đó có thuốc chứa valproat lớn hơn so với đơn trị liệu.
Dị dạng bẩm sinh: các dữ liệu thu được từ một nghiên cứu gộp (bao gồm từ nguồn dữ liệu hồ sơ bệnh án và từ các nghiên cứu thuần tập) đã chỉ ra rằng, 10,73% số trẻ có mẹ mắc bệnh động kinh sử dụng valproat đơn trị liệu trong thai kỳ bị dị dạng bẩm sinh (khoảng tin cậy 95%). 
Nguy cơ bị dị tật nặng lớn hơn so với quần thể bình thường (với tỉ lệ dị tật chỉ chiếm từ 2 - 3%). Nguy cơ này phụ thuộc liều nhưng liều dưới ngưỡng vẫn chưa chứng minh được là không gây hại.
Có sự tăng tỉ lệ dị tật thai nhi cả nhẹ và nặng khi người mẹ dùng valproat trong thời gian mang thai. Loại dị dạng thường gặp nhất là dị tật ống thần kinh, biến dạng mặt, hở hàm ếch, hẹp hộp sọ, dị tật tim mạch, thận và niệu sinh dục, dị tật ở chi (bao gồm bất sản xương quay hai bên) và đa dị dạng nhiều hệ cơ quan khác trên cơ thể.
Rối loạn phát triển: việc phơi nhiễm với valproat có thể dẫn tới tác dụng bất lợi lên sự phát triển tâm thần và thể chất của trẻ bị phơi nhiễm. Nguy cơ này phụ thuộc liều nhưng liều dưới ngưỡng vẫn không loại trừ được nguy cơ. 
Khoảng thời gian chính xác trong thai kỳ bị ảnh hưởng bởi nguy cơ này vẫn còn chưa được xác định chắc chắn và khả năng nguy cơ xảy ra trong suốt thai kỳ không thể loại trừ.
Các nghiên cứu trên trẻ ở độ tuổi mẫu giáo từng bị phơi nhiễm valproat trong tử cung người mẹ khi mang thai đã chỉ ra rằng, 30 - 40% số trẻ bị chậm phát triển trong thời kỳ đầu như chậm nói và chậm biết đi, khả năng nhận thức chậm, khả năng ngôn ngữ (đọc và hiểu) nghèo nàn, có vấn đề về trí nhớ.
Chỉ số thông minh IQ được đo trên đối tượng trẻ em ở độ tuổi đi học (6 tuổi) đã từng bị phơi nhiễm valproat khi mẹ mang thai thấp hơn trung bình 7 - 10 điểm so với nhóm trẻ từng bị phơi nhiễm do thuốc chống động kinh khác. 
Trẻ bị phơi nhiễm valproat trong tử cung người mẹ khi mang thai có nguy cơ gây tự kỷ tăng khoảng 3 lần và tự kỷ thời niên thiếu tăng khoảng 5 lần so với quần thể thông thường.
Các trường hợp hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh được báo cáo ở mẹ đã dùng valproat 3 tháng cuối của thai kỳ. Các trường hợp thiểu năng tuyến giáp cũng được ghi nhận ở mẹ đã từng sử dụng valproat trong thai kỳ. Hội chứng cai thuốc (kích động, vật vã, kích thích quá mức, lo sợ, tăng động, rối loạn trương lực cơ, run cơ, rối loạn ăn uống) có thể xảy ra trên trẻ sơ sinh có mẹ từng sử dụng valproat trong 3 tháng cuối thai kỳ.
Valproat được bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ từ 1 - 10% so với nồng độ trong huyết tương của người mẹ. Các rối loạn về máu cũng được báo cáo ở trẻ có mẹ đang điều trị bằng valproat. Quyết định ngừng cho trẻ bú sữa mẹ hay ngừng điều trị bằng valproat cần được cân nhắc dựa trên lợi ích của việc bú sữa mẹ cho trẻ và lợi ích của việc điều trị cho mẹ.
Mất kinh nguyệt, buồng trứng đa nang và tăng nồng độ testosteron trong máu ở phụ nữ sử dụng valproat đã được báo cáo. Sử dụng valproat có thể dẫn tới suy giảm khả năng sinh sản ở nam giới. Tình trạng rối loạn sinh sản này có thể được hồi phục sau khi ngừng điều trị bằng valproat.
Trên đây là một số thông tin cập nhật về thuốc chứa valproat, các bác sĩ, người bệnh cần nắm được để tránh những hậu quả do thuốc gây ra.
Theo BS Bảo Thư - Sức khỏe và Đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Ích lợi của thuốc súc họng

Thuốc súc họng là loại thuốc được bào chế ở dạng dung dịch hoặc bột pha dung dịch để sử dụng cho các bệnh lý vùng miệng họng bằng cách súc họng đúng cách.

Hoạt chất trong sản phẩm thường là các chất tan trong nước, có hoạt tính kháng sinh hoặc sát khuẩn sẽ tác dụng tại chỗ như các thuốc dùng ngoài.
Các dung dịch để súc họng thường được bào chế sao cho hạn chế đến mức thấp nhất mùi vị khó chịu của dược chất và có hướng dẫn sử dụng chu đáo để đạt hiệu quả cao mà không cần phải dùng thuốc uống.
Thuốc súc họng có tác dụng rất tốt trong các bệnh lý nhiễm khuẩn tại chỗ vùng mũi họng, răng miệng, loại bỏ mảng bám vi khuẩn, khử mùi hôi do các vi khuẩn gây ra, chăm sóc vùng họng trước và sau phẫu thuật. 
Trong nhiều trường hợp bị viêm họng, không cần thiết phải sử dụng đến các loại thuốc uống kháng sinh rất lãng phí và sai lầm vì không những không có tác dụng với virut, mà còn làm cho thuốc kháng sinh bị đề kháng. Nếu sử dụng thuốc súc họng đúng cách, người bệnh sẽ nhanh khỏi mà hiệu quả chữa bệnh lại kinh tế.
Ích lợi của thuốc súc họng
Súc họng hàng ngày mang lại hiệu quả cho việc điều trị viêm họng
Trong họng có rất nhiều loại vi khuẩn thường xuyên sinh sống. Khi cơ thể khỏe mạnh, môi trường niêm mạc họng ổn định thì những vi khuẩn này không gây bệnh. Nhưng khi cơ thể suy yếu hoặc pH vùng này thay đổi, chúng sẽ gây bệnh hoặc tiếp nhận vi khuẩn có hại từ môi trường bên ngoài. 
Bệnh lý vùng họng chủ yếu là bệnh lý của hệ thống niêm mạc. Chính vì thế, các thuốc điều trị tại chỗ, trong đó có thuốc súc miệng họng, có hiệu quả cao. Nhiều người thường bị đau họng, khó nuốt, rát, khô họng và khàn giọng là các triệu chứng của bệnh viêm họng và thường vội vàng dùng ngay thuốc kháng sinh. 
Tuy nhiên, có trên 70 - 80% các trường hợp viêm họng ở người lớn là do virut. Kháng sinh không diệt được virut nên trong đa số các trường hợp viêm họng, việc sử dụng thuốc kháng sinh trong 3 - 5 ngày đầu là không cần thiết.
Theo DS Nga Anh - Sức khỏe và Đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

6 sai lầm phổ biến khi dùng thuốc kháng sinh

Thuốc kháng sinh có thể chữa khỏi cảm lạnh và cúm
Không phải như thế. Thuốc kháng sinh chỉ chống lại các lây nhiễm do vi khuẩn, chứ không chống lại các loại virus gây bệnh cảm lạnh, cúm và nhất là viêm họng, cùng nhiều loại viêm nhiễm tai, xoang khác.
kháng sinh, sai lầm khi sử dụng thuốc
Thuốc kháng sinh có rất ít tác dụng phụ
Hầu như cứ 5 trường hợp bệnh nhân phải vào phòng cấp cứu thì lại có một trường hợp do các tác dụng phụ của thuốc kháng sinh. Với trẻ nhỏ, tác dụng phụ của thuốc kháng sinh là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến việc phải đi cấp cứu. 
Những tác dụng phụ của thuốc bao gồm tiêu chảy, nhiễm trùng nấm men, và trong một số trường hợp hiếm hoi, còn bị tổn thương thần kinh và các phản ứng dị ứng như phát ban, sưng mặt hoặc cổ họng, các vấn đề về hô hấp.
Ngoài ra, các loại thuốc kháng sinh có thể tiêu diệt cả vi khuẩn tốt, tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng, trong đó có C. difficile. Ít nhất một năm có 250.000 người bị nhiễm virus C. Difficile do liên quan đến việc dùng thuốc kháng sinh, và có 14.000 người tử vong.
Một liều kháng sinh đầy đủ kéo dài ít nhất 1 tuần
Không phải lúc nào cũng thế. Với một số loại bệnh, chỉ cần một liều thuốc ngắn hơn, chẳng hạn như bệnh về đường tiết niệu, tai hay viêm xoang. Vì thế, hãy hỏi bác sỹ về liều thuốc kháng sinh thấp nhất và ngắn ngày nhất, đủ để điều trị căn bệnh của bạn.
Sử dụng thuốc còn thừa lại từ trước cũng không sao
Không phải. Nếu bạn dùng thuốc còn thừa từ lần bệnh trước, phần thuốc thừa lại này có thể không phải là liều thuốc đúng cho căn bệnh hiện tại của bạn. Sử dụng thuốc thừa lại này có thể làm tăng các vi khuẩn có hại. Tốt nhất, hãy vứt bỏ hết thuốc còn thừa đi.
Tất cả các loại bệnh nhiễm khuẩn đều phải dùng thuốc
Một số loại bệnh nhiễm khuẩn có thể tự khỏi. Hãy hỏi bác sỹ xem bạn có nên uống thuốc không hay chờ bệnh tự khỏi.
Thuốc kháng sinh càng diệt được nhiều vi khuẩn càng tốt
Sai hoàn toàn. Các loại thuốc kháng sinh phổ rộng, như ceftriaxone, ciprofloxacin và levofloxacin, nên dành riêng để điều trị các bệnh nhiễm trùng khó chữa.


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨNHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons