Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Những sai lầm khi sử dụng thuốc

Để thuốc phát huy hiệu quả nhất trong điều trị bệnh thì cách dùng thuốc có vai trò quan trọng. Dùng thuốc tùy tiện, không theo hướng dẫn sử dụng dẫn đến tình trạng thuốc không phát huy hiệu quả mà còn gây hại cho cơ thể.
Sai lầm về thời gian dùng thuốc
Khi dùng bất cứ loại thuốc nào người bệnh cần hỏi kỹ bác sĩ về thời gian dùng thuốc: ngày chia mấy lần, uống trước hay sau bữa ăn, loại thuốc này không dùng chung cùng lúc với thuốc nào? và mỗi người cần tập thói quen đọc kỹ hướng dẫn sử dụng khi dùng thuốc. 
Không được tùy tiện thích uống thuốc lúc nào là uống. Nếu hướng dẫn sử dụng ghi “ngày uống 3 lần”, nghĩa là bạn nên chia đều thời gian trong 24 giờ, cứ 8 tiếng uống một lần. Nếu uống cả 3 lần vào ban ngày, nồng độ thuốc trong máu tăng cao, có thể gây nguy hiểm, trong khi buổi đêm lại không có thuốc. 
Nếu có hướng dẫn “uống trước khi ăn”, bạn cần dùng khi dạ dày còn trống. Nếu trong vòng 1 giờ trước khi uống thuốc mà vừa ăn một lô quà vặt thì vẫn là không đúng.
Những sai lầm khi sử dụng thuốc
​Người cao tuổi dễ mắc phải các sai lầm khi dùng thuốc
Sai lầm về cách uống thuốc
Nghiền, bẻ nhỏ thuốc: Đây là sai lầm thường gặp, đặc biệt khi dùng thuốc cho trẻ nhỏ. Có nhiều dạng thuốc viên không nên nhai hoặc nghiền, bẻ nhỏ. Việc làm này sẽ phá vỡ cấu trúc giải phóng, làm thay đổi dược động học của thuốc và có thể dẫn đến mất hoặc giảm hiệu quả điều trị hoặc xảy ra độc tính cho người dùng. 
Một số loại thuốc được bào chế dưới dạng tác dụng chậm, phóng thích dần vào cơ thể, nếu bạn nghiền nhỏ ra, thuốc sẽ cho tác dụng cấp tập một lần, gây nguy hiểm.
Với một số bệnh nhân đặc biệt (trẻ em, người mắc bệnh nuốt khó hay bệnh nhân có đặt ống thông dạ dày, người cao tuổi), rất khó khi phải uống nguyên viên thuốc. 
Vì vậy, bác sĩ điều trị thường lựa chọn đường dùng khác thay thế hoặc bất đắc dĩ phải dùng giải pháp nhai, nghiền hay bẻ nhỏ viên thuốc. Với những trường hợp này, nên hỏi bác sĩ xem loại thuốc đó có thể nghiền nhỏ hay không.
Uống thuốc thẳng từ chai: Thường gặp với dạng thuốc nước, sirô, dung dịch... Cách uống này dễ làm thuốc bị nhiễm khuẩn, nhanh biến chất, lại không thể kiểm soát chính xác liều lượng, dẫn đến không đạt hiệu quả điều trị hoặc quá liều.
Nuốt thuốc khô: Một số không dùng nước mà nuốt thuốc luôn. Thuốc có thể làm tổn thương thực quản. Mặt khác do không có đủ nước để làm tan, một số loại thuốc sẽ kết thành sỏi trong cơ thể.
Uống nhiều loại thuốc cùng lúc: Nhiều người phải sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc để trị bệnh. Việc sử dụng nhiều loại thuốc là cần thiết khi mà người bệnh mắc nhiều loại bệnh, nhưng việc uống các thuốc này thế nào, thuốc nào không nên uống với thuốc nào... lại là sai lầm mà ai cũng có thể mắc phải. 
Mỗi loại thuốc có một tính năng và công hiệu riêng, có những tính chất và phản ứng khác nhau, có tác dụng đối với các bộ phận trong cơ thể con người và thời gian tác dụng cũng khác nhau. Việc vơ một nắm các loại thuốc uống cùng lúc cho tiện sẽ không tốt. Làm như vậy, bạn sẽ khó tránh khỏi sự tương tác giữa các loại thuốc. 
Mặt khác, nếu uống nhiều loại thuốc cùng một lúc thì sẽ làm ảnh hưởng đến việc hấp thu, phân bố, trao đổi giữa các thuốc và sự đào thải thuốc ra ngoài cơ thể, cũng như sự kết hợp giữa các loại thuốc với nhau có thể gây những phản ứng cực kỳ nguy hiểm cho cơ thể. C
hẳng hạn như dùng cùng lúc thuốc thông mũi và thuốc huyết áp, đặc biệt thuốc thông mũi loại chứa pseudoephedrine làm co mạch, giúp giảm sưng và giảm chảy mũi. 
Tuy nhiên, loại thuốc này có thể làm co thắt các mạch máu trong cơ thể gây tăng huyết áp, chống lại thuốc trị huyết áp và nguy hiểm cho người có huyết áp cao. Vì vậy, nếu bắt buộc phải uống nhiều loại thuốc thì nhất định phải sắp xếp thời gian, số lần và cách kết hợp cho hợp lý. Uống mỗi một loại thuốc ít nhất phải cách nhau khoảng một giờ.
Những sai sót không ngờ tới
Nằm uống thuốc: Với tư thế này, thuốc sẽ dễ bị dính vào vách thực quản, không những giảm hiệu quả điều trị mà còn gây kích ứng thực quản, dẫn đến ho, viêm, thậm chí tổn thương vách thực quản. Bởi vậy, nên ngồi hoặc đứng khi uống thuốc.
Vận động ngay sau khi uống thuốc: Vừa uống thuốc xong đã tập thể thao hay tham gia vận động ngay là điều không nên làm. Thường phải sau 30-60 phút thì cơ quan tiêu hóa mới hấp thụ và thuốc mới phát huy tác dụng. 
Quá trình này cần có đủ lượng máu tham gia tuần hoàn. Việc vận động ngay sau khi dùng thuốc sẽ khiến các cơ quan nội tạng không được cung cấp đủ lượng máu cần thiết, làm giảm hiệu quả hấp thu thuốc.
Theo DS Thanh Hoài - Sức khỏe và Đời sống

Những nguy hại khi dùng thuốc ngủ

Đây là kết quả một nghiên cứu mới của Cục Lạm dụng chất và Dịch vụ sức khỏe tinh thần, Bộ Y tế và Dịch vụ nhân sinh Mỹ.
Báo cáo chỉ ra rằng số lượng bệnh nhân đi cấp cứu vì quá liều zolpidem - một thành phần hoạt tính có trong một số loại thuốc ngủ kê đơn - đã tăng gần gấp đôi từ giữa năm 2005 tới năm 2010. Phụ nữ chiếm 2/3 số người vào viện.
thuocngu-3614-1408938467.jpg
Ảnh: united-academics.
Chính xác thuốc ngủ nguy hiểm như thế nào? Theo BS Carl Bazil ở ĐH Colmbia, người đã nhấn mạnh rằng các thuốc kê đơn thường mạnh hơn các thuốc không kê đơn, đúng là thuốc ngủ có thể giúp bạn nhanh chóng chìm vào giấc ngủ nhưng chúng không phải là giải pháp lâu dài để giải quyết những rối loạn giấc ngủ và có thể gây nguy hiểm nếu sử dụng không đúng cách.
Một trong những mối nguy hiểm lớn nhất là tác động của thuốc ở phụ nữ mạnh hơn trên nam giới. Bazil giải thích: "Phụ nữ có xu hướng chuyển hóa thuốc ngủ chậm hơn nam giới nhưng nhiều người trong đó có cả bác sĩ không biết điều này". 
Năm 2013, Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ đã giảm liều khuyến cáo cho phụ nữ từ 10 mg xuống 5 mg. Nhiều bác sĩ vẫn kê liều cao hơn cho phụ nữ, trong khi những phụ nữ khác có thể dùng đơn cũ hoặc lấy thuốc từ chồng. Khi họ dùng quá liều, hậu quả là rất lớn.
Một vấn đề lớn khác khi sử dụng thuốc ngủ là ảnh hưởng trong ngày hôm sau của thuốc. Trong khi thuốc được cho là hết tác dụng sau 8 giờ, tình trạng buồn ngủ có thể kéo dài lâu hơn nếu bạn dùng liều cao. Kết quả là nhiều người vẫn cảm thấy mệt mỏi vào buổi sáng khi họ lái xe đi làm và đó là mối đe dọa nghiêm trọng đến sự an toàn. 
Bazil nói: "Khả năng lái xe giảm là một trong những vấn đề lớn nhất do thuốc ngủ, vì nhiều người không nhận ra rằng họ vẫn chưa tỉnh táo". Nói một cách khác, tình trạng này gần giống với lái xe khi say rượu ở chỗ bạn không có sự phán đoán tốt hoặc phản ứng nhanh, do vậy nguy cơ tai nạn tăng lên đáng kể.
Thuốc ngủ cũng có thể gây hại khi dùng kết hợp với các loại khác, cụ thể là rượu và các chất kích thích. Theo Bazil, nguyên nhân là sự kết hợp này làm tăng tác động của cả hai loại, vì vậy bạn sẽ bị mê man bởi cả thuốc và rượu hoặc chất kích thích. 
Điều đó có nghĩa là thuốc sẽ tác dụng lâu hơn, bạn sẽ cảm thấy lơ mơ, chuệch choạng khi thức giấc. Một kịch bản thậm chí còn cực đoan hơn là bạn sẽ cảm thấy tức thở nếu dùng liều cao hoặc 2 viên một lần và rất có thể phải đi cấp cứu.
Một tác hại nữa là thuốc ngủ cũng có thể khiến bạn có những hành động khác thường trong nhà nếu uống chúng khi chưa sẵn sàng đi ngủ. Hãy xem, thuốc ngủ sẽ hạ gục bạn ngay lập tức. Nhưng một lần nữa, nhiều người không nhận ra tác dụng của thuốc ngủ nhanh như thế nào, vì vậy họ uống một viên trước khi thực hiện một việc nào đó chỉ khoảng nửa giờ và hậu quả là có thể đưa ra những quyết định sai lầm. 
Brazil nói: "Nếu uống thuốc khi chưa đi ngủ, bạn có thể làm những việc lạ, thậm chí có thể là nguy hiểm mà bạn không thể nhớ". Bạn có thể suy sụp, tự đốt cháy mình hoặc thậm chí có quan hệ tình dục nhiều nguy cơ.
Thuốc ngủ cũng có thể gây nghiện, may mắn là tình trạng này không phổ biến. Tác hại lâu dài này của thuốc ngủ kê đơn vẫn chưa được nghiên cứu, nguy cơ lớn là khi bạn ngừng sử dụng thuốc sau khi đã bị phụ thuộc vào chúng. 
"Nếu cơ thể quen với việc dùng thuốc ngủ, bạn sẽ thấy tồi tệ khi ngừng sử dụng thuốc vì cơ thể đã thích nghi. Điều đó có nghĩa bạn sẽ phải dùng nhiều hơn và thật khó để có thể ngủ tốt mà không có thuốc".
Cuối cùng, điều quan trọng là bạn phải nhớ rằng về cơ bản, thuốc ngủ không giải quyết được vấn đề ngủ kém kéo dài. Hãy nghĩ về chúng giống như một công cụ bổ trợ đưa giấc ngủ về đúng chu kỳ và tại một thời điểm nào đó bạn cần ngừng sử dụng nó. 
Để làm được điều này, Bazil khuyên bạn sử dụng chúng đúng một tháng (dưới sự giám sát của bác sĩ) để rèn lại giấc ngủ và sau đó ngừng sử dụng chúng hoàn toàn. Việc sử dụng như thế nào trong tháng đó tùy thuộc vào bạn. Một số người dùng chúng mỗi tối, trong khi những người khác dùng vài lần một tuần khi họ thực sự cảm thấy cần chúng.
Theo Hải Ngân - VnExpress


Kháng sinh clarithromycin nguy hiểm với người bệnh tim mạch

Thuốc kháng sinh clarithromycin sử dụng điều trị các bệnh nhiễm khuẩn thông thường, có thể làm tăng 76% nguy cơ tử vong ở bệnh nhân tim mạch.

Một nhóm nhà nghiên cứu Đan Mạch đã đánh giá nguy cơ tử vong bệnh nhân tim mạch liên quan đến việc dùng kháng sinh clarithromycin so với penicillin V.
Nghiên cứu được thực hiện trên 5 triệu người ở Đan Mạch dùng kháng sinh trong độ tuổi 40-74 từ năm 1997 đến 2011.Tổng cộng có 285 trường hợp tử vong do bệnh tim mạch. 
Trong đó nhóm người từng sử dụng kháng sinh clarithromycin có liên quan đến nguy cơ tử vong do tim mạch cao hơn 76% so với người dùng kháng sinh khác như penicillin V.
Thuốc kháng sinh clarithromycin được cho là có liên quan đến nguy cơ tử vong ở bệnh nhân tim mạch. Ảnh: UK News.
Mỗi năm có hàng triệu người được kê đơn clarithromycinđể điều trị nhiễm trùng như viêm phổi, viêm phế quản và nhiễm trùng tai, viêm xoang, da... Nó cũng được sử dụng để điều trị một số loại viêm loét dạ dày. Kháng sinh này kéo dài thời gian hoạt động điện của cơ tim - được gọi là khoảng QT. Do đó được cho là làm tăng nguy cơ các vấn đề về nhịp tim, có khả năng gây tử vong.
Uớc tính có khoảng 37 người tử vong do tim mạch trên một triệu người dùng clarithromycin trong nghiên cứu này. TS Mike Knapton, Giám đốc y tế tại Quỹ Tim mạch Anh khuyến cáo, tỷ lệ này khá nhỏ nhưng nhân viên y tế nên thận trọng khi kê toa clarithromycin cho bệnh nhân tim mạch.
Theo Lê Phương - VnExpress


Đề phòng tác hại khi dùng diclofenac giảm viêm, đau

Khi bị các bệnh về khớp như viêm khớp mạn, thoái hóa khớp, viêm đa khớp dạng thấp thiếu niên thì một trong các triệu chứng thường gặp đó là viêm, đau. 
Để giải quyết tình trạng này, thuốc chống viêm, giảm đau không steroid như diclofenac hay được dùng. Thuốc còn được dùng để giảm đau trong những trường hợp đau cấp (viêm sau chấn thương, sưng nề) và đau mạn hoặc thống kinh nguyên phát.
Đây cũng là một trong những thuốc thiết yếu được Bộ Y tế cho phép dùng trong các trường hợp trên từ tuyến cơ sở và là thuốc có mặt rộng rãi trong các hiệu thuốc với nhiều dạng dùng khác nhau. 
Tuy nhiên, nhiều người bệnh hay mách nhau dùng diclofenac để tự chữa bệnh cho mình và người thân. Điều này sẽ rất nguy hiểm, bởi bên cạnh ưu điểm là giúp người bệnh thoát khỏi nhanh chóng tình trạng viêm, đau nhưng lại là thuốc có nhiều tác dụng phụ không mong muốn cho người dùng. Vì vậy chỉ dùng thuốc khi có chỉ định của bác sĩ.
Đề phòng tác hại khi dùng diclofenac giảm viêm, đauTrước khi dùng thuốc cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa
Tác hại nổi trội hơn cả là thuốc gây hại đường tiêu hóa (đề phòng các trường hợp chảy máu đường tiêu hóa, làm ổ loét tiến triển, nôn ra máu, đại tiện ra máu, kích ứng tại chỗ khi đặt thuốc vào trực tràng). 
Tác hại này là do bản chất của thuốc (thuốc làm giảm tổng hợp prostaglandin dẫn đến ức chế tạo mucin - đây là chất có tác dụng bảo vệ đường tiêu hóa). Vì vậy, đối với trường hợp bị loét dạ dày tiến triển thì tuyệt đối không được dùng thuốc này. 
Cần rất thận trọng dùng ở người có tiền sử loét, chảy máu hoặc thủng đường tiêu hóa (cân nhắc lợi và hại khi dùng thuốc). Một số biểu hiện khác ở đường tiêu hóa như trướng bụng, chán ăn, khó tiêu…
Do ức chế tổng hợp prostaglandin nên khi dùng diclofenac có thể gây viêm thận kẽ, viêm cầu thận, hoại tử nhú và hội chứng thận hư đặc biệt ở những người bị bệnh thận hoặc suy tim mạn tính. Với những người bệnh này, các thuốc chống viêm không steroid có thể làm tăng suy thận cấp và suy tim cấp.
Do đó, người bị bệnh tim mạch, suy thận nặng hoặc suy gan nặng, người bị hen hay co thắt phế quản, quá mẫn với thuốc thì không được dùng thuốc này. Khi có triệu chứng dị ứng với diclofenac phải ngừng thuốc ngay và cần sự trợ giúp của y tế (nếu cần thiết).
Đối với người mang thai, chỉ dùng diclofenac khi thật cần thiết và khi người bệnh không dùng được các thuốc chống viêm thuộc các nhóm khác và chỉ dùng với liều cần thiết thấp nhất. 
Không nên dùng thuốc trong ba tháng cuối thai kỳ (vì nguy cơ thuốc ức chế tử cung co bóp và làm ống động mạch đóng sớm, gây tăng áp lực tiểu tuần hoàn không hồi phục, suy thận ở thai). 
Và, những người định mang thai không nên dùng bất kỳ thuốc nào có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, kể cả diclofenac, vì ức chế phôi bào làm tổ.
Theo DS Nguyễn Thị An - Sức khỏe và Đời sống

Thiếu vitamin D làm tăng nguy cơ mất trí nhớ

Da người lớn tuổi kém hiệu quả trong việc chuyển đổi ánh sáng mặt trời thành vitamin D. Đây được cho là nguyên nhân tăng nguy cơ mất trí nhớ ở người trên 65 tuổi.

Nghiên cứu của Anh về thần kinh học được thực hiện ở 1.650 người trên 65 tuổi. Các nhà nghiên cứu đã xem xét mối liên quan giữa chứng mất trí và lượng vitamin D hấp thụ ở người già.
Tuy vậy, vẫn còn quá sớm để kết luận những người già cần dùng vitamin D trong điều trị chứng mất trí nhớ.
vitamin-D-BBC-6862-1407472217.jpg
Bệnh mất trí nhớ ở người lớn tuổi ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng. Ảnh: BBC
Vitamin D có nguồn gốc từ một số thực phẩm, dầu cá, viên tổng hợp vitamin D và một nguồn tự nhiên là từ ánh nắng mặt trời được tổng hợp qua da. Ở người lớn tuổi, khả năng tổng hợp vitamin D của da kém đi dẫn đến nguy cơ thiếu hụt và phải phụ thuộc vào các nguồn khác.
Nhóm nghiên cứu quốc tế, dẫn đầu bởi TS David Llewellyn tại ĐH y Exeter tiến hành trong vòng 6 năm. Tất cả người tham gia đều không mắc chứng mất trí, bệnh tim mạch và đột quỵ lúc bắt đầu nghiên cứu.
Kết quả cho thấy, trong 1.169 người có lượng vitamin D đầy đủ thì chỉ có 10 trường hợp mắc chứng mất trí. Trong 70 trường hợp thiếu hụt vitamin D trầm trọng thì số người mắc chứng mất trí nhớ chiếm 20%.
TS Llewellyn cho biết: "Chúng tôi dự kiến ​​sẽ tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ vitamin D thấp, nguy cơ mất trí nhớ và bệnh Alzheimer, kết quả đáng ngạc nhiên khi tỷ lệ liên quan giữa hai yếu tố cao gấp đôi so với dự đoán".
Ông cho biết nghiên cứu là cần thiết vì là căn cứ cho biết nếu ăn thực phẩm giàu vitamin D như dầu cá, hoặc dùng bổ sung vitamin D, có thể "trì hoãn hoặc thậm chí ngăn chặn" sự khởi đầu của bệnh Alzheimer và chứng mất trí.
womega-2352-1407472217.jpg
Nguồn vitamin D dồi dào được da tổng hợp từ quá trình tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Ảnh: Womega.
Tuy nhiên, TS Llewellyn nói thêm: "Chúng tôi cần phải thận trọng ở giai đoạn này và kết quả mới nhất của chúng tôi không trực tiếp chứng minh rằng nồng độ vitamin D thấp gây ra chứng mất trí".
Rõ ràng, kết quả nghiên cứu là rất đáng khích lệ. Điều này sẽ có tác động rất lớn tới sức khỏe cộng đồng do tính chất nghiêm trọng và tốn kém của bệnh mất trí nhớ.
TS Clare Walton, giám đốc truyền thông nghiên cứu tại Hiệp hội Alzheimer cho biết: "Một nghiên cứu như thế này không đủ để kết luận là thiếu vitamin D có thể gây ra chứng mất trí. Không loại trừ khả năng một yếu tố chưa tìm thấy là nguyên nhân gây ra cả chứng mất trí và mức vitamin D thấp".
Cô nói thêm: "Chúng tôi cần phải nhìn thấy thử nghiệm lâm sàng ở mức độ lớn để kiểm tra trực tiếp việc gia tăng mức độ vitamin D sẽ giúp giảm chứng mất trí ở độ tuổi trên 65".
Theo Khánh Ly - VnExpress/ BBC


Thuốc trợ tim digoxin: hiểu thế nào cho đúng?

Các thuốc loại này được chia làm hai nhóm chính: thuốc trợ tim không phải glucosid và thuốc trợ tim glucosid...

Tác dụng của digoxin
Digoxin làm tăng sức co bóp của cơ tim gián tiếp thông qua việc ức chế men natri - kali - adenosine triphosphatase (Na+ - K+ - ATPase) của bơm ion ở màng tế bào cơ tim, từ đó cản trở việc ion Na+ thoát ra ngoài màng tế bào. 
Do sự ức chế này làm cho nồng độ Na+ trong tế bào tăng cao, vì vậy sự vận chuyển Na+, Ca++ qua màng tế bào cũng bị thay đổi, làm tăng nồng độ Ca++ trong tế bào cơ tim, từ đó thúc đẩy các sợi cơ tim tăng cường co bóp. 
Mặt khác, digoxin còn tác động trên hệ thống thần kinh tự động của tim, làm giảm nhịp tim và giảm tốc độ dẫn truyền nhĩ - thất. Ngoài ra, digoxin còn làm tăng trương lực hệ phó giao cảm và làm giảm hoạt tính của hệ giao cảm.
Thuốc được dùng dưới dạng uống (viên nén, viên nang...) hoặc tiêm. Ở dạng uống, phần lớn digoxin được hấp thu ở ruột non, sau đó sẽ được phân phối tiếp tại một số mô. Nồng độ thuốc thường được tập trung chủ yếu ở thận, tim, gan, tuyến thượng thận, ống tiêu hóa... được chuyển hóa chủ yếu tại gan. 
Phần lớn digoxin được thải trừ qua đường nước tiểu, chỉ có 1 phần (khoảng 25%) được thải trừ qua đường phân. Ở người lớn, với chức năng gan, thận bình thường thì thời gian bán hủy trung bình của digoxin (theo đường uống) là 36 giờ. Khoảng cách giữa nồng độ điều trị và nồng độ ngộ độc là rất hẹp nên rất dễ xảy ra ngộ độc thuốc.
Trước đây, người ta hay dùng bắt đầu bằng liều tấn công, sau đó chuyển sang liều duy trì, nhưng nay người ta thường không còn dùng liều tấn công với một lượng thuốc lớn trong một thời gian ngắn như trên vì cách này rất dễ gây nguy hiểm cho bệnh nhân. 
Trong đa số các trường hợp, các thầy thuốc thường bắt đầu ngay bằng liều duy trì để đạt dần tới liều có hiệu lực điều trị.
Cần đặc biệt chú ý không bao giờ được dùng phối hợp digoxin với các muối canxi (đường tĩnh mạch) vì sự phối hợp này có thể gây nên những rối loạn nhịp tim nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong.
Nhiễm độc digoxin
Một số thống kê đã cho thấy số bệnh nhân dùng digoxin bị nhiễm độc chiếm khoảng 5 - 15% tổng số bệnh nhân dùng thuốc. 
Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc digoxin là khi bệnh nhân đang dùng thuốc mà thấy có một số biểu hiện sau: rối loạn tiêu hóa (chán ăn, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy); rối loạn thần kinh (đau đầu, chóng mặt, ảo giác, mất phương hướng, mê sảng...); rối loạn tim mạch: do tăng tính kích thích, tăng tính tự động và giảm tính dẫn truyền của tế bào cơ tim dẫn đến ngoại tâm thu nhĩ và thất, nhịp nhanh thất, block xoang - nhĩ, block nhĩ - thất các loại, xoắn đỉnh, rung thất...
Khi thấy có các biểu hiện trên thì phải dừng ngay digoxin, theo dõi chặt chẽ diễn biến trên điện tâm đồ. Điều chỉnh kịp thời các rối loạn về điện giải và thăng bằng kiềm toan, trong đó đặc biệt lưu ý có tình trạng hạ K+ máu. 
Nếu hạ phải bù K+ bằng cách cho bệnh nhân uống dung dịch kali clorua 10%. Trường hợp cần thiết có thể truyền nhỏ giọt kali clorua vào tĩnh mạch sau khi đã pha thuốc vào dung dịch đẳng trương, nhưng với điều kiện đậm độ K+ truyền tĩnh mạch không được vượt quá 13 - 15 mmol/giờ. 
Có thể dùng atropin tiêm tĩnh mạch khi có nhịp chậm xoang hoặc nhịp chậm do block nhĩ - thất. Đối với các rối loạn nhịp thất, đặc biệt là ngoại tâm thu thất, có thể điều trị bằng cách truyền lidocain. 
Gần đây người ta còn dùng phương pháp khá mới để điều trị ngộ độc digoxin, đó là dùng kháng thể đặc hiệu của digoxin. Khi kháng thể này kết hợp với digoxin tạo thành một phức hợp và phức hợp này sẽ được đào thải qua thận làm mất tác dụng của digoxin.
Theo BS Trần Tất Đạt - Sức khỏe và Đời sống


Thuốc và chế độ ăn uống khi cholesterol cao

Với người bị cholesterol máu cao, điều trị bằng thuốc không phải lúc nào cũng tốt; chưa nói đến các thuốc này thường đắt, không phải ai cũng đủ khả năng mua lâu dài.









Bình thường cholesterol là chất cần thiết và có lợi, vì nó là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng, sợi thần kinh, hormone (như hormone sinh dục nam, nữ), vitamin (như vitamin D), giúp gan sản xuất ra acid mật, có lợi cho tiêu hóa.
Người ta chia cholesterol thành hai loại:
Loại có lợi: Là loại phức hợp giữa cholesterol với lipoprotein phân tử lượng cao, có chức năng mang cholesterol tích trong mạch máu ra ngoài.
Loại có hại: Là loại phức hợp giữa cholesterol với lipoprotein phân tử lượng thấp, có chức năng làm cho chất béo bám vào thành mạch gây xơ mỡ động mạch.
Bình thường lượng cholesterol toàn phần nhỏ hơn 200mg%. Khi lớn hơn 240mg% là cao. Tuy nhiên chỉ khi nào loại cholesterol có hại quá cao (lớn hơn 180mg%) và loại cholesterol có lợi quá thấp (dưới 35mg%) thì lúc đó mới có sự rối loạn cân bằng cholesterol. 
Thầy thuốc căn cứ vào sự rối loạn cân bằng này và tiền sử bệnh tật của người bệnh mới quyết định có dùng thuốc hay không. Ðừng vì hiểu không thấu đáo, quá lo lắng, tự ý mua thuốc dùng.
Điều trị bằng thuốc
Thuốc làm hạ cholesterol thường có 4 nhóm chính, nhưng thường dùng nhất là nhóm fibrat và statin.
- Nhóm fibrat: biệt dược thông dụng là lypanthyl (viên 100mg, 300mg), làm giảm loại cholesterol có hại, tăng cholesterol có lợi, lập lại cân bằng bình thường về hai loại này. Nhờ thế làm giảm hẳn lượng cholesterol trong máu (nếu dùng lâu dài) và từ đó làm giảm nguy cơ xơ mỡ động mạch.
Tuy nhiên thuốc loại này thường làm tổn thương cơ (thường xảy ra hơn đối với người bị đau cơ lan tỏa), ảnh hưởng xấu đến thận và gan (làm tăng chỉ số transaminnaza). Vì thế không được dùng cho người suy gan thận, với người bình thường khi dùng cũng phải định kỳ kiểm tra chức năng gan (đo chỉ số transaminaza).
- Nhóm statin: Biệt dược thông dụng là lescol (viên 20mg). So với nhóm trên, thì nhóm này làm giảm cholesterol có hại và tăng cholesterol có lợi với mức mạnh hơn, do đó ngăn ngừa tốt hơn nguy cơ xơ mỡ động mạch và một số bệnh tim khác.
Một ưu điểm khác là thuốc được hấp thu nhanh và hoàn toàn (khoảng 98%). Thuốc có những tác dụng độc như nhóm trên nên cũng có khuyến cáo tương tự. Ngoài ra chưa có các thông tin đầy đủ cho trẻ dưới 18 tuổi nên không nên dùng cho đối tượng này.
- Nhóm niacin: biệt dược thông dụng niacin (viên nén 5, 50, 100, 150 và 500mg, ống tiêm 1ml chứa 0,17% niacin). Thuốc làm giãn nở các động mạch nhỏ, mao mạch, giảm cholesterol máu. Thường dùng phối hợp với nhóm statin.
Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú, không dùng cho trẻ em, hết sức thận trọng khi dùng cho người sỏi mật, người có bệnh mạch vành. Theo dõi cẩn thận người bệnh có tiền sử vàng da, có bệnh gan hay loét tiêu hóa nếu phải dùng thuốc. Cấm dùng với người rối loạn chức năng gan, loét tiêu hóa, chảy máu động mạch.
- Nhóm resin: biệt dược thông dụng là cholestyramin hoặc cholestipal. Thuốc làm giảm loại lipoprotein phân tử lượng thấp (tức gián tiếp làm giảm cholesterol có hại) và từ đó làm giảm lượng cholesterol toàn phần xuống 25-30%, làm giảm sự tích tụ lipít ngoài thành mạch.
Tuy nhiên bản chất của thuốc là nhựa trao đổi ion, không bị hấp thu qua đường tiêu hóa, sau 3-6 tuần không dùng thuốc, lượng lipoprotein phân tử lượng thấp và cholesterol toàn phần lại tăng lên. Thuốc có thể gây táo bón và tiêu chảy, nôn, nhưng sẽ tự mất đi khi ngừng dùng.
Hiện nay, người ta còn dùng một loại thuốc mới có tên là lipotropic, thực chất là một hỗn hợp gồm các chất hướng mở, vận chuyển mỡ. Hỗn hợp này làm tăng việc sản xuất ra lecithin do đó giúp hòa tan cholesterol, giảm lượng cholesterol thành mạch, ngăn ngừa nguy cơ xơ mỡ động mạch...
Những thuốc nói trên thường đắt, khó dùng. Thầy thuốc chỉ cho khi có sự rối loạn mất cân bằng cholesterol thực sự và khi tiền sử người bệnh không có bệnh tim mạch, tiểu đường.
Phòng chữa bệnh bằng ăn uống
Trong các trường hợp còn lại, thầy thuốc thường khuyên điều trị bằng cách không dùng thuốc mà thực hiện chế độ ăn thích hợp, cụ thể là:
- Phần năng lượng do chất béo cung cấp hàng ngày chỉ được chiếm dưới 30% (khoảng 700Kcalo) so với tổng năng lượng cần dùng hàng ngày (khoảng 2.200 Kcalo). Cơ cấu chất béo phải thay đổi. Giảm các chất béo bão hòa (thịt mỡ, bơ, pho-mát, margarin...). 
Nên ăn các loại chất béo chưa bão hòa (dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu vừng...) vì chúng làm giảm cholesterol toàn phần và giảm cholesterol có hại.
- Không ăn nhiều các thức ăn có cholesterol cao. Nhu cầu hàng ngày là 300mg cholesterol. Một lòng đỏ trứng có trung bình 215mg cholesterol. Thực phẩm hàng ngày không chỉ có trứng mà còn có các loại chứa cholesterol khác (như thịt, sữa, gan, bơ, lòng súc vật...). 
Mỗi tuần chỉ nên ăn ba quả trứng là vừa. Trong 100g tôm có 195mg cholesterol nhưng ít ai ăn tới 100g tôm một ngày nên người ta không đề cập đến việc kiêng tôm. Thịt có màu đỏ (bò, trâu, lợn...) có nhiều cholesterol và acid béo hão hòa và sự hiện diện cả 2 chất này là không lợi cho bệnh tim mạch.
- Ăn nhiều rau quả (vì chúng làm hạ lượng cholesterol) như các loại táo, bưởi, cam, quýt, bắp cải, cải củ, cải bẹ, cải xanh, cà rốt, cà chua, cà tím, đu đủ, tỏi, hành ta, hành tây, gừng ớt. Mỗi ngày nên ăn 200 gam rau lá 100 gam củ, quả non, 200 gam quả chín.
- Ăn cá nhiều hơn ăn thịt, nên chọn loại cá béo, loại chất béo omega-3 có trong mỡ cá béo sẽ làm giảm lipit máu, giảm cholesterol máu.
Như vậy, người bị cholesterol cao không nên kiêng khem quá; nếu biết cách ăn, vẫn có thể béo khỏe. Ngoài chế độ dinh dưỡng nói trên, người bệnh còn cần vận động thường xuyên kiên trì (như dọn dẹp, lên xuống cầu thang, tập thể dục, chăm sóc cây cảnh...) để giảm mập.
Theo DS Bùi Văn Uy - Sức khỏe và Đời sống


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons