Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Dự trữ thuốc chữa một số bệnh thường gặp

Những bệnh như cảm, sốt, nhức đầu, rối loạn tiêu hóa thông thường rất dễ xảy ra. Do đó, trong gia đình mỗi người luôn cần dự trữ sẵn một số loại thuốc đề phòng những tình huống xảy ra bất ngờ này…
Thuốc chữa cảm, sốt, nhức đầu
Khi bị nhức đầu, sổ mũi mà không có thuốc uống, bạn sẽ rất khó chịu. Trong khi đó, ngày Tết, mọi người thường chủ quan đi chơi không đội mũ nón, che khẩu trang… nên rất dễ bị nhức đầu, hắt hơi sổ mũi… 
Do đó, cần uống thuốc ngay khi mới có dấu hiệu cảm để bệnh không bị nặng hơn. Thường dùng paracetamol để chữa triệu chứng sốt và đau đầu. 
Loại cho người lớn: viên nén 500mg; Đối với trẻ em, nên dùng dạng siro, gói bột pha dung dịch. Ở trẻ nhỏ hơn khó uống thuốc, bạn có thể dự phòng thuốc hạ sốt loại đặt hậu môn, thông thường nhất là loại viên đạn efferalgan loại 80mg hoặc 150mg. Thuốc đạn này có bản chất cũng là paracetamol có tác dụng giảm đau như đau đầu, đau răng, cảm cúm, sốt…
Dự trữ thuốc chữa một số bệnh thường gặpCần dự phòng một số thuốc chữa bệnh thông thường trong tủ thuốc gia đình
Liều thường dùng ở trẻ em là 10 - 15mg/1kg cân nặng mỗi lần. Sau 6 giờ có thể nhắc lại một lần (nếu cần thiết). Vì có nguy cơ kích thích niêm mạc trực tràng nên việc điều trị bằng viên đạn càng ngắn càng tốt, không nên vượt quá 4 lần/1 ngày và nên thay thế bằng đường uống nếu có thể. 
Dạng viên đạn không thích hợp trong trường hợp bị tiêu chảy. Thuốc này không dùng trong các trường hợp: bệnh nhân dị ứng với paracetamol hoặc các thành phần của thuốc, bệnh nhân bị bệnh gan thận nặng, viêm hậu môn trực tràng hoặc chảy máu trực tràng. Nếu dùng aspirin thì chỉ dành cho người lớn và không dùng cho người có tiền sử bệnh lý đường tiêu hóa.
Thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa
Việc ăn uống không đúng giờ và ăn quá nhiều loại thức ăn có thể khiến bạn bị rối loạn tiêu hóa. Do vậy, nên dự trữ một ít thuốc trị chứng đầy hơi, khó tiêu, thuốc tiêu chảy trong tủ thuốc gia đình đề phòng những tình huống do ăn uống.
Cần dự phòng nhiều gói oresol để đề phòng trong nhà có nhiều người cùng bị tiêu chảy để bù lượng nước và điện giải đã mất do tiêu chảy. Khi pha oresol phải theo đúng tỷ lệ hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc, tránh tình trạng pha đặc hay loãng đều làm mất tác dụng của thuốc. 
Trước khi dùng, cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng để pha cho đúng tỷ lệ. Mỗi gói oresol sau khi pha chỉ được dùng trong 24 giờ. Ngoài ra có thể dùng viên nén hydrite thay cho oresol. Cần pha viên thuốc với nước đun sôi theo đúng tỷ lệ hướng dẫn trên nhãn thuốc.
Thuốc ho - dị ứng
Bạn nên mua thuốc dạng siro chứa kháng histamin làm dịu ho cho trẻ; nếu là thuốc trị ho loại viên có chứa codein thì chỉ dành cho trẻ lớn và người lớn. Loại siro ho thường dùng là theralene. Theralene được dùng trong các trường hợp ho, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, nổi mề đay, giảm ho khan và ho do kích ứng, đặc biệt khi ho về chiều và đêm. 
Chống chỉ định cho các trường hợp dị ứng với thuốc kháng histamin, trẻ em dưới 24 tháng tuổi, phụ nữ có thai, trong thời kỳ cho con bú.
Cách dùng: vì thuốc có tác dụng gây buồn ngủ nên tốt nhất uống vào buổi tối trước khi ngủ. Người lớn có thể sử dụng terpin-codein: thuốc này chỉ định cho các trường hợp ho gió, ho khan, ho do viêm phế quản, ho do viêm khí quản. Thường dùng mỗi lần 1 viên, ngày 2 - 3 lần. Chú ý trẻ em dưới 6 tuổi không nên dùng.
Thuốc hạ huyết áp
Thông dụng là amlodipin viên 5mg chỉ định cho những người bị tăng huyết áp vô căn nhẹ và trung bình và điều trị dự phòng chứng đau thắt ngực. Liều thông thường là mỗi ngày uống 1 viên. Bạn cũng có thể mua loại thuốc hạ huyết áp tác dụng nhanh nifedipin viên 10mg, thuốc này được sử dụng cho những người bị tăng huyết áp và đau thắt ngực.
Thuốc nhỏ mũi và mắt
Natri clorid 0,9% chỉ định dùng nhỏ mắt trong các trường hợp khô mắt hoặc cảm giác khó chịu, dùng để rửa mắt do bụi, rửa trôi các dị vật nhỏ bám vào mắt, làm giảm các triệu chứng nghẹt mũi, sổ mũi. Liều dùng: nhỏ vào mắt hoặc hốc mũi từ 1 - 3 giọt/1 lần, ngày nhỏ 2 - 3 lần. Cũng có thể nhỏ 5 - 6 giọt/1 lần hoặc nhỏ nhiều lần trong ngày khi cần thiết.
Ngoài những thuốc kể trên, bạn cũng nên dự trữ một vài miếng urgo phòng khi bị đứt tay; bông băng, dung dịch muối loãng, povidine (bôi ngoài da sát trùng), nước oxy già, cồn 70 độ, bông băng, một số dụng cụ y tế (kéo, nhiệt kế), trà gừng…
Các thuốc trên cần để ở trong tủ thuốc, tránh xa tầm với trẻ em; để ở nơi thoáng mát, tránh nơi có nhiều ánh sáng, ẩm và nóng.
Chỉ dùng thuốc trị rối loạn nhẹ vài ngày, nếu triệu chứng không đỡ hoặc kéo dài thì cần đi khám tại các cơ sở y tế.
Khi đi mua thuốc, bạn nên nhờ tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ hướng dẫn cách sử dụng. Nên để thuốc và bảng hướng dẫn sử dụng thuốc trong bao bì và có dán nhãn ngoài ghi rõ tên thuốc. 
Nên để riêng thuốc dành cho người lớn và thuốc dành cho trẻ em. Với những loại thuốc do bác sĩ kê đơn dành cho người trong gia đình đang sử dụng cũng nên để riêng một gói và dán nhãn bao bì.
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Sáng - Sức khỏe và Đời sống

Ngừa bệnh do thiếu vitamin và chất khoáng

Các vitamin (A, B, C, D...) và chất khoáng (sắt, kẽm...) có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của cơ thể. Ví dụ, vitamin A tham gia vào hoạt động thị giác, giữ gìn chức phận của tế bào biểu mô trụ. Vitamin C có tác dụng làm tăng sức đề kháng của cơ thể, làm bền thành mạch. 
Sắt có mặt trong mọi tế bào và rất cần thiết trong việc duy trì sự khoẻ mạnh của hệ miễn dịch, các cơ và điều chỉnh sự phát triển của các tế bào. Hầu hết chất sắt được dự trữ trong hemoglobin và myoglobin - 2 tế bào protein máu đỏ có nhiệm vụ vận chuyển ôxy đến các mô và cơ trong cơ thể...
Mặc dù trong cơ thể, các vitamin và chất khoáng này chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp, nhưng nếu thiếu sẽ gây ra những rối loạn, phát sinh bệnh tật liên quan đến việc thiếu các vitamin và chất khoáng... 
Ví dụ, thiếu vitamin A gây bệnh quáng gà; thiếu vitamin C giảm sức đề kháng, gây chứng chảy máu dưới da; thiếu vitamin B1 gây phù; thiếu vitamin B12 gây thiếu máu, viêm dây thần kinh; thiếu canxi gây co giật tay chân hay thiếu kali gây rối loạn nhịp tim. 
Thiếu sắt thường tăng dần theo thời gian và có liên quan đến chế độ ăn kém hoặc mất máu nhiều. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, thiếu sắt gây thiếu máu. Các biểu hiện của thiếu sắt như: cơ thể yếu và mệt mỏi, giảm khả năng tập trung, rụng tóc, đau đầu, móng yếu dễ gãy...
Chế độ ăn uống góp phần bổ sung vitamin và chất khoángChế độ ăn uống góp phần bổ sung vitamin và chất khoáng
Các vitamin và chất khoáng được cung cấp cho cơ thể qua thức ăn, nước uống hàng ngày. Nếu cơ thể khỏe mạnh, hấp thu tốt và bữa ăn phong phú, đa dạng thì không sợ thiếu các chất này. 
Vì vậy, để phòng ngừa thiếu vitamin và chất khoáng, cần ăn uống thức ăn có chứa đầy đủ chất khoáng và vitamin cần thiết cho cơ thể như ăn đa dạng các loại rau, củ, quả, thịt, cá, tôm, cua... 
Đối với người già, bệnh nặng kéo dài, sức khỏe suy giảm..., nên bổ sung các vitamin và chất khoáng dưới dạng thuốc để đáp ứng nhu cầu về vitamin, chất khoáng của cơ thể. 
Tuy nhiên, bổ sung loại vitamin hay chất khoáng nào, liều lượng cần bổ sung bao nhiêu và uống trong thời gian bao lâu... cần do bác sĩ chỉ định để tránh dùng thừa.
Theo DS Hoàng Thu Thủy - Sức khỏe và Đời sống


Cách phát hiện, phòng ngừa tác dụng phụ của thuốc

Việc uống thuốc không theo chỉ định, không đúng cách có thể khiến bạn gặp phải những tác dụng phụ không mong muốn.


Bên cạnh đó, mỗi loại thuốc đều có 2 mặt, bên cạnh tác dụng điều trị cũng có thể kèm theo tác dụng phụ mà người bệnh cần lưu ý.

Cách phát hiện tác dụng phụ của thuốc
Phản ứng phụ của thuốc là những tổn thương hoặc những đáp ứng không mong muốn đối với một loại thuốc được dùng với mục đích điều trị. Phản ứng phụ do thuốc có nhiều dạng khác nhau, phổ biến nhất là các tác dụng phụ liên quan đến tác dụng dược lý của thuốc, biểu hiện dị ứng thuốc, nhiễm độc và tương tác thuốc.
Cách phát hiện, phòng ngừa tác dụng phụ của thuốc.
Cách phát hiện, phòng ngừa tác dụng phụ của thuốc.
Mặc dù hầu hết các phản ứng phụ do thuốc gây ra do các loại thuốc kê đơn như kháng sinh, thuốc hạ huyết áp, lợi tiểu, thuốc giãn phế quản, thuốc chống viêm giảm đau..., nhưng cũng có thể gặp do các thuốc bán không cần đơn, thuốc bổ, vitamin và thuốc thảo dược.
Các phản ứng phụ do thuốc, tùy từng dạng khác nhau, có thể nhẹ, thoáng qua và khó phát hiện nhưng cũng có thể rất nặng nề, đe dọa tính mạng hoặc gây tàn phế cho người bệnh, có thể biểu hiện tại chỗ hoặc toàn thân. Năm hệ cơ quan bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các tác dụng phụ của thuốc là hệ da niêm mạc, hệ thần kinh trung ương, hệ tiêu hóa, hệ tim mạch và các giác quan.
Các phản ứng dị ứng chiếm khoảng 10% tổng số các phản ứng phụ do thuốc. Biểu hiện dị ứng có thể từ mức độ nhẹ như nổi mày đay, sẩn ngứa đến mức độ nguy hiểm, đe dọa tính mạng như sốc phản vệ, hội chứng Lyell...
Các phản ứng phụ không liên quan đến cơ chế miễn dịch bao gồm biểu hiện không dung nạp thuốc, nhiễm độc thuốc, tương tác thuốc, tác dụng thứ phát và phản ứng đặc ứng do thuốc. Biểu hiện không dung nạp gây ra do sự quá nhạy cảm của cơ thể với các tác dụng dược lý thông thường của thuốc, xảy ra ngay cả khi đã giảm liều thuốc.
Một số tác dụng phụ của thuốc có thể gây ra các hậu quả thứ phát cho người bệnh, ví dụ như các loại glucocorticoid gây suy giảm khả năng miễn dịch khiến người bệnh dễ mắc các loại nhiễm trùng như lao, virut herpes... Đôi khi, tác dụng thứ phát lại đem đến lợi ích cho người bệnh, ví dụ như paracetamol được dùng với mục đích hạ sốt nhưng lại có thêm tác dụng giảm đau.
Cách phòng ngừa tác dụng phụ của thuốc
Trước hết cần có quan niệm đúng về thuốc: cho dù có quý hiếm, đắt tiền bao nhiêu thì thuốc vẫn là chất ngoại lai, chất lạ bắt cơ thể phải chọn lọc, chuyển hóa, hấp thu và đào thải. Một số thuốc gây tác dụng phụ ở mức độ khác nhau, một số khác có thể trở thành kháng nguyên gây cảm ứng, tạo tiền đề cho dị ứng khi bệnh nhân dùng lại thuốc đó. Vì vậy khi thật cần thiết mới dùng.
Khi đã dùng thuốc phải tuân thủ hướng dẫn của thầy thuốc về liều lượng, thời gian dùng. Ví dụ, số lần uống thuốc trong ngày, thời điểm uống thuốc (trước hoặc sau bữa ăn), kiêng kỵ ra sao... Những tuân thủ này không thể tùy tiện. 
Đối với một số thuốc, nhất là đối với bệnh nhân có cơ địa dị ứng lại càng phải có quy định chặt chẽ: thử phản ứng da trước khi tiêm, định kỳ kiểm tra máu, chức năng gan thận, nhằm phát hiện sớm những biến đổi bệnh lý có thể xảy ra.
Theo Phương Vũ - Gia đình Việt Nam


Phê chuẩn thuốc generic esomeprazole đầu tiên

Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ mới đây đã phê chuẩn phiên bản generic đầu tiên của thuốc nexium (esomeprazole) để chữa bệnh trào ngược dạ dày.

Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ mới đây đã phê chuẩn phiên bản generic đầu tiên của thuốc nexium (esomeprazole) để chữa bệnh trào ngược dạ dày (GERD) ở người trưởng thành và trẻ em từ 1 tuổi trở lên. 
Esomeprazole là thuốc ức chế bơm proton có tác dụng làm giảm lượng acid trong dạ dày, được dùng để giảm thiểu nguy cơ loét dạ dày khi sử dụng các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), chữa viêm dạ dày do Helicobacter pylori cùng với một số thuốc kháng sinh khác và điều trị hội chứng Zollinger-Ellison.
Các viên generic esomeprazole sẽ được phát cùng với một hướng dẫn sử dụng có các thông tin quan trọng về cách sử dụng và các nguy cơ của thuốc. Các nguy cơ lớn nhất là các vấn đề về dạ dày, bao gồm tiêu chảy nặng và một cảnh báo rằng những người uống nhiều liều thuốc ức chế bơm proton hàng ngày trong một thời gian dài có thể có nguy cơ nứt xương.
Một số phản ứng phụ thường gặp nhất trong các thử nghiệm lâm sàng bao gồm đau đầu, tiêu chảy, nôn mửa, đầy hơi, đau bụng, buồn ngủ, táo bón và khô miệng.



Vitamin B12 tôi cũng gây sốc phản vệ

Vitamin B12 tôi là tên chung chỉ các cobamid hoạt động trong cơ thể, nhưng chỉ có cyanocobalamin và hydroxocobalamin là được dùng trong điều trị vì chúng đóng vai trò như coenzym.

Vitamin B12 tôi là tên chung chỉ các cobamid hoạt động trong cơ thể, nhưng chỉ có cyanocobalamin và hydroxocobalamin là được dùng trong điều trị vì chúng đóng vai trò như coenzym trong nhiều quá trình chuyển hóa quan trọng của tế bào, đặc biệt là sự nhân lên của AND và chúng ổn định hơn các cobamid khác.
Trong tế bào, vitamin B12 đóng vai trò một coenzym hoạt động tham gia chuyển nhóm methyl của acid 5-methyltetrahydrofolic sang cho homocystein để tạo thành acid tetrahydrofolic và methionin. 
Ngoài ra, vitamin B12 còn tham gia chuyển L-methylmalonyl-CoA thành succinyl-CoA trong chuỗi các phản ứng chuyển hóa các ceto để đưa vào chu trình chuyển hóa tế bào. Nhờ có vitamin B12 các tế bào sẽ phát triển và nhân lên. Khi thiếu hụt B12 acid malonic sẽ tăng cao trong máu và nước tiểu.
Thông thường người ta dùng tôi để điều trị các bệnh thiếu máu ưu sắc hồng cầu to, viêm đa dây thần kinh, rối loạn chuyển hóa (chậm phát triển, suy nhược cơ thể, già yếu, suy dinh dưỡng). 
Đôi khi tôi còn được dùng để bảo vệ mô trong nhiễm độc, nhiễm khuẩn, rối loạn tâm thần, dự phòng thiếu máu, hoặc tổn thương thần kinh ở người cắt đoạn dạ dày, viêm ruột mạn tính, người thai nghén...
Tuyệt đối không dùng vitamin B12 cho những bệnh nhân có tiền sử dị ứng vitamin B12 và các chất cùng họ; bệnh nhân có u ác tính.
Khi sử dụng tôi, các bạn có thể gặp một số tác dụng phụ gây cho các bạn một số triệu chứng như: ngứa nổi mề đay, hồng ban, hoại tử da, phù, thậm chí sốc phản vệ. Một vài trường hợp bị nổi mụn trứng cá, đau nơi tiêm bắp, nước tiểu màu đỏ.
Tuy nhiên, khi cơ thể bạn bị thiếu vitamin B12 sẽ sinh ra một số rối loạn sau: thiếu máu ưu sắc hồng cầu to, viêm đa dây thần kinh, đau dây thần kinh do phù nề myelin hoặc mất myelin ở sợi thần kinh hoặc có thể thấy tế bào thần kinh bị chết ở tủy sống và vỏ não; rối loạn cảm giác và vận động khu trú ở tay, rối loạn trí nhớ hoặc rối loạn tâm thần.
Mặc dù vậy, việc bổ sung vitamin B12 cần phải được các thầy thuốc hướng dẫn. Khi có những triệu chứng khác thường, các bạn nên ngừng dùng thuốc và báo ngay cho thầy thuốc để có hướng xử lý kịp thời, tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.
Theo Nguyễn Châu - Sức khỏe và Đời sống


Xử trí khi bị ngộ độc thuốc giảm đau, hạ sốt Paracetamol

Theo BS Hà Duy Cường, người bệnh thường có tâm lý sử dụng ngay paracetamol khi có triệu chứng sốt và cảm cúm. Tuy nhiên, do không cẩn trọng và thiếu hiểu biết nên đã bị ngộ độc do sử dụng quá liều. Việc xử trí khi bị ngộ độc thế nào cho đúng để tránh những hậu quả đáng tiếc là một vấn đề cần được quan tâm.
Triệu chứng ngộ độc
Người dùng thuốc sau vài giờ có cảm giác buồn nôn, chán ăn, mệt mỏi. Trong vòng 18 - 72 giờ có thể đau bụng kèm theo gan sưng to, sờ thấy gan đau. Nếu không cấp cứu kịp thời thì sẽ dẫn đến suy gan. Người bị suy gan sẽ bị vàng da, hôn mê, đông máu nội mạch rải rác, chảy máu, hạ đường huyết, dẫn tới tử vong.
Xử trí khi bị ngộ độc Paracetamol 1
Sử dụng quá liều paracetamol sẽ gây ngộ độc.
Xử trí thế nào?
Ngay khi uống quá liều paracetamol cần nghĩ ngay đến tình trạng ngộ độc chứ không cần phải đợi đến khi có các triệu chứng bị ngộ độc thì mới xử lý.
Sơ cứu ban đầu cần thực hiện là gây nôn ngay khi mới uống thuốc. Ngoài ra, có thể dùng than hoạt hoặc thuốc tẩy muối hay nước chè đặc để làm giảm hấp thu lượng độc cho gan.
Làm gì để phòng tránh?
Khi bị cảm cúm, đặc biệt là trẻ em không nên dùng paracetamol để tự điều trị quá 5 ngày, đối với người lớn không quá 10 ngày.Những người bị bệnh gan, suy dinh dưỡng, nghiện rượu, những người đang bị mất nước (do sốt cao kéo dài), người đang dùng các thuốc chống co giật (điều trị động kinh) phải thận trọng và chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.
Liều thông thường giảm sốt cho trẻ là 10 - 15mg/kg cân nặng, ngày uống 3 - 4 lần, và liều tối đa cho trẻ không quá 60mg/kg/ngày. Người lớn mỗi lần uống 500 - 1.000mg, ngày uống 3 lần, không nên quá 3g trong ngày.Riêng đối với người cao tuổi, liều dùng nên thấp hơn do chức năng gan đã kém.
Tuyệt đối không nên uống rượu khi dùng thuốc và uống nhiều loại thuốc cảm cúm cùng một lúc. Khi có biểu hiện ngộ độc, bằng mọi cách phải gây buồn nôn, cho uống than hoạt tính giải độc.
Trong mọi trường hợp đều cần rửa dạ dày nên tốt nhất là đưa người bị ngộ độc đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt.
Theo BS Hà Duy Cường - Sức khỏe và Đời sống


Bổ sung sắt đúng cách trong điều trị thiếu máu

Bệnh thiếu máu do thiếu sắt là bệnh lý rất thường gặp ở vùng dân cư có mức sống thấp, chế độ dinh dưỡng kém, người có tiền sử bệnh mãn tính hay bị thiếu máu, phụ nữ trong giai đoạn kinh nguyệt.
Vai trò của sắt trong cơ thể
Sắt là một khoáng chất thiết yếu, có vai trò hết sức quan trọng trong cơ thể.
Sắt là thành phần cấu tạo nên huyết sắc tố (haemoglobin) của hồng cầu. Sắt trong huyết sắc tố kết hợp với oxy ở phổi tạo thành oxyhaemoglobin (tạo màu đỏ của máu) và khi hồng cầu theo các mạch máu di chuyển khắp cơ thể sẽ phân phối oxy đến các mô (khi đó máu sẽ chuyển thành màu đen).
Sắt còn là thành phần cấu tạo nên myoglobin: một sắc tố vận chuyển oxy có trong tế bào đến các sợi cơ, giúp cơ hoạt động mạnh mẽ.
Sắt đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của thai nhi. Các thai phụ trong quá trình mang thai cần phải bổ sung sắt đầy đủ.
Sắt cần thiết cho sự phát triển của trẻ em trong giai đoạn dậy thì.
Sắt có vai trò quan trọng trong việc sản sinh ra bạch cầu, giúp tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch.
Thực phẩm là nguồn cung cấp chủ yếu sắt cho cơ thể. Sắt có nhiều trong gan, thịt, ngũ cốc, cá, rau xanh…
Đối với người trưởng thành, lượng sắt cần thiết cho nhu cầu hàng ngày là 14mg.
Khi cơ thể thiếu sắt trong một thời gian dài, sẽ gây ra bệnh thiếu máu do thiếu sắt.
Bệnh thiếu máu do thiếu sắt
Khi lượng sắt trong thực phẩm không cung cấp đủ hay có sự rối loạn hấp thu chất sắt trong cơ thể, hoặc các tế bào hồng cầu không sản sinh ra đủ do cơ thể mất máu nhiều, sẽ gây nên tình trạng thiếu máu do thiếu sắt và dần dần sẽ gây ra bệnh thiếu máu do thiếu sắt.
Bệnh thiếu máu do thiếu sắt là bệnh lý rất thường gặp ở vùng dân cư có mức sống thấp, chế độ dinh dưỡng kém, người có tiền sử bệnh mãn tính hay bị thiếu máu, phụ nữ trong giai đoạn kinh nguyệt…
Nguyên nhân:
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh lý thiếu máu do thiếu sắt như:
Do mất máu nhiều trong giai đoạn kinh nguyệt ở phụ nữ.
Chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, thiếu chất sắt.
Bệnh lý ở đường tiêu hóa như viêm loét dạ dày… nên cơ thể không hấp thu tốt chất sắt.
Không cung cấp đủ sắt cho nhu cầu tăng cao ở phụ nữ đang mang thai hay cho con bú hoặc trẻ em trong giai đoạn dậy thì, phát triển quá nhanh.
Bệnh lý nhiễm khuẫn mạn tính, ảnh hưởng đến sự tạo máu của cơ thể…
Bổ sung sắt đúng cách trong điều trị thiếu máu Bổ sung các loại thuốc có chứa sắt là phương pháp chủ yếu trong điều trị bệnh thiếu máu do thiếu sắt
Triệu chứng:
Người bị bệnh thiếu máu do thiếu sắt thường có các biểu hiện:
Da xanh xao.
Người mệt mỏi, yếu ớt.
Khả năng tập trung kém (ảnh hưởng nhiều đến công việc, học tập).
Hơi thở nông, nhịp tim nhanh.
Chóng mặt, choáng váng.
Nhức đầu và mất ngủ.
Viêm loét miệng, lưỡi.
Móng tay khô, giòn và cong ngược lên trên (móng tay hình muỗng)…
Điều trị:
Bổ sung sắt với các loại thuốc có chứa sắt là phương pháp chủ yếu trong điều trị bệnh thiếu máu do thiếu sắt. Các thuốc này thường chứa sắt ở dạng muối sulfat, muối gluconat hay muối fumarate.
Những lưu ý khi bổ sung sắt:
Phải tuân theo chỉ định của thầy thuốc, tránh bổ sung sắt quá liều trong một thời gian dài, sẽ gây ra nguy cơ xơ gan, bệnh cơ tim, đái tháo đường…
Các tác dụng phụ thường gặp là buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy hay táo bón.
Khi uống thuốc cần tránh xa các bữa ăn 1 - 2 giờ, vì thức ăn làm giảm sự hấp thu sắt.
Không uống nước chè, sữa, cà phê… ngay sau khi uống thuốc vì làm giảm hấp thu sắt.
Tránh phối hợp chung sắt với các thuốc kháng sinh nhóm tetracyclin và nhóm quinolon, thuốc kháng acid, hoóc-môn tuyến giáp… vì làm giảm sự hấp thu sắt.
Vitamin C làm tăng sự hấp thu sắt nên thường được phối hợp với nhau.
Bên cạnh việc bổ sung sắt, cần kết hợp các phương pháp sau đây:
Tăng cường chế độ dinh dưỡng giàu chất sắt với các thực phẩm như thịt, đậu, bánh mì nguyên cám, trái cây, rau xanh…
Các bệnh lý gây ảnh hưởng đến sự hấp thu chất sắt của cơ thể cần phải được chữa trị thật tốt.
Theo DS Mai Xuân Dũng - Sức khỏe và Đời sống

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons