Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Những tác dụng bất lợi khi dùng furosemid

Furosemid (lasix), một thuốc lợi tiểu là dẫn xuất axit anthranilic. Đây là một loại thuốc lợi tiểu mạnh do đó có thể đưa ra khỏi cơ thể quá nhiều các chất dẫn đến nước và chất điện giải cạn kiệt cho người dùng. Vì vậy, cần thận trọng khi sử dụng.
Furosemid được dùng chủ yếu để điều trị phù và tăng huyết áp. Phối hợp với thuốc trị tăng huyết áp vừa và nhẹ. Khi dùng furosemid có thể làm giảm natri huyết ở bệnh nhân bị suy tim sung huyết nghiêm trọng, đặc biệt khi bệnh nhân dùng liều cao furosemid phối hợp với chế độ dinh dưỡng ít muối ăn.
Furosemide cũng có thể làm giảm bài tiết canxi nước tiểu, đôi khi gây tăng canxi huyết nhẹ. Không nên dùng furosemid cho bệnh nhân bị tăng canxi huyết, đặc biệt là người cao tuổi dễ nhạy cảm với sự mất cân bằng điện giải. Cẩn thận khi dùng thuốc ở những bệnh nhân bị phì đại tuyến tiền liệt vì thuốc có thể gây bí tiểu cấp.
Những tác dụng bất lợi khi dùng furosemid
Cơ chế hoạt động của furosemid
Thuốc cũng có thể gây ra phản ứng phụ là các dấu hiệu của một phản ứng dị ứng như nổi mề đay, khó thở, sưng mặt, môi, lưỡi, hoặc họng. 
Ngừng sử dụng furosemid và gọi bác sĩ ngay nếu bạn có một tác dụng phụ nghiêm trọng như ù tai, giảm thính lực; cảm thấy rất khát nước hoặc nóng, không thể đi tiểu, hoặc da nóng và khô; đi tiểu đau hoặc khó khăn; da xanh xao, chảy máu bất thường (mũi, miệng, âm đạo, hoặc trực tràng)...
Furosemide có thể gây tăng đường huyết và đường niệu nhưng có lẽ tác dụng phụ này nhẹ hơn so với khi dùng các thuốc lợi tiểu thiazid. Thuốc có thể gây tăng acid uric huyết và gây ra cơn gout kịch phát ở một số bệnh nhân. 
Những tác dụng phụ khác ít xảy ra hơn như rối loạn tiêu hóa, mờ mắt, chóng mặt, nhức đầu và hạ huyết áp tư thế đứng, phát ban, da nhạy cảm với ánh sáng, mất bạch cầu không hạt, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu. Viêm tụy thường gặp khi dùng liều cao và vàng da ứ mật thường được ghi nhận. Ù tai và giảm thính lực hiếm xảy ra khi tiêm nhanh liều cao furosemid.
Theo BS Hoàng Thanh Sơn - Sức khỏe và Đời sống





NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Dùng thuốc trị viêm họng

Có rất nhiều nguyên nhân gây viêm họng như vi khuẩn, virut, thậm chí là ô nhiễm môi trường... Có rất nhiều loại thuốc trị viêm họng. Tuy nhiên người bệnh nên đi khám để được bác sĩ chỉ định thuốc cho phù hợp.

Dùng thuốc trị viêm họng
Người bị viêm họng cần súc họng bằng nước muối ấm
Khi bị viêm họng người bệnh thường có các triệu chứng: đau rát họng, nuốt đau, vướng như mắc cái gì đó ở họng, chảy nước mũi, ngạt tắc mũi (một bên hoặc cả hai bên), đau đầu, ù tai. Sau đó có thể xuất hiện ho, sốt...

Nếu chỉ đau rát do viêm họng mạn tính gây loạn cảm họng hoặc viêm họng do virut, chỉ cần dùng các thuốc giảm đau như paracetamol kết hợp với vitamin C (nâng cao sức đề kháng cơ thể). Ngoài ra có thể ngậm men kháng viêm tại chỗ như alphachymotrypsin. Cần tăng cường ăn hoa quả, uống nhiều nước. Thường bệnh sẽ tự khỏi trong vòng từ 5 đến 7 ngày.

Nếu viêm họng cấp có sốt, do vi khuẩn phải dùng thuốc kháng sinh. Một số kháng sinh có thể dùng như amoxicillin, cephalexin, erythromycin... hoặc có thể khí dung mũi họng bằng các dung dịch chứa: tinh dầu bạc hà, thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm...

Đối với loại viêm họng do vi khuẩn nếu lựa chọn đúng kháng sinh bệnh sẽ thuyên giảm trong vòng 2-3 ngày. Nếu quá thời gian này bệnh không khỏi phải khám và đánh giá lại tình trạng bệnh, tránh tình trạng để bệnh kéo dài gây biến chứng.

Dùng thuốc trị viêm họng
Nếu viêm họng cấp có sốt phải dùng kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ

Nếu viêm họng hạt lâu ngày có thể đốt hạt bằng laser hoặc áp lạnh. Ngoài ra, có thể dùng các viên ngậm trị ho, viêm họng như viên ngậm bổ phế, viên ngậm Strepsin...

Ngoài ra, cũng có thể dùng một số bài thuốc Nam sau cũng có tác dụng trị viêm họng rất tốt:

Lá rẻ quạt: 1 - 2 miếng bằng ngón tay, muối 2 gam. Rửa sạch lá, nhai dập, ngậm với vài hạt muối. Khi nào nóng họng thì nhả ra, ngày ngậm 1 - 2 lần, có thể nuốt nước.

Lá húng chanh: 3 - 5 lá, rửa sạch nhai dập và ngậm cùng khoảng 2g muối, nuốt nước dần.

Lá chua me đất: 50g, muối 2g. Rửa sạch lá, hai thứ nhai nuốt từ từ.

Chè mạn ủ nóng trong 15 phút rồi ngậm họng cũng có tác dụng tốt.

Để phòng bệnh, cần nâng cao sức đề kháng của cơ thể chống đỡ với vi khuẩn và virut; giữ cho mũi luôn thông thoáng, không nên thở bằng miệng.

Đối với người hay bị viêm họng hoặc viêm họng mạn không nên uống nước quá lạnh (nước đá) và nên súc họng bằng nước muối ấm pha loãng hoặc các loại dung dịch súc họng có bán tại các hiệu thuốc. Khi đi ra đường nên đeo khẩu trang để tránh hít phải bụi bẩn và không khí lạnh...

Theo BS Ngọc San - Sức khỏe và Đời sống


ĐIỀU TRỊ BỆNH CỘT SỐNG - THẦN KINH THEO PHƯƠNG PHÁP DIỆN CHẨN




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Lưu ý khi dùng thuốc điều trị ngoại trú bệnh động kinh

Người bệnh động kinh phải dùng thuốc đều đặn, liên tục và lâu dài theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa. Do đó, ngoài việc điều trị tại bệnh viện (nội trú) thì người bệnh sẽ được bác sĩ kê đơn thuốc để dùng tại nhà (ngoại trú). Và, carbamazepin là một trong những thuốc như vậy. Tuy nhiên khi dùng thuốc này người bệnh cần hiểu cặn kẽ về thuốc để dùng thuốc an toàn.
Trong bệnh động kinh carbamazepin dùng trong các trường hợp động kinh cục bộ có triệu chứng phức tạp (động kinh tâm thần vận động và động kinh thùy thái dương). 
Người động kinh loại này tỏ ra đáp ứng tốt với thuốc hơn các loại động kinh khác; Ðộng kinh lớn (co giật cứng toàn bộ); Các kiểu động kinh hỗn hợp gồm các loại trên, hoặc các loại động kinh cục bộ hoặc toàn bộ khác. Cơn vắng ý thức (động kinh nhỏ) không đáp ứng với carbamazepin
Carbamazepin còn có tác dụng chống các cơn đau kịch phát ở người bệnh đau dây thần kinh tam thoa, làm giảm nguy cơ co cứng và giảm các triệu chứng cai nghiện rượu.
Khi được kê đơn dùng thuốc này, người bệnh cần tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ về liều lượng, số lần dùng, và thời gian dùng thuốc, thời gian tái khám bệnh… nhưng do thuốc có thể gây ra tác dụng phụ không mong muốn cho người dùng, nên bệnh nhân cần lưu ý. 
Các tác dụng phụ của thuốc thường bắt đầu xảy ra là các triệu chứng về thần kinh trung ương, sau đó đến các phản ứng về da. Thường gặp nhất là các hiện tượng như toàn thân thấy chóng mặt. Trên thần kinh trung ương là các hiện tượng như ngủ gà, mất điều hòa, mệt mỏi. 
Trên hệ tiêu hóa người bệnh thấy chán ăn, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, táo bón, khô miệng, kích ứng trực tràng nếu dùng thuốc đặt trực tràng và ở da có hiện tượng nổi ban và ngứa, thoát dịch dưới da. Mắt thấy khó điều tiết, nhìn một thành hai...
Đây là danh mục những tác dụng phụ thường gặp. Vì vậy, người bệnh gặp một trong các triệu chứng trên hoặc thấy bất thường (không có trong danh mục này), cần thông báo cho bác sĩ điều trị biết để được xử lý kịp thời, thích hợp.
Các tác dụng không mong muốn của carbamazepin xảy ra khá phổ biến, đặc biệt trong giai đoạn đầu điều trị, gồm có hoa mắt, chóng mặt, buồn ngủ và mất điều hòa. Có thể giảm thiểu các tác dụng này bằng bắt đầu điều trị với liều thấp. 
Buồn ngủ và rối loạn chức năng tiểu não và vận nhãn cũng là các triệu chứng của nồng độ carbamazepin quá cao trong huyết tương và có thể hết khi tiếp tục điều trị với liều thấp. 
Các tác dụng không mong muốn liên quan đến liều dùng thường tự hết trong một vài ngày hoặc sau khi tạm thời giảm liều. Khi bị các tác dụng không mong muốn nặng như phát ban đỏ toàn thân, phản ứng quá mẫn, có thể cần phải ngừng điều trị.
Theo DS Nguyễn Thị An - Sức khỏe và Đời sống





NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317


Uống thuốc ngừa thai có thể làm tăng nguy cơ ung thư não

Theo Dailymail, nghiên cứu này dựa trên các dữ liệu kiểm kê dân số sức khỏe và hành chánh Đan Mạch, trong đó, có 317 trường hợp được chẩn đoán u nguyên bào thần kinh đệm lần đầu tiên từ năm 2000-2009.
Sau đó các nhà nghiên cứu so sánh mỗi bệnh nhân này với 8 phụ nữ cùng tuổi nhưng không bị u nguyên bào thần kinh đệm. Tổng cộng có 2.126 trường hợp.
Tất cả đều ở độ tuổi 15 - 49, là những đối tượng thường xuyên sử dụng biện pháp tránh thai.
Những phụ nữ đã từng sử dụng một biện pháp tránh thai đường uống hoặc hormone có 50% nhiều khả năng phát triển bệnh ung thư não so với những người không dùng.
Sự khác biệt về nguy cơ tăng lên đến 90% cho những phụ nữ đã sử dụng một trong các biện pháp tránh thai từ 5 năm trở lên.
Các biện pháp tránh thai chỉ chứa progestogen (thay vì đồng thời bao gồm estrogen và progestogen) có liên quan chặt chẽ nhất với u thần kinh đệm, làm tăng nguy cơ gần như gấp3 lần.
Nhưng các nhà khoa học đồng thời cũng nhấn mạnh rằng khả năng mắc bệnh này với phụ nữ trong thực tế là rất nhỏ.
TS David Gaist thuộc BV Đại học Odense và Đại học Nam Đan Mạch nói: "Điều lưu ý là sự gia tăng nguy cơ này cần được đặt trong bối cảnh của nó. Đối với một dân số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, trong đó có những người sử dụng thuốc ngừa thai hormone, bạn có thể nhìn thấy nguy cơ 5/100.000 người hàng năm bị u nguyên bào thần kinh đệm, phát hiện này căn cứ trên việc kiểm kê dân số toàn Đan Mạch".
TS David Gaist nói: "Mặc dù chúng tôi tìm thấy một sự liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa sử dụng thuốc ngừa thai hormone và nguy cơ bị u nguyên bào thần kinh đệm, nhưng nếu đánh giá về lợi ích-nguy cơ thì sử dụng thuốc ngừa thai có vẻ vẫn mang lại lợi ích ở những người sử dụng phù hợp. Câu chuyện ở đây là cần đánh giá việc sử dụng lâu dài thuốc ngừa thai nhằm giúp phụ nữ chọn được phương pháp ngừa thai tốt nhất".
Thuốc ngừa thai hormone mang lại nhiều tiện lợi cho phụ nữ vì có ở nhiều dạng khác nhau: thuốc uống, miếng dán, thuốc chích một liều, thuốc cấy, vòng âm đạo.
Nghiên cứu của David Gaist và cộng sự thực hiện được công bố trên tạp chíBritish Journal of Clinical Pharmacology số mới nhất.
Theo Bích Ngọc - Sức khỏe gia đình





NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thuốc điều trị nhồi máu cơ tim

Nhồi máu cơ tim (NMCT) là tình trạng một vùng cơ tim bị tổn thương, hoại tử và ngưng hoạt động vĩnh viễn, do các động mạch vành bị tắc nghẽn làm ngưng đột ngột sự cung cấp máu đến nuôi cơ tim. 
Các thuốc được sử dụng trong điều trị NMCT giúp nhanh chóng khôi phục lưu thông máu ở động mạch vành, giảm đau và giảm nhu cầu tiêu thụ oxy ở mô cơ tim.
Nguyên nhân và triệu chứng nhồi máu cơ tim
Có hai nguyên nhân chính làm tắc nghẽn động mạch vành gây ra NMCT:
- Do xơ vữa động mạch vành (nguyên nhân chủ yếu gây ra NMCT): sự tích tụ các chất béo (cholesterol, triglycerid) và canxi trong lòng động mạch vành, hình thành nên những mảng xơ vữa. 
Các mảng xơ vữa này sẽ làm thành động mạch vành dày lên, kém đàn hồi, cứng và làm giảm lưu lượng máu đến tim, gia tăng nguy cơ hình thành huyết khối ở động mạch vành, làm ngưng cung cấp máu đến cơ tim.
- Do co thắt động mạch vành làm ngưng cung cấp máu đến cơ tim.
Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố nguy cơ gây ra NMCT như:
Hút thuốc lá.
Béo phì, ít vận động.
Lượng cholesterol và triglycerid trong máu cao.
Tiền sử gia đình bị nhồi máu cơ tim...
Cơ tim bị tổn thương
Cơ tim bị tổn thương
Các triệu chứng điển hình của nhồi máu cơ tim:
- Đau ngực, cơn đau có thể lan lên hàm và xuyên ra sau lưng hoặc lan xuống tay trái. Trong trường hợp hiếm: đau ở vùng thượng vị gây nhầm lẫn với các bệnh khác.
- Khó thở, thở gấp.
- Đổ mồ hôi, da lạnh.
- Buồn nôn, nôn.
- Mệt mỏi, căng thẳng, lo lắng.
- Chóng mặt, hôn mê...
NMCT đưa đến các biến chứng: loạn nhịp tim, suy tim, tổn thương van tim, rung thất… và có thể dẫn đến tử vong.
Thuốc điều trị nhồi máu cơ tim
Khi NMCT xảy ra, các động mạch vành ngưng cung cấp máu đến nuôi cơ tim, các mô cơ tim bị thiếu oxy dẫn đến tổn thương, hoại tử và ngưng hoạt động.
Nhóm thuốc kháng kết tập tiểu cầu (aspirin, clopidrogel. ticagrelor…) có tác dụng ngăn chặn sự kết dính các tiểu cầu để hình thành huyết khối ở động mạch vành.
Aspirin thường được sử dụng ở dạng thuốc viên với hàm lượng 81mg.
Clopidrogel được sử dụng thay thế aspirin khi người bệnh bị dị ứng với aspirin hay có tiền sử viêm loét dạ dày-tá tràng.
Nhóm thuốc chống đông máu: heparin được sử dụng ở dạng tiêm truyền tĩnh mạch, có tác dung làm loãng máu, ngăn chặn quá trình đông máu hình thành huyết khối.
Nhóm thuốc nitrat (glyceryl trinitrat, isosorbid dinitrat, isosorbid mononitra)là những thuốc có tính giãn mạch, giúp tăng lưu lượng máu qua động mạch vành, cung cấp đủ máu và oxy cho cơ tim.
Nhóm thuốc chẹn beta (atenolol, propanolol, bisopropol…) có tác dụng làm chậm nhịp tim, thư giãn cơ tim nên làm giảm gánh nặng hoạt động của tim và làm giảm triệu chứng đau ngực của NMCT.
Nhóm thuốc ức chế men chuyển (captopril, enalpril…) là những thuốc có tác dụng giãn mạch, tăng cường tốc độ lưu thông máu … nên thường được sử dụng trong điều trị NMCT.
Nhóm thuốc statin (lovastatin,simvastatin, atorvastatin…) có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu, ngăn chặn xơ vữa động mạch vành gây ra NMCT.
Nhóm thuốc giảm đau opioid: morphin là thuốc giảm đau nhóm opioid thường được sử dụng để làm giảm đau và giảm nhu cầu tiêu thụ oxy ở mô cơ tim trong NMCT.
Cần lưu ý:
- Các thuốc được sử dụng trong điều trị NMCT phải được sự chỉ định và theo dõi của các thầy thuốc chuyên khoa.
- Người bệnh phải tuân theo sự chỉ định chặt chẽ của thầy thuốc, tránh ngưng sử dụng thuốc đột ngột.
- Sau lần đầu tiên điều trị NMCT, người bệnh nên tiếp tục sử dụng bốn nhóm thuốc mỗi ngày (thuốc kháng kết tập tiểu cầu, thuốc chẹn beta, thuốc ức chế men chuyển, thuốc statin) để phòng ngừa tái phát NMCT.
Đối với bệnh NMCT, việc phòng ngừa là hết sức quan trọng. Cần tránh các yếu tố nguy cơ, như: không hút thuốc lá (thuốc lá gây co thắt các mạch máu và gia tăng xơ vữa động mạch vành), kiểm soát huyết áp và đường huyết, chế độ dinh dưỡng nhiều rau quả, ít chất béo. Cần tăng cường luyện tập thể dục, thể thao, tránh béo phì...
Nhồi máu cơ tim là một bệnh lý tim mạch thường xảy ra, gây nguy cơ tử vong cao nếu không được cấp cứu kịp thời!
Theo DS Mai Xuân Dũng - Sức khỏe và Đời sống





NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Cảnh giác với các loại thuốc có thành phần thuốc phiện

Thuốc có thành phần chứa thuốc phiện có nhiều loại nhưng thông thường hay sử dụng nhiều các thuốc như terpincodein để trị rối loạn tiết phế quản, trị các chứng ho long đờm hay opizoic dùng trong tiêu chảy, đặc biệt là morphin là loại thuốc gây nghiện khi mua phải có đơn mặc dù có công hiệu giảm đau rất tốt thường dùng trị đau trong ung thư...
Tuy nhiên, khi sử dụng chúng không hề đơn giản, vì trong thành phần đều chứa hoạt chất của thuốc phiện. Terpicodein thành phần gồm terpin hydrate, codeine base. 
Vì có thuốc phiện nên thuốc chống chỉ định sử dụng cho trẻ em dưới 5 tuổi, bệnh nhân suy hô hấp, hen suyễn và tránh dùng chung với thuốc có chứa atropin, cồn và các thuốc ho khác, phụ nữ có thai và cho con bú. Thuốc cũng có tác dụng không mong muốn như gây táo bón, buồn ngủ, chóng mặt, buồn nôn, co thắt phế quản, dị ứng da...
Opizoic là loại viên nén gồm cao opi (10% morphin) 5mg, long não 2mg, acide benzoic 10mg, tinh dầu hồi 1mg. Thuốc được dùng để cầm tiêu chảy, giảm đau và có tác dụng trị triệu chứng. Thuốc có tác dụng giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch vị, gây táo bón. 
Tuy nhiên, do thuốc chứa thuốc phiện nên xếp vào loại thuốc độc bảng A, phải có chỉ định của bác sĩ. Không dùng cho trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai hay đang cho con bú.
Thuốc giảm đau morphin
Thuốc giảm đau morphin
Đặc biệt, morphin - loại thuốc giảm đau gây nghiện (opiat) là một alcaloid có hàm lượng cao nhất (10%) trong nhựa khô quả cây thuốc phiện, về mặt cấu tạo có chứa nhân piperridin-phenanthren. 
Morphin tác dụng chọn lọc và trực tiếp lên tế bào thần kinh trung ương, nhất là vỏ não với nhiều trung khu bị ức chế như trung khu đau, trung khu hô hấp, trung khu gây ho... Nhưng có trung khu lại bị kích thích nên gây nôn, co đồng tử, chậm nhịp tim...
Bởi vậy, khi sử dụng những chế phẩm thuốc phiện đều có tiềm năng độc hại của các chất chủ vận opiat nên khi dùng phải hết sức thận trọng. 
Dùng nhắc lại nhiều lần có thể gây lệ thuộc thuốc, nhờn thuốc và nghiện thuốc. Vì vậy, người bệnh phải hết sức cẩn thận khi sử dụng các loại thuốc này trong trị bệnh, tốt nhất nên dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Theo BS Hoàng Thanh Sơn - Sức khỏe và Đời sống





NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317



Những loại thuốc “cấm” dùng trong kỳ kinh nguyệt

Để tránh rối loạn kinh nguyệt, xuất huyết quá nhiều, chị em cần lưu ý dùng thuốc khi chuẩn bị và đang trong kỳ kinh.

Thuốc hoóc-môn tình dục

Sự tổng hợp và cân bằng trao đổi chất của hoóc-môn giới tính nữ có liên quan chặt chẽ tới chu kỳ kinh nguyệt. Do vậy, trong kỳ nguyệt san, bạn không nên sử dụng thuốc hoóc-môn kích thích chuyện ấy, để tránh bị rối loạn kinh nguyệt.

Thuốc trị viêm nhiễm phụ khoa

Trong kỳ nguyệt san, màng nhầy tử cung xung huyết, miệng tử cung mở rộng, rất dễ bị viêm nhiễm.


Thuốc chống đông máu

Thuốc chống đông máu có thể khiến cho nguyệt kinh kéo dài, lượng máu kinh cũng nhiều hơn. Bởi vậy, trong kỳ kinh nguyệt, XX nên tránh sử dụng thuốc chống đông máu như heparin, coumarin…

Thuốc nhuận tràng

Thuốc nhuận tràng dễ dẫn đến xung huyết vùng chậu, nên tránh dùng trong kỳ nguyệt san, các thuốc nhu động dạ dày ruột cũng không nên dùng trong thời gian này.

Thuốc nội tiết

Tổng hợp và cân bằng trao đổi chất của hoóc-môn trong cơ thể có liên quan chặt chẽ tới chu kỳ nguyệt san. Do vậy, trong kỳ nguyệt san không thể sử dụng thuốc kích thích hoóc-môn, để tránh mất cân bằng.

Thuốc cầm máu

Thuốc cầm máu như Andel, vitamin K, có thể giảm tính thấm mao mạch, thúc đẩy sự co lại của mao mạch, sau khi sử dụng khiến cho lượng máu kinh không ra đều và mịn như bình thường.

Thuốc giảm béo

Trong thuốc giảm béo có chứa thành phần ngăn chặn sự thèm ăn, nếu dùng trong kỳ kinh nguyệt, có thể dẫn đến rối loạn nguyệt san, nước tiểu nhiều hoặc bài tiết khó, hoặc xuất hiện tâm lý hoảng loạn, lo âu, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến vô kinh.




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons