Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

Vitamin E có thể gây ung thư tuyến tiền liệt, loãng xương?

Vitamin E là chất chống ôxy hóa, có thể bảo vệ cơ thể khỏi phản ứng có hại của các gốc tự do. Do vậy, vitamin E được cho rằng có tác dụng chống lão hóa và cải thiện sức khỏe. 
Vitamin E cũng góp phần điều trị và dự phòng một số bệnh lý tim mạch, làm đẹp cho da và tóc,... Vitamin E cũng đã chứng tỏ có tác dụng trong điều trị chứng bốc hỏa, khô âm đạo ở phụ nữ mãn kinh.
Tuy nhiên, vitamin E cũng không phải là vô hại. Đã có cảnh báo về tác dụng có hại của vitamin E có thể tăng nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Một nghiên cứu đánh giá nếu đàn ông dùng hàng ngày 400 IU vitamin E liên tục trong thời gian dài thì có nguy cơ tăng ung thư tiền liệt tuyến lên 17%. 
Hiện tại đã có đánh giá đúng hơn về mối liên hệ giữa vitamin E và ung thư tuyến tiền liệt. Đây là lý do để các bác sĩ cẩn trọng hơn trong việc kê đơn các loại thuốc thay thế. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh tuyến tiền liệt do sử dụng vitamin E.
Vitamin E có thể gây ung thư tuyến tiền liệt, loãng xương?​Lạm dụng vitamin E gia tăng nguy cơ loãng xương
Vitamin E trước đây từng được coi là một giải pháp có ích trong điều trị và dự phòng loãng xương ở phụ nữ, nhất là phụ nữ mãn kinh vì giá rẻ và ít có tác dụng phụ, có thể dùng khi bệnh nhân không có điều kiện sử dụng các thuốc chống loãng xương như biphosphonat. 
Thế nhưng ngày càng có những luận cứ hồ nghi về công dụng này của vitamin E. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa việc sử dụng vitamin E và loãng xương. Họ đã tiến hành đánh giá hiệu quả của alpha-tocopherol, là một dạng phổ biến nhất của vitamin E trong các loại thuốc bổ đang được hàng triệu người sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi cho chuột ăn một liều vitamin E tương tự như trong thuốc bổ thì xương chuột trở nên mỏng đi. 
Chuột bị loãng xương sau 8 tuần dùng chế độ ăn có bổ sung vitamin E so với chuột ăn theo chế độ ăn bình thường hàng ngày. Nhiều động vật khác giảm khoảng 20% mật độ xương sau khi dùng bổ sung vitamin E. 
Cơ sở để giải thích điều này là, vitamin E kích thích quá mức quá trình hủy xương của các tế bào hủy cốt bào. Hủy cốt bào bình thường hoạt động nhịp nhàng với các tế bào tạo xương để duy trì sức mạnh của xương. Tuy nhiên, nếu hủy cốt bào hoạt động quá mức thì sẽ gây ra loãng xương.
Mặc dù chưa được nghiên cứu trên người, nhưng các nhà khoa học cũng khuyến cáo, không có gì phải bận tâm khi bạn tiếp nhận được nhiều vitamin E từ thức ăn hàng ngày, nhưng nếu dùng liều cao vitamin E qua viên bổ sung hàng ngày thì đó là điều đáng lo ngại. 
Do vậy cần những nghiên cứu lớn hơn để xác định các mức độ bổ sung vitamin E ở liều lượng nào có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Dù sao các nghiên cứu trên cũng là lời cảnh tỉnh cho những ai thường sử dụng vitamin bừa bãi mà chẳng cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc.
Theo DS Hà Thanh - Sức khỏe và Đời sống



Người bệnh tim thận trọng khi dùng tôi

Procainamide hydrochloride (PA) tôi là loại thuốc chống loạn nhịp tim. Tôi được chỉ định dùng trong điều trị loạn nhịp tâm thất, đặc biệt những trường hợp loạn nhịp thất đã kháng lidocain hoặc sau nhồi máu cơ tim. 
PA cũng được dùng duy trì nhịp xoang sau khi khử rung ở rung nhĩ, dùng phòng loạn nhịp thất và trên thất. PA thường dùng để điều trị ngắn hạn loạn nhịp nặng hoặc loạn nhịp triệu chứng, không dùng PA điều trị loạn nhịp nhẹ. 
Tránh dùng PA để điều trị ngoại tâm thu thất không triệu chứng. Cũng như các thuốc chống loạn nhịp khác, khởi đầu điều trị dùng PA cần phải thực hiện tại bệnh viện. Vì PA có thể gây ra những rối loạn nặng về máu (0,5%) nên chỉ dùng PA khi có chỉ dẫn của bác sĩ.
Người bệnh tim thận trọng khi dùng tôi
Thận trọng khi dùng PA cho bệnh nhân sốc tim, suy cơ tim, nhịp tim chậm...
Tuyệt đối không dùng tôi cho bệnh nhân blốc tim hoàn toàn, blốc nhĩ - thất độ hai và các týp bán chẹn, người mẫn cảm với novocain hay các thuốc tê có cấu tạo este tuy không chắc có nhạy cảm chéo với PA, nhưng thầy thuốc phải chú ý và không dùng PA khi thuốc gây viêm da dị ứng cấp, hen hay các triệu chứng phản vệ. Bệnh nhân xoắn đỉnh, luput ban đỏ toàn thân cũng không được dùng tôi...
Thận trọng dùng tôi cho bệnh nhân sốc tim, suy cơ tim, huyết áp thấp, nhịp tim chậm, bệnh nhân có rối loạn chất điện giải, nhược cơ, hen phế quản... Phụ nữ mang thai và cho con bú khi dùng tôi phải có chỉ định của bác sĩ.
Khi dùng tôi để điều trị, bạn có thể gặp một số tác dụng phụ: triệu chứng giống luput ban đỏ kèm theo đau ở khớp và cơ, loạn nhịp tim, hạ huyết áp, yếu cơ, chán ăn buồn nôn, nôn, ngoại ban, ngứa.
Đối với những phản ứng quá mẫn giống như những triệu chứng luput ban đỏ, kể cả những biến đổi về máu, có thể gặp đặc biệt khi điều trị thời gian kéo dài. Những phản ứng này thường nhất thời và tự khỏi. Tuy nhiên, việc điều trị cần được theo dõi chặt chẽ chức năng tim vì dùng PA có nguy cơ gây loạn nhịp tim.
Cần tuyệt đối tuân thủ hướng dẫn sử dụng của thầy thuốc để tránh những tương tác thuốc có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của bạn.
Theo Nguyễn Châu - Sức khỏe và Đời sống




Phối hợp của amoxicillin: Những lưu ý khi sử dụng

Amoxicillin là một loại kháng sinh rất quen thuộc, để tăng tính hiệu quả của thuốc ngày nay người ta đã phối hợp amoxicillin với các thành phần khác. Một trong những dạng phối hợp khá quen thuộc với người dùng thuốc đó là phối hợp giữa amoxicillin với acid clavulanic.
Acid clavulanic là một chất kháng betalactamase khi phối hợp với kháng sinh amoxicillin đã làm tăng tính kháng khuẩn và giảm sự đề kháng thuốc. Điều này giúp cho amoxicillin, vốn là một kháng sinh đã được dùng từ lâu và bị vi khuẩn đề kháng với tỉ lệ khá cao lấy lại được chỗ đứng trong điều trị. 
Tuy nhiên, sự phối hợp đó cùng rất nhiều dạng sử dụng đã làm cho giá của dòng sản phẩm này có giá thành đắt hơn nhiều so với amoxicillin đơn độc.
Phối hợp của amoxicillin Những lưu ý khi sử dụng
​Khi dùng thuốc, nếu thấy cơ thể có các phản ứng khác lạ, cần thông báo ngay cho bác sĩ
Nhiều dạng bào chế với tỉ lệ khác nhau
Phối hợp giữa amoxicillin với acid clavulanic hiện có trên thị trường khá đa dạng về chủng loại và mẫu mã với các hàm lượng phối hợp khác nhau bao gồm cả thuốc tiêm, thuốc uống. 
Trong đó, dạng uống có các loại viên nén bao film và các dạng gói bột pha hỗn dịch uống. Tùy theo đối tượng sử dụng mà hàm lượng của sản phẩm khác nhau.
Đây là kháng sinh phổ biến được chỉ định dùng khá nhiều, tuy nhiên đây là loại kháng sinh được bán theo đơn của bác sĩ để điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và dưới, nhiễm khuẩn tiết niệu - sinh dục, da và mô mềm, nhiễm khuẩn xương và khớp, các dạng khác như sẩy thai nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn sản khoa, nhiễm khuẩn ổ bụng. Nó cũng là thuốc hay dùng để dự phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật.
Trị các nhiễm khuẩn cho nhiều đối tượng sử dụng
Hoạt tính kháng khuẩn của amoxicilin/acid clavulanic và dạng muối kali của nó có tác dụng đến nhiều chủng vi khuẩn nên được áp dụng rất đa dạng trong điều trị nhiễm khuẩn. 
Vì vậy, đây cũng là dạng thuốc được dùng cho nhiều đối tượng từ nhũ nhi, trẻ em, người lớn với nhiều bệnh khác nhau. Thuốc này hiện nay vẫn là sự lựa chọn đầu tiên cho các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (bao gồm tai mũi họng) như viêm amidan, viêm xoang, viêm tai giữa, nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới như viêm phế quản cấp và mạn, viêm phổi thùy và viêm phế quản - phổi, phù phổi, áp-xe phổi. 
Nhiễm khuẩn niệu sinh dục như viêm bàng quang, viêm niệu đạo, viêm thận - bể thận, sẩy - phá thai nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn sản, viêm khung chậu, bệnh hạ cam, bệnh lậu. Nhiễm khuẩn da và mô mềm như nhọt, áp-xe, viêm mô tế bào, nhiễm khuẩn vết thương, nhiễm khuẩn ổ bụng. Nhiễm khuẩn xương và khớp như viêm xương tủy. 
Nhiễm khuẩn răng miệng như áp-xe ổ răng. Đối với mỗi dạng nhiễm khuẩn nêu trên, thầy thuốc sẽ lựa chọn dạng bào chế cho phù hợp. Thuốc này dùng theo đường uống nên trong vòng 72 giờ cơ thể sẽ thải loại hết những thành phần của thuốc ra khỏi cơ thể.
Lưu ý cách dùng, liều lượng và theo dõi phản ứng có hại
Nên nhớ là liều dùng được tính theo lượng amoxicillin chứ không phải là acid clavulanic hay dạng muối kali của nó. Cần sử dụng thuốc thận trọng trong trường hợp bệnh nhân bị suy thận, tổn thương thận, có hồng ban kèm theo sốt tăng bạch cầu bạt ở bệnh đang sử dụng amoxicillin. 
Nên tránh sử dụng phối hợp amoxicillin với clavulanic nếu nghi ngờ có sốt tăng bạch cầu hạt. Trong trường hợp nghi ngờ xin hỏi ngay ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ.
Cần chú ý theo dõi phản ứng có hại (ADR) và thông tin thuốc cho thầy thuốc nếu thấy các phản ứng khác lạ của cơ thể người bệnh. 
Vì thuốc là kháng sinh nhóm betalactam nên nguy cơ xảy ra dị ứng từ nhẹ đến nặng hoặc trầm trọng là sốc phản vệ với tỉ lệ khá cao. Tuyệt đối không dùng cho người có tiền sử sốc thuốc hoặc mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Theo ThS Quỳnh Nga  - Sức khỏe và Đời sống


13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai

Chảy máu bất thường (thường là những giọt nhỏ kéo dài sau kì kinh nguyệt mà chị em thường gọi là rong kinh) là điều hết sức bình thường khi bạn mới uống thuốc tránh thai. 

Tuy nhiên, điều này cũng khiến nhiều chị em cảm thấy không thoải mái. Hầu hết chị em dùng thuốc tránh thai sẽ mất khoảng 6 tháng để cơ thể thích ứng với thuốc và trong thời gian này, cơ thể có thể phản ứng lại với các triệu chứng như: chóng mặt, buồn nôn, chảy máu âm đạo, rối loạn kinh nguyệt... 

Trong những phản ứng trên, việc rối loạn kinh nguyệt dẫn đến chảy máu âm đạo bất thường là điều khiến nhiều chị em cảm thấy khó chịu nhất. Để hạn chế phản ứng này, chị em có thể áp dụng những biện pháp như sau đây:

1. Bỏ hút thuốc hoặc giảm số điếu thuốc bạn hút mỗi ngày (nếu bạn là người hút thuốc).

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 1
2. Hãy hỏi bác sĩ của bạn nếu bạn đang dùng một số loại thuốc khác như thuốc kháng sinh, thuốc chống trầm cảm... Các loại thuốc này có thể khiến cơ thể phản ứng lại với việc chuyển hóa một số hormone khiến tình trạng chảy máu âm đạo càng trầm trọng hơn.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 2
3. Hãy uống thuốc tránh thai vào buổi tối hoặc đêm để tránh phản ứng với các loại thực phẩm bạn ăn trong ngày.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 3
4. Tiêu thụ thêm vitamin C để tăng khả năng hấp thụ estrogen của cơ thể.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 4
5. Tránh căng thẳng. Căng thẳng giải phóng cortisol và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự cân bằng hormone trong cơ thể. Tập thể dục, thiền, yoga và các kỹ thuật thở sâu là một số cách bạn có thể làm giảm mức độ căng thẳng mà bạn có thể thử.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 5
6. Ngưng dùng aspirin vì thuốc này có thể kéo dài thời gian chảy máu âm đạo.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 6
7. Duy trì trọng lượng khỏe mạnh và ăn một chế độ ăn uống nhiều trái cây, rau quả. Tăng cân hoặc giảm cân có thể ảnh hưởng đến sự cân bằng hormone trong cơ thể, thậm chí dẫn đến rối loạn dinh dưỡng.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 7
8. Tránh hoặc giảm mức tiêu thụ của caffeine.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 8
9. Kiểm tra pap smears, khám cổ tử cung thường xuyên. Chảy máu có thể là triệu chứng của tình trạng sức khỏe nghiêm trọng, chẳng hạn như ung thư cổ tử cung hoặc thậm chí là một bệnh lây truyền qua đường tình dục.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 9
10. Tránh bệnh cúm dạ dày. Bệnh này sẽ khiến thuốc được xử lý nhanh hơn trong dạ dày khiến bạn dễ bị nôn và không tiêu hóa hết thuốc, gây các ảnh hưởng khác.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 10
11. Đi khám nếu chảy máu âm đạo kéo dài hơn 6 tháng hoặc nếu chuyển sang chảy máu nặng với chuột rút. trong trường hợp cần thiết, bác sĩ có thể kê loại thuốc khác cho bạn hoặc tư vấn bạn chuyển sang dùng biện pháp tránh thai khác.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 11
12. Uống thuốc cùng một thời điểm trong ngày. Uống thuốc lệch nhau khoảng 4 giờ có thể dẫn tới chảy máu âm đạo bất thường.

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 12
13. Uống hết thuốc. Cho dù uống thiếu 1 viên thuốc cũng có thể làm rối loạn hormone của bạn và gây chảy máu âm đạo bất thường. 

13 điều cần làm để ngăn ngừa "rong kinh" khi uống thuốc tránh thai 13




7 sai lầm với thuốc giảm đau

1. Dùng quá liều
Lạm dụng các loại thuốc nói chung và thuốc giảm đau nói riêng sẽ khiến bạn phải gánh chịu những hệ lụy khôn lường. Thật sai lầm nếu bạn cho rằng dùng càng nhiều thuốc giảm đau thì sẽ giúp "đánh đuổi" cách cơn đau một cách tuyệt đối và dễ dàng hơn. Trái lại, dùng nhiều thuốc giảm đau sẽ dẫn đến tình trạng lờn thuốc làm mất tác dụng của nó và còn gây hại đến chức năng gan.
2. Tự ý mua thuốc
Trên thị trường có rất nhiều những loại thuốc giảm đau khác nhau, mỗi loại có những công dụng cũng như hệ lụy nhất định. Vậy nên phải tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của bạn và mức độ đau đớn của bạn ra sao để quyết định loại thuốc giảm đau nên dùng. 
Hơn nữa cũng cần lưu ý đến loại thuốc bạn đang sử dụng cùng thời điểm để tránh xảy ra tình trạng tương tác thuốc. Vậy nên việc dùng thuốc giảm đau không thể tùy tiện sử dụng mà nhất thiết phải có sự chỉ định của bác sĩ.
3. Uống thuốc bằng loại thức uống bạn thích
Có những người do sợ vị đắng của thuốc mà uống thuốc bằng nước ngọt, đồ uống có chất kích thích, có chứa càphein... tuy nhiên điều này rất phản khoa học. 
Trên thực tế đã có những trường hợp dùng những loại đồ uống khác nhau mà không phải là nước lọc uống thuốc giảm đau ibuprofen gây nên tình trạng chảy máu dạ dày và tổn thương gan. Các bác sĩ khuyến cáo bạn chỉ nên uống thuốc nói chung và thuốc giảm đau nói riêng bằng nước lọc thông thường.
4. Uống thuốc khi lái xe
Các minh chứng cho rằng thuốc giảm đau có thể gây nên tình trạng ngủ gà, mơ màng. Mặc dù mức độ của nó ở mỗi người là khác nhau, tuy nhiên để đảm bảo an toàn, giữ cho tinh thần được thư giãn thoải mái bạn không nên sử dụng thuốc giảm đau khi lái xe.
5. Không quan tâm đến tương tác thuốc
Bạn đọc toa thuốc nhưng chỉ chú ý đến cách dùng và công dụng của nó mà đã sai lầm khi bỏ quan tương tác của thuốc với các loại thuốc khác.
Theo các chuyên gia thì có khá nhiều loại thuốc có thể gây tương tác với thuốc giảm đau và ngược lại. 
Ví như thuốc aspirin có thể gây ảnh hưởng đến quá trình phát huy tác dụng của thuốc tiểu đường. Bởi vậy nên trước khi kê đơn thuốc giảm đau cho bạn bác sĩ sẽ hỏi bạn câu hỏi: hiện tại bạn đang sử dụng những loại thuốc nào?.
6. Dùng chung thuốc với người khác
Việc kê đơn cho bạn loại thuốc giảm đau nào phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe cũng như mức độ bị đau của mỗi người. Chính vì thế, không thể dùng chung lẫn lộn loại thuốc giảm đau dành cho người này đối với người khác.
7. Bẻ thuốc
Không nên tự ý bẻ thuốc hay chia nhỏ thuốc thành nhiều phần trước khi dùng nếu không có chỉ dẫn cụ thể của bác sĩ. Điều này sẽ khiến thuốc bị mất tác dụng và thậm chí gây nên tác dụng "phản chủ".

Theo Thu Hà - Sức khỏe gia đìn



Các loại thuốc giúp điều chỉnh cholesterol

Khi lượng cholesterol trong cơ thể vượt quá mức "vừa đủ xài" cũng là lúc bạn cần cầu viện đến các loại thuốc hỗ trợ này.





Ở một hàm lượng vừa đủ, cholesterol (một dạng chất béo) rất cần thiết cho các quá trình chuyển hóa trong cơ thể, sản xuất màng tế bào, hormone, axit mật để tiêu thụ mỡ… Nhưng quá nhiều cholesterol thì đó thực sự là một tai họa (khởi nguồn cho các vấn đề về tim mạch như nhồi máu cơ tim và đột quỵ).
Và, nếu lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống khoa học, cùng chế độ luyện tập hợp lý trong vòng 6 tháng vẫn không giúp bạn cải thiện tình hình; nghĩa là đã đến lúc bạn cần đến sự hỗ trợ của thuốc.
Điểm mặt những loại thuốc hỗ trợ đắc lực làm hạ cholesterol
Statins: Nhóm thuốc này có tác dụng làm chậm tiến trình sản xuất cholesterol trong cơ thể thông qua việc ức chế enzyme HMG-CoA reductase (đóng vai trò trung tâm trong việc sản xuất cholesterol ở gan). 
Nhờ khả năng giảm cholestrol xấu (LDL), statins giúp giảm 60% các bệnh liên quan đến tim mạch như nhồi máu cơ tim, tử vong đột ngột; giảm 17% nguy cơ đột quỵ sau khi điều trị lâu dài. Tuy nhiên, statin ít hiệu quả hơn so với fibrates và niacine trong việc giảm chất béo trung tính và tăng cholestrol tốt (HDL).
Resins: Resins có khả năng "bắt giữ" axit mật, khiến cho cơ thể thiếu hụt loại acid này và bắt buộc phải sử dụng đến cholesterol để tổng hợp thêm acid mật cho hệ tiêu hóa. Cơ chế này cũng sẽ giúp giảm hàm lượng cholesterol xấu trong cơ thể.
Niacin (còn gọi là vitamin B3, acid nicotinic hay vitamin PP: Với liều lượng 1000 và 2000mg, 2-3 lần/ngày, niacin giảm acid béo tự do trong máu, và như vậy, làm giảm tiết LDL và cholesterol ở gan. Niacin cũng làm tăng hàm lượng cholesterol tốt trong máu.
Tuy là một loại vitamin nhưng bạn vẫn cần có chỉ định của bác sĩ khi sử dụng. Vì nếu dùng thuốc ở liều cao có thể gây tiêu chảy hoặc táo bón, đau bụng, đầy hơi, ói mửa, đau đầu, xây xẩm, buồn ngủ, đau yếu cơ, da nóng đỏ, rối loạn giấc ngủ….
Fibrate: Thuốc này làm hạ cholesterol bằng cách làm giảm hàm lượng của các triglycerids trong cơ thể, đồng thời làm gia tăng hàm lượng chất cholesterol tốt. 
Fibrate còn làm giảm nồng độ chất béo trung tính, cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu có liên quan đến các bệnh thuộc hội chứng chuyển hóa như cao huyết áp và tiểu đường. Fibrate thường được kết hợp với stains.
Ezetimib: Đây là một loại thuốc tương đối mới, có tác dụng ức hế sự hấp thu cholesterol từ thức ăn qua niêm mạc ruột vào máu. Nếu uống cùng với bữa ăn sẽ tăng sự hấp thu đến 30%. Loại thuốc này đã được FDA Mỹ chấp thuận cho dùng đơn độc hoặc phối hợp với các statin để hạ cholesterol LDL và cholesterol toàn phần.
Tuy nhiên, khi dùng đơn độc, ezetimib có thể gây một số tác dụng phụ như: đau lưng, đau khớp. Khi phối hợp với các statin, sự phối hợp gây tác dụng phụ đau lưng, đau vùng thượng vị, có thể làm tăng men gan AST, ALT.
Hiểu về thuốc hỗ trợ cholesterol để dùng đúng
Đúng người, đúng lúc
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Thực tế là việc sử dụng thuốc để hạ cholesterol không phải là giải pháp cần thiết cho mọi đối tượng máu nhiễm mỡ. Thực tế con số cần dùng đến thuốc chỉ chiếm 1%, mà đa phần là những người mắc chứng mỡ máu cao do di truyền. Nếu cholesterol toàn phần không quá 330mg thì không đáng lo mắc bệnh tim.
Ngoài ra, chúng ta cũng không nên quá tập trung vào lượng cholesterol toàn phần mà quên đi rằng tỷ lệ cholesterol xấu (LDL) và cholesterol tốt (HDL) cũng đóng vai trò quyết định sức khỏe tim mạch của bạn. 
Nếu HDL chiếm tỷ lệ 24% so với cholesterol toàn phần thì bạn có thể yên tâm về sức khỏe tim mạch của mình, nếu dưới 10% rủi ro mắc bệnh tim sẽ cao. Ngược lại, nếu như lượng cholesterol toàn phần của bạn ở mức an toàn nhưng tỷ lệ LDL quá lớn thì vẫn ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch.
Phòng chống bệnh tim: hiệu quả đến đâu?
Khó có thể phủ nhận những lợi ích mà các loại thuốc hạ cholesterol mang lại trong việc điều trị bệnh tim mạch và ngăn ngừa tái phát đột quỵ.
Các số liệu nghiên cứu cho thấy, có sự giảm bớt 35% những trường hợp lên cơn đột quỵ lần thứ hai; và giảm 57% tỷ lệ tử vong trong số những người đã uống thuốc hạ cholesterol nói chung so với những người không uống.
Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Đức cũng cho biết: Việc ngừng dùng thuốc hạ cholesterol (phổ biến nhất là statin) một cách đột ngột khiến nguy cơ tử vong của bệnh nhân tăng lên 3 lần so với những bệnh nhân vẫn tiếp tục dùng thuốc.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào những bệnh nhân tim phải nằm viện chứ không đề cập đến hậu quả của việc ngừng dùng thuốc hạ cholesterol ở người khỏe mạnh.
Hiện nay, vẫn chưa có những bằng chứng rõ ràng cho việc sử dụng thuốc hạ cholesterol để phòng ngừa ở những người bình thường và những người có nguy cơ bệnh tim mạch thấp.
Chưa kể, một số tài liệu y học còn công bố những bằng chứng cho thấy các tác dụng phụ của nhóm thuốc statin (zocor, pravachol, mevacor, lescol, crestor) và lipitor thực ra nhiều hơn so với những những gì nhà sản xuất thông báo.
Bởi thế, các bác sĩ vẫn khuyến cáo bệnh nhân chỉ dùng thuốc khi các biện pháp điều chỉnh về chế độ ăn, lối sống, luyện tập tỏ ra không hiệu quả.
Hạn chế tác dụng phụ của thuốc

Một trong những tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc hạ cholesterol là khiến cho cơ thể giảm khả năng sản xuất CoQ10- một loại đồng enzyme rất cần thiết cho quá trình sản xuất năng lượng tế bào và trung hòa các gốc tự do gây bệnh. 

Sự thiếu hụt CoQ10 khiến cho cơ thể mệt mỏi, suy yếu cơ, đau nhức dẫn đến đau tim. Bởi thế, uống bổ sung CoQ10 khi sử dụng thuốc hạ cholesterol là điều cực kỳ cần thiết.
Theo Ngọc Thụy -  Sức khỏe gia đình





Mắc bệnh nguy hiểm do thiếu vitamin D

Vitamin D rất cần cho tất cả các cơ quan trong cơ thể. Vitamin D giúp điều hòa sự chuyển hóa canxi và phospho, làm tăng hấp thu và đồng hóa canxi tới 50-80% cần thiết cho quá trình cốt hóa. Nhưng hầu hết mọi người thường không chú ý tới việc bổ sung đủ loại vitamin này.
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nồng độ vitamin D trong máu thấp có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, loãng xương, vẩy nến, viêm đường ruột... hoặc các loại ung thư khác nhau ở một thời điểm nào đó trong cuộc sống. 
Một nghiên cứu trên 13.000 người Mỹ tuổi trên 20 cho thấy, những người có nồng độ vitamin D thấp có nguy cơ tử vong tăng 26% so với những người có nồng độ vitamin D bình thường. 
Ngoài ra, những người có nồng độ vitamin D trong máu thấp sẽ có nguy cơ tổn thương não, tiền sản giật cao gấp đôi so với những người bổ sung đủ vitamin D đầy đủ.
Mắc bệnh nguy hiểm do thiếu vitamin D
Phơi nắng – một cách bổ sung vitamin D
Đặc biệt với phụ nữ, theo kết quả công bố của nhóm nghiên cứu Trường đại học Y khoa Salzburg và Vienna (Áo), phụ nữ thiếu vitamin D sẽ xuất hiện khối u ở ruột già. 
Tỉ lệ xuất hiện khối u ruột già ở phụ nữ có lượng vitamin D trong máu cao là 17,2%, trong khi ở những phụ nữ có lượng vitamin D trong máu thấp, tỉ lệ xuất hiện khối u ruột già lên đến 25%. 
Nhóm nghiên cứu còn nhận thấy, ở những phụ nữ được bổ sung vitamin D, tỉ lệ xuất hiện khối u ruột già rất thấp, chỉ là 3,8%. Ngược lại, nhóm không được bổ sung vitamin D trong chế độ ăn thì tỉ lệ xuất hiện khối u ruột già tăng lên đến 12,5%. 
Hơn nữa, phụ nữ được bổ sung vitamin D và canxi giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư gần 80%. Quan trọng hơn, nồng độ vitamin D trong máu càng cao, nguy cơ mắc bệnh ung thư càng thấp; và ngược lại, những người có nồng độ vitamin D thấp thì nguy cơ mắc bệnh ung thư tăng cao.
Các chuyên gia sức khỏe cũng khuyên rằng, nếu bổ sung đủ vitamin D theo liều lượng khuyến cáo (người trưởng thành cần được bổ sung khoảng 800 IU mỗi ngày) thì những nguy cơ mắc bệnh sẽ được giảm thiểu đáng kể. 
Vì vậy, để phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe, mọi người nên ý thức rõ việc bổ sung vitamin D qua thực phẩm (như bơ sữa, trứng, nước cam). Các loại cá có nhiều chất dầu như cá hồi, cá tuyết, cá thu, cá trích có lượng vitamin D cao hơn những cá khác. 
Nấm phơi khô cũng chứa vitamin D), cho da tiếp xúc với ánh nắng mặt trời (trước 8 giờ sáng) giúp cơ thể tổng hợp vitamin D.
Theo DS Trang Lê - Sức khỏe và Đời sống



 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons