Thuốc giảm đau có thể gây dị tật ở trẻ. Hình minh họaThis is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015
Thuốc giảm đau gây dị tật bẩm sinh ở trẻ
Một nhóm thuốc giảm đau có gốc thuốc phiện làm tăng nguy cơ dị tật não, cột sống và tim mạch. Chúng cũng có thể gây ra sinh non nếu mẹ bầu uống vào trong quá trình mang thai.
Dùng những loại thuốc này khiến trẻ bị những triệu chứng ngay khi sinh ra, một tình trạng gọi là hội chứng cai sơ sinh (NAS), một vấn đề ngày càng tăng tại các bệnh viện Mỹ.
Thuốc giảm đau có thể gây dị tật ở trẻ. Hình minh họa
Những loại thuốc giảm đau bao gồm codeine, oxycodone, hydrocodone hoặc morphine thường được kê đơn cho những bệnh nhân không đáp ứng với aspirin, ibuprofen và paracetamol. Những loại thuốc dựa trên thuốc phiện có hiệu quả giảm đau lớn nhất, nhưng chúng cũng có những tác dụng phụ như nguy cơ buồn ngủ và buồn nôn.
Chúng được chiết xuất từ cây thuốc phiện, và một vài loại được cho là dễ gây nghiện hơn cả heroin.
Nghiên cứu được tiến hành bởi Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) cho thấy 1/4 phụ nữ có bảo hiểm được kê đơn thuốc giảm đau có gốc thuốc phiện từ năm 2008 - 2012.
1/3 phụ nữ tham gia vào chương trình Medicaid dành để chăm sóc thức khỏe cho người có thu nhập thấp, được kê đơn bằng thuốc này. Vì khoảng 1/2 ca mang thai ở Mỹ không nằm trong kế hoạch, những phụ nữ này có thể đã dùng các loại thuốc giảm đau có hại khi mang thai.
Ở Anh, đơn thuốc cho cả 2 loại thuốc giảm đau có gốc từ thuốc phiện và không chiết xuất từ thuốc phiện đã tăng 2,4% trong năm 2013.
"Dùng những loại thuốc có gốc thuốc phiện trong đầu thai kỳ có thể gây ra dị tật bẩm sinh và những vấn đề nghiêm trọng cho cả bé và mẹ" - Tom Frieden, trưởng Trung tâm CDC nói.
"Nhiều phụ nữ trong tuổi sinh sản dùng các loại thuốc này mà không biết mình mang thai. Vì thế, những y bác sĩ cần phải kiểm tra sức khỏe toàn diện cho các phụ nữ trong độ tuổi sinh sản trước khi kê đơn những loại thuốc này."
TS Nhi khoa José Cordero khuyên rằng phụ nữ trong tuổi sinh sản nên dùng các biện pháp tránh thai nếu sử dụng thuốc giảm đau có gốc thuốc phiện. Nếu dự định mang thai, phụ nữ nên nói cho bác sỹ tất cả các loại thuốc mình đang dùng để có thể thay đổi an toàn hơn.
Ở Mỹ, mỗi 4,5 phút có một trẻ dị tật bẩm sinh ra đời, và 1/5 qua đời trong năm đầu tiên vì những dị tật này. Điều trị những dị tật bẩm sinh tiêu phí 2,6 tỉ USD hàng năm của Mỹ.
Chữa dị ứng bằng kháng histamin cần lưu ý
Một trong những thuốc được dùng để ứng phó với tình trạng dị ứng là dùng các thuốc kháng histamin. Tuy nhiên người dùng cần hiểu rõ được những ưu và nhược điểm của thuốc để dùng sao cho an toàn, hiệu quả…nhất là khi các thuốc này lại khá sẵn và dễ mua trên thị trường.
Dị ứng là một phản ứng mạnh của hệ miễn dịch đối với một loại chất mà cơ thể coi là có hại. Nếu bạn mắc chứng dị ứng và tiếp xúc với một chất gây dị ứng, hệ miễn dịch sẽ chống lại bằng cách tạo ra các kháng thể, khiến cơ thể giải phóng các chất hóa học có tên gọi histamin, gây ra các triệu chứng như hắt hơi liên tục, ngạt mũi, ngứa mũi hoặc chảy nước mũi, ngứa, nổi mẩn, đỏ mắt, chảy nước mắt...
Các thuốc kháng histamine có tác dụng điều trị các triệu chứng dị ứng như mày đay, ngứa, hắt hơi, chảy nước mũi, viêm kết mạc dị ứng. Thuốc cũng được dùng để chữa ngứa trong một số bệnh ngoài da như eczema, thủy đậu và điều trị dị ứng do thuốc, thức ăn, côn trùng đốt…
Thuốc có thể làm giảm, hoặc chặn lại các histamine gây ra các triệu chứng trên. Vì thế, sau khi uống, gần như người bệnh sẽ cảm thấy giảm hoặc hết các triệu chứng khó chịu này.
Dùng loại thuốc nào cũng cần cảnh giác với tác dụng phụ của thuốc
Các loại kháng histamin
Kháng histamin thế hệ cũ: Điển hình là các thuốc như chlorphenamin, promethazin, alimemazin… Cụ thể:
Chlorpheniramin là thuốc được dùng rất phổ biến trong viêm mũi dị ứng mùa và quanh năm và những triệu chứng dị ứng khác như: mày đay, viêm mũi vận mạch do histamin, viêm kết mạc dị ứng, viêm da tiếp xúc, phù mạch, phù Quincke, dị ứng thức ăn, phản ứng huyết thanh; côn trùng đốt; ngứa ở người bệnh bị sởi hoặc thủy đậu.
Hiện nay, chlorpheniramin thường được phối hợp trong một số chế phẩm bán trên thị trường để điều trị triệu chứng ho và cảm lạnh. Tuy nhiên, thuốc không có tác dụng trong điều trị triệu chứng nhiễm virus.
Promethazin có tác dụng kháng histamin và an thần mạnh được dùng để chữa triệu chứng hoặc đề phòng các phản ứng quá mẫn (như mày đay, phù mạch, viêm mũi, viêm kết mạc và ngứa), để an thần ở cả trẻ em (trừ trẻ nhỏ) và người lớn, cũng như để giảm lo âu và tạo giấc ngủ nhẹ, người bệnh dễ dàng tỉnh dậy; Phòng và điều trị say tàu xe…
Không dùng thuốc cho người bệnh ở trạng thái hôn mê, người bệnh đang dùng các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương với liều lớn (như rượu, thuốc an thần gây ngủ, thuốc mê, các thuốc giảm đau gây ngủ, thuốc trấn tĩnh...), mẫn cảm với promethazin, trẻ đẻ non hoặc sơ sinh (vì nhóm này thường rất dễ nhạy cảm với tác dụng ức chế hô hấp và kháng cholinergic ở thần kinh trung ương của thuốc), trẻ em dưới 2 tuổi (vì nguy cơ gây ngừng thở trung ương và do tắc nghẽn, có thể dẫn đến tử vong do ngừng thở lúc ngủ và giảm tỉnh táo).
Alimemazin là thuốc dùng trong các trường hợp dị ứng hô hấp (viêm mũi, hắt hơi, sổ mũi) và ngoài da (mày đay, ngứa). Thuốc còn có tác dụng an thần (dùng điều trị mất ngủ của trẻ em và người lớn), giảm ho, chống nôn (điều trị nôn thường xuyên ở trẻ em)…
Không dùng cho người rối loạn chức năng gan hoặc thận, động kinh, bệnh Parkinson, thiểu năng tuyến giáp, bệnh nhược cơ, phì đại tuyến tiền liệt, trẻ em dưới 2 tuổi… Thận trọng khi dùng cho người cao tuổi, đặc biệt khi thời tiết rất nóng hoặc rất lạnh (gây nguy cơ tăng hoặc hạ nhiệt).
Kháng histamin thế hệ mới: Gồm các thuốc điển hình như cetirizin, loratadin, fexofenadine…
Cetirizin dùng trong các trường hợp điều trị triệu chứng viêm mũi dị ứng dai dẳng, viêm mũi dị ứng theo mùa, mày đay mạn tính vô căn ở người lớn và trẻ em trên 12 tuổi và viêm mũi dị ứng theo mùa ở trẻ em trên 12 tuổi; viêm kết mạc dị ứng.
Đây là thuốc kháng histamin mạnh có tác dụng chống dị ứng, nhưng không gây buồn ngủ ở liều dược lý. Thuốc ức chế giai đoạn sớm của phản ứng dị ứng qua trung gian histamin và cũng làm giảm sự di dời của các tế bào viêm và giảm giải phóng các chất trung gian ở giai đoạn muộn của phản ứng dị ứng.
Tránh dùng đồng thời cetirizin với rượu và các thuốc ức chế thần kinh trung ương, vì làm tăng thêm tác dụng của các thuốc này, sẽ gây ra những tác dụng bất lợi.
Loratadin có tác dụng làm nhẹ bớt triệu chứng của viêm mũi và viêm kết mạc dị ứng, có tác dụng chống ngứa và nổi mày đay liên quan đến histamin. Tuy nhiên, loratadin không có tác dụng bảo vệ hoặc trợ giúp lâm sàng đối với trường hợp giải phóng histamin nặng như choáng phản vệ. Nên sử dụng loratadin với liều thấp nhất mà có hiệu quả.
Fexofenadine là thuốc chống dị ứng thế hệ mới, có tác dụng kéo dài để điều trị dị ứng, không có tác dụng an thần gây ngủ. Thuốc dùng điều trị các triệu chứng viêm mũi dị ứng ở người lớn và trẻ em trên 12 tuổi như hắt hơi, chảy nước mũi, ngứa vòm miệng- họng, ngứa đỏ mắt và chảy nước mắt... Một số tác dụng phụ có thể gặp như buồn nôn, khó tiêu, mệt mỏi...
Khi dùng thuốc chống dị ứng cần lưu ý, uống thuốc càng sớm càng tốt, không tự động uống tăng liều mặc dù mức độ biểu hiện có trầm trọng hơn.
Với các thuốc thế hệ mới có tác dụng kéo dài nên chỉ cần uống 1 viên 1 ngày là đủ. Tránh dùng chung với thuốc chống nấm và các thuốc điều trị bệnh dạ dày đi kèm. Bên cạnh việc dùng thuốc, điều quan trọng cần tránh tiếp xúc với tác nhân gây dị ứng.
Và những hạn chế của thuốc
Bên cạnh tác dụng chữa bệnh thuốc chống dị ứng có thể gây ra những tác dụng không mong muốn mà người dùng cần thận trọng để phòng tránh những tác hại do thuốc gây ra.
Đối với các thuốc kháng histamin cũ, ngoài tác dụng chống dị ứng chúng còn có khả năng ngấm vào thần kinh trung ương (qua hàng rào máu não) gây ra ngủ gà ngủ gật. Điều này sẽ vô cùng nguy hiểm khi người bệnh uống thuốc vào lại phải làm những công việc đòi hỏi sự tỉnh táo như làm những công việc trên cao, lái xe, vận hành máy móc...
Vì vậy, nên dùng các thuốc thế hệ cũ như chlopheniramin, promethazin... vào buổi tối. Trường hợp uống thuốc vào ban ngày người bệnh cần được nghỉ ngơi. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng trên hệ thần kinh thực vật cholinergic.
Hệ thần kinh này chịu trách nhiệm kích thích tiết ra nước bọt và dịch tiêu hoá. Khi uống thuốc người bệnh có cảm giác ăn cơm không thấy ngon, khô môi, khô miệng. Nếu người bệnh đang dùng thuốc điều trị dạ dày mà dùng cùng thuốc chống dị ứng sẽ làm giảm tác dụng của thuốc điều trị bệnh.
Các thuốc kháng histamin mới hạn chế được nhược điểm là không ngấm qua hàng rào máu não nên ít hoặc không gây tác dụng an thần (ngủ gà), nhưng lại tác động xấu tới hệ tim mạch trong đó làm rối loạn hoạt động của tim.
Trên bản ghi điện tim người ta quan sát được tình trạng thời khoảng QT kéo dài. Trong khi đó khoảng QT kéo dài là một biến cố rất không mong muốn vì nó hoàn toàn có thể gây ra xoắn đỉnh rất nguy hiểm. Hiện tượng gây rối loạn hoạt động của tim được thấy rõ nhất với terfenadin.
Để dùng thuốc an toàn, khi dùng các thuốc này, người bệnh nên đọc kĩ thông tin về thuốc và tuân thủ liều dùng và tìm cách khắc phục hạn chế của thuốc.
Ví dụ, đối với một số thuốc gây buồn ngủ, tránh làm những hoạt động cần sự tỉnh táo khi dùng thuốc, tránh dùng thuốc cùng với rượu, bia, thuốc an thần (vì sẽ làm cho tình trạng buồn ngủ tồi tệ hơn).
Những bệnh nhân có bệnh mãn tính như glocom, hoặc phì tuyến tiền liệt nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng một số loại thuốc kháng histamine nhất định.
11 loại thuốc “chống chỉ định” cho trẻ nhỏ
Aspirin: Có nhiều tác dụng phụ liên quan đến dạ dày, chẳng hạn như gây đau hay gây xuất huyết tiêu hóa ở cơ quan này. Với trẻ em, aspirin có thể gây hội chứng Reye - một biến chứng rất nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong. Vì vậy, không bao giờ được dùng aspirin cho trẻ. Bạn phải chắc chắn rằng các loại thuốc chuẩn bị cho con mình không chứa aspirin (bằng cách đọc kỹ thành phần).
Thuốc chống nôn: Việc dùng loại thuốc này không đúng liều có thể làm trẻ bị ngộ độc. Vì vậy, chỉ được dùng thuốc chống nôn khi có chỉ định của bác sĩ. Không nên quá lo lắng về tình trạng nôn của trẻ vì thông thường trẻ chỉ nôn vài lần rồi ngưng. Tuy nhiên, nếu trẻ có biểu hiện mất nước và điện giải thì phải đưa đi khám bác sĩ ngay.
Thuốc chống ho và thuốc cảm. Tháng 10/2007 Cục quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ cho biết không nên dùng những loại thuốc chống ho và thuốc cảm cho bé dưới 6 tuổi. Mặc dù rất ít và chưa có nghiên cứu nào đưa ra chính xác hậu quả của loại thuốc này đối với trẻ nhưng nó cũng ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, đặc biệt nếu dùng quá liều thì rất nguy hiểm. Nếu con bạn dưới 6 tuổi mà bị cảm lạnh thì cần đến bác sĩ và dùng cách khác thay vì dùng loại thuốc trên.
Thuốc tăng trưởng. Chỉ với một lượng nhỏ thuốc tăng trưởng (dùng để kích thích lớn nhanh) sẽ là rất nguy hiểm đối với trẻ nhỏ. Nếu nhãn thuốc không chỉ dẫn liều lượng dùng cho trẻ thì tốt nhất bạn không nên cho trẻ uống.
Thuốc được kê cho trẻ khác hay chứng bệnh khác: Rất nhiều bà mẹ trong lúc bối rối vì con ốm đã dễ dàng nghe theo lời khuyên của bạn bè, dùng lại đơn thuốc trước đó của con bạn nếu 2 đứa trẻ có một số triệu chứng na ná nhau. Điều này chẳng những không mang lại hiệu quả điều trị mà còn có thể gây nguy hiểm. Vì vậy, chỉ nên cho trẻ dùng thuốc theo đơn mà bác sĩ chỉ định cho chính con bạn. Cũng không nên vì thấy đơn thuốc có hiệu quả mà dùng lại cho lần sau, vì chưa chắc lần sau con bạn sẽ bị bệnh với mức độ tương tự lần trước.
Thuốc kết hợp nhiều hoạt chất: Một số loại thuốc kết hợp nhiều hoạt chất khác nhau, trong đó có những thành phần không phù hợp với trẻ. Ví dụ, các loại thuốc cảm kết hợp paracetamol với codein hay thuốc kháng viêm không steroide nhằm tăng cường tác dụng giảm đau. Do đó, nếu không am hiểu lắm thì cách tốt nhất là nên hỏi ý kiến bác sĩ và dược sĩ về những loại thuốc bạn đang định dùng cho trẻ.
Thuốc acetaminophen. Một số loại thuốc có chứa acetaminophen để giúp điều trị cơn sốt và đau dễ dàng nhưng hãy cẩn thận và không tự ý cho bé uống acetaminophen. Nếu bạn không chắc chắn về thành phần có trong một loại thuốc nào đó có chứa acetaminophen hoặc ibuprofen hay không, hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ của bạn.
Thuốc dạng viên uống hay viên nhai: Các thuốc dạng này có thể gây nguy hiểm cho trẻ vì chúng dễ lọt vào đường thở
Thuốc dành cho người lớn. Cho bé uống liều nhỏ thuốc dành cho người lớn cũng rất nguy hiểm. Hơn nữa hãy cẩn thận với lượng thuốc bạn cho con uống. Nếu nhãn thuốc không chỉ rõ liều lượng thích hợp cho trọng lượng và tuổi của con bạn thì không nên cho bé uống thuốc đó.
Thuốc xi-rô. Những dạng thuốc xi-rô có thể ra nôn mửa và được sử dụng để phòng ngừa ngộ độc. Các bác sĩ khuyên bạn không nên sử dụng xi-rô ipecac cho các bé uống vì không có bằng chứng cho thấy thuốc chống nôn lại giúp điều trị ngộ độc.
Bất kì loại thuốc nào đã hết hạn. Hãy bỏ đi các loại thuốc (kể cả loại tự mua hay thuốc kê đơn của bác sĩ) ngay khi chúng hết hạn sử dụng. Kể cả khi thuốc còn hạn nhưng đã bị biến màu (không còn màu sắc như ban đầu khi mua) hoặc dễ vỡ vụn khi chạm vào đều phải bỏ đi. Dùng thuốc quá hạn hay còn nhưng do để lâu không biết bảo quản đều không còn tác dụng của thuốc, thậm chí còn gây hại cho cơ thể. Đặc biệt trẻ nhỏ có thể không biết và lấy chúng để ăn, đồng thời không vứt thuốc vào trong nhà vệ sinh sẽ làm bẩn nguồn nước xung quanh và nơi cung cấp nước uống cho gia đình bạn.
Uống thuốc giảm đau càng đau đầu
Nguyên nhân gây ra đau đầu có thể do tổn thương trực tiếp (chấn thương do tai nạn giao thông, tai nạn lao động...) hay bị nhiễm khuẩn (như trong bệnh viêm màng não hay nhiễm vi khuẩn, virut...) còn có những nguyên nhân gián tiếp trong cơ thể gây ra đau đầu.
Đau đầu có thể diễn ra khi hệ thần kinh-mạch máu có những biến đổi hoặc bị tổn thương, nhất là những bệnh về thần kinh hoặc căng thẳng tâm lý. Nhiều khi đau nhức đầu cũng diễn ra do lực căng các cơ bị co giãn quá mức kích thích lên thần kinh trung ương. Các bộ phận ở đầu bị viêm nhiễm cũng gây đau như viêm xoang, đau mắt, đau răng...
Những người nhạy cảm với thời tiết dễ bị đau nhức đầu khi trái gió, trở trời. Các thuốc giảm đau thường được sử dụng trong các trường hợp này.
![]() |
| Uống thuốc giảm đau làm tăng số lượng các cơn đau đầu |
Tuy nhiên, có một nghịch lý là nếu càng lạm dụng thuốc giảm đau thì không những cơn đau không dứt mà lại có nguy cơ diễn ra nhiều hơn có thể chuyển sang đau đầu do thuốc. Nhiều loại thuốc giảm đau nói riêng cũng như một số thuốc chữa bệnh khác có phản ứng phụ gây đau nhức đầu.
GS Gillian Leng, phó giám đốc điều hạnh của Viện quốc gia Anh về chăm sóc sức khỏe cho biết rằng những người sử dụng quá liều thuốc giảm đau để điều trị đau đầu có thể làm tăng thêm số lượng những cơn đau đầu.
"Con người có thể không biết rằng lạm dụng một số loại thuốc điều trị đau đầu hoặc đau nửa đầu thực sự có thể làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn", bà này nhấn mạnh.
Ông Sam Chong, nhà thần kinh học cho hay hiệu quả của việc điều trị chứng đau đầu phụ thuộc vào việc thực hiện chẩn đoán chính xác và thống nhất những phương pháp điều trị thích hợp.
![]() |
| Thường xuyên các loại thuốc như codein, paracetamol, ibuprofen và aspirin thường xuyên có thể là lý do chính khiến các cơn đau đầu bị lặp đi lặp lại nhiều lần sau đó |
Theo nhiều dữ liệu thu thập được, ước tính có khoảng 500.000 phụ nữ và 100.000 người Anh bị đau đầu hàng ngày do lạm dụng thuốc giảm đau.
Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thường xuyên các loại thuốc như codein, paracetamol, ibuprofen và aspirin thường xuyên có thể là lý do chính khiến các cơn đau đầu bị lặp đi lặp lại nhiều lần sau đó.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng những người bị đau đầu sẽ uống thuốc giảm đau trong thời gian dài, tuy nhiên, chính điều này lại gây nên hiện tượng kháng thuốc, do đó, người bệnh sẽ cần đến những liều thuốc mạnh hơn, khi thuốc hết tác dụng, cơn đau đầu sẽ trở lại và khiến họ phải dùng liều lượng lớn hơn.
Vấn đề đau đầu thường xuyên trở lại do lạm dụng thuốc thường phổ biến hơn ở phụ nữ. TS Anne Gregor, giám đốc nghiên cứu lâm sàng tại phòng khám Đau nửa đầu Lodon khuyến cáo người bệnh không nên dùng thuốc giảm đau quá 2 đến 3 lần một tuần, giải pháp duy nhất để ngừng các cơn đau đầu quay trở lại là ngưng sử dụng loại thuốc gây ra chúng và tìm phương pháp điều trị thích hợp khác.
Những loại thuốc làm quý ông “yếu thế” trên giường
Các thuốc chống trầm cảm. Nhóm các thuốc ức chế men monamine oxidase như phenelzine, isocarboxazid… có nguy cơ rõ rệt gây suy giảm khả năng tình dục. Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng như amitriptylline, desipramine, nortriptylline… cũng được ghi nhận gây bất lực trong một số trường hợp, nhưng tỷ lệ gặp thấp hơn so với nhóm thuốc trên.
Thuốc tim mạch. Hầu hết các nhóm thuốc dùng trong điều trị tăng huyết áp đều có thể gây bất lực ở các mức độ khác nhau do có tác dụng trực tiếp trên hệ thống mạch máu và làm giảm áp lực máu tại cơ quan sinh dục. Các tác nhân huỷ giao cảm trung tâm như a-methyldopa, clonidine và guanfacine gây suy giảm khả năng tình dục ở khoảng 20- 80% số người sử dụng. Một số thuốc điều trị các bệnh tim mạch khác như digoxin, disopyramidole, các thuốc hạ mỡ máu đều được ghi nhận có thể gây giảm khả năng cương cũng như ham muốn tình dục ở nam giới.
Thuốc tiêu hoá. Các thuốc ức chế tiết dịch vị như cimetidine, ranitidine, famotidine và omeprazole có thể gây ra bất lực và biểu hiện đau khi xuất tinh trong một số trường hợp, cơ chế có thể do tác dụng kháng androgen của thuốc. Metoclopramide (một loại thuốc chống nôn) cũng có thể gây giảm hứng thú tình dục và rối loạn chức năng cương ở nam giới do làm tăng nồng độ prolactin trong máu.
Hoá trị liệu chống ung thư. Rất nhiều loại hoá chất chống ung thư, đặc biệt là methotrexate, có thể gây ức chế hoạt động của các tuyến sinh dục ở cả nam và nữ giới. Một số thuốc có thể gây suy giảm chức năng tình dục không hồi phục như cyclophosphamide.
Dẫn xuất thuốc phiện. Các dẫn xuất thuốc phiện đều gây giảm hứng thú tình dục và mất khoái cảm ở cả nam và nữ cũng như chứng bất lực ở nam. Cơ chế có thể do thuốc làm thay đổi nồng độ testosterone trong máu.
Thuốc kích dục. Một số nam giới hiểu sai tác dụng của các loại thuốc điều trị yếu sinh lý. Họ lạm dụng, coi đó là thần dược trong đời sống tình dục, từ đó phải hứng chịu hậu quả khôn lường, mất khả năng quan hệ, thậm chí vô sinh.
Nhầm lẫn chết người về thuốc kích dục và thuốc cường dương
1. Lẫn hai thành một
2. Cường dương có tăng thụ thai?
7. Kéo tình dục dài bất tận
Tác dụng của hai thuốc này lại không hề giống nhau. Thuốc kích dục là những thuốc làm gia tăng khả năng ham muốn tình dục, trong khi đó thuốc cường dương thì lại không kích thích vào chuyện ham muốn.
Chúng chỉ có tác dụng để dụng cụ "sung sướng" của cánh mày râu mạnh mẽ lên mà thôi. Một bên kích dục là dẫn xuất của hormon sinh dục nam, một bên cường dương là thuốc tác động lên hệ mạch, vì vậy chúng không giống nhau.
Chúng chỉ có tác dụng để dụng cụ "sung sướng" của cánh mày râu mạnh mẽ lên mà thôi. Một bên kích dục là dẫn xuất của hormon sinh dục nam, một bên cường dương là thuốc tác động lên hệ mạch, vì vậy chúng không giống nhau.
2. Cường dương có tăng thụ thai?
Chúng ta cứ chắc mẩm rằng dùng thuốc cường dương thì "chuyện ấy" sẽ khỏe hơn, dai hơn và do đó dễ có thai hơn. Thế nên nhiều người muốn "chắc ăn" chuyện "bầu bí" đã dùng thuốc cường dương mặc dù anh ta chẳng bị rối loạn cương.
Sự thực thì cường dương và thụ thai chẳng liên quan đến nhau. Bởi vì chuyện thụ thai là chuyện của "cô bé trứng" và "cậu bé tinh trùng". Còn cường dương thì lại gắn kết chặt chẽ với dương vật.
Thuốc cường dương chỉ làm cho dương vật "cứng cáp" chứ không thể giúp cho tinh trùng được sản sinh. Vì thế nếu bạn muốn có kết quả thì hãy dùng cách khác nhé, chớ có uống bừa thuốc cường dương.
Thuốc cường dương chỉ làm cho dương vật "cứng cáp" chứ không thể giúp cho tinh trùng được sản sinh. Vì thế nếu bạn muốn có kết quả thì hãy dùng cách khác nhé, chớ có uống bừa thuốc cường dương.
3. Kích dục có chữa được liệt dương?
Kích dục làm tăng kích thích tình dục nên chắc nó có thể chống được liệt dương? Vì thế, nhiều mày râu đã lựa chọn sự kết hợp hai loại thuốc vừa cường dương vừa kích dục cho nó oách, chắc là hai thứ cộng dồn thì sẽ khỏe hơn một thứ.
Sự thực thì mối liên hệ giữa kích dục và cương cứng khá lỏng lẻo rất ít phụ thuộc. Kích dục cốt chỉ có tác dụng làm tăng ham muốn, nhưng nó không thể làm cho dương vật cương cứng được.
Đơn cử như nhiều ông chồng rất ham muốn chuyện ấy nhưng khốn nỗi "trên bảo dưới lại không nghe". Ở đây ham muốn tình dục không giảm nhưng độ cứng dương vật giảm rõ. Nếu muốn cường dương chuẩn, bạn phải dùng đúng cách, chứ không phải là dùng chung hai thứ cho nó mạnh.
Đơn cử như nhiều ông chồng rất ham muốn chuyện ấy nhưng khốn nỗi "trên bảo dưới lại không nghe". Ở đây ham muốn tình dục không giảm nhưng độ cứng dương vật giảm rõ. Nếu muốn cường dương chuẩn, bạn phải dùng đúng cách, chứ không phải là dùng chung hai thứ cho nó mạnh.
4. Cường dương có tăng được ham muốn?
Sự thực thì không thể dùng thuốc cường dương để lấy lại ham muốn tình dục. Vì thuốc cường dương chỉ tác động vào hệ mạch máu dương vật, nó không có kích thích vào trung tâm tình dục vùng dưới đồi. Nên đương nhiên nó sẽ không thể giúp bạn lấy lại được ham muốn tình dục.
5. Rượu đẩy cường dương mạnh
Rượu đúng là làm cho dương vật dễ cương hơn, nhưng không phải vì thế mà nó làm gia tăng khả năng cương cứng. Nó dễ cương hơn nhưng cũng dễ xuống hơn. Nếu chúng ta lạm dụng rượu quá nhiều thì có thể làm cho dương vật không thể cứng được do bị ức chế thần kinh. Lúc này thuốc cường dương cũng chịu thua.
6. Không liệt dương vẫn dùng thoải mái
Nhiều người quan niệm rằng, người bị liệt dương mà dùng thuốc cường dương còn "lên" được thì đối với người bình thường không bị liệt dương dùng thuốc càng làm cho "cậu nhỏ" sung mãn hơn.
Sự thực thì thuốc chỉ dành cho người liệt dương. Độ cứng của dương vật hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động của thể hang và vật xốp trong dương vật. Nó đã được mặc định tối đa ở những người không bị liệt dương.
Độ cứng của nó, thời gian của nó không thể tối đa thêm. Cho nên dù dùng hay không dùng thì bạn cũng không thể làm thay đổi được điều này.
Mặt khác, thuốc cường dương có rất nhiều tác dụng phụ, dùng là bạn sẽ bị "dính" các tác dụng không mong muốn này. Vì thế nó không là loại thuốc có thể dùng vô tư cho cả người chẳng bị sao.
Độ cứng của nó, thời gian của nó không thể tối đa thêm. Cho nên dù dùng hay không dùng thì bạn cũng không thể làm thay đổi được điều này.
Mặt khác, thuốc cường dương có rất nhiều tác dụng phụ, dùng là bạn sẽ bị "dính" các tác dụng không mong muốn này. Vì thế nó không là loại thuốc có thể dùng vô tư cho cả người chẳng bị sao.
7. Kéo tình dục dài bất tận
Thuốc kích dục không là liều thuốc tiên bảo trợ cho cuộc sống tình dục của bạn kéo dài hơn mong tưởng. Đúng là thuốc làm gia tăng ham muốn thật nhưng nó lại không thể kéo dài ham muốn khi cơ thể đã về già.
Nó chỉ là thuốc dẫn xuất của hormon nên chỉ có tác dụng khi trung tâm tình dục hoạt động tốt. Nhưng nó không có khả năng làm trung tâm tình dục trẻ lại nên nó không có tác dụng. Cho nên, đừng có cố uống thuốc kích dục hàng ngày để mong kéo dài đời sống tình dục.
Nó chỉ là thuốc dẫn xuất của hormon nên chỉ có tác dụng khi trung tâm tình dục hoạt động tốt. Nhưng nó không có khả năng làm trung tâm tình dục trẻ lại nên nó không có tác dụng. Cho nên, đừng có cố uống thuốc kích dục hàng ngày để mong kéo dài đời sống tình dục.
8. Thuốc chỉ tác động vào tình dục
Quan niệm sai lầm là thuốc kích dục và thuốc cường dương là những thuốc làm gia tăng chuyện "sung sướng" nên nó chỉ tác động vào cơ quan tình dục. Nếu dùng quá liều thì chắc chỉ cơ quan tình dục chịu, cũng chẳng "chết" được mà lo.
Sự thực, nếu bạn dùng không đúng thì có thể không giải quyết được vấn đề mà còn phải hứng chịu thêm những tác dụng không mong muốn của thuốc.
Bởi hai loại thuốc này không chỉ tác động vào tình dục mà còn tác động vào nhiều cơ quan khác nữa, sẽ gây biến đổi nội tiết, tụt huyết áp nghiêm trọng. Trên thực tế đã có nhiều "hồ sơ tử" dùng thuốc cường dương tùy tiện.
Bởi hai loại thuốc này không chỉ tác động vào tình dục mà còn tác động vào nhiều cơ quan khác nữa, sẽ gây biến đổi nội tiết, tụt huyết áp nghiêm trọng. Trên thực tế đã có nhiều "hồ sơ tử" dùng thuốc cường dương tùy tiện.
Đề phòng tác dụng phụ khi dùng alimemazin chống dị ứng
Khi bị dị ứng hô hấp bạn thường có các triệu chứng như hắt hơi, sổ mũi, viêm mũi hay bị dị ứng ngoài da với biểu hiện mày đay, ngứa... thì một trong những thuốc để dùng để ứng phó với tình trạng này là alimemazin. Đây là một thuốc kháng histamin dùng trong điều trị dị ứng.
Thuốc còn có tác dụng an thần (dùng điều trị mất ngủ ở trẻ em và người lớn), giảm ho, chống nôn (dùng trong trường hợp nôn thường xuyên ở trẻ em).
Không dùng thuốc này trong các trường hợp sau: Người rối loạn chức năng gan hoặc thận, động kinh, bệnh Parkinson, thiểu năng tuyến giáp, bệnh nhược cơ, phì đại tuyến tiền liệt; Không dùng cho người mẫn cảm với phenothiazin hoặc có tiền sử mắc bệnh glôcôm góc hẹp, trẻ em dưới 2 tuổi.
Trong thời gian uống thuốc không được uống rượu hoặc không dùng đồng thời với các thuốc ức chế thần kinh khác, vì dễ gây tương tác thuốc nguy hiểm cho người dùng.

Tránh dùng thuốc cho người mang thai (trừ khi thầy thuốc cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ chỉ định dùng) vì đã có thông báo alimemazin gây vàng da, và các triệu chứng ngoại tháp ở trẻ nhỏ mà người mẹ đã dùng thuốc này khi mang thai.
Thuốc có thể bài tiết vào sữa mẹ, vì vậy không nên dùng thuốc cho người mẹ cho con bú hoặc phải ngừng cho con bú trong thời gian dùng thuốc.
Khi dùng thuốc cho người cao tuổi cần hết sức thận trọng, vì dễ có nguy cơ tăng hoặc hạ nhiệt cơ thể, nhất là khi thời tiết rất nóng hoặc rất lạnh. Người cao tuổi cũng rất dễ bị giảm huyết áp thế đứng. Ngoài ra, thuốc có thể gây ngủ gà, đặc biệt là trong những ngày đầu điều trị nên người bệnh không nên điều khiển xe và máy móc trong những ngày dùng thuốc.
Bên cạnh những trường hợp cần lưu ý trên, thì người dùng cần biết để phòng và khắc phục các tác dụng không mong muốn của thuốc có thể xảy ra.
Tần suất xảy ra tác dụng không mong muốn phụ thuộc vào liều và thời gian sử dụng, vào chỉ định điều trị. Các biểu hiện thường gặp nhất là mệt mỏi, uể oải, đau đầu, chóng mặt nhẹ; khô miệng, đờm đặc.
Ngoài ra, một số người còn bị táo bón, bí tiểu, rối loạn điều tiết mắt khi dùng thuốc. Cần đề phòng với triêu chứng ngoại tháp; Nguy cơ ngừng hô hấp, thậm chí gây tử vong đột ngột đã gặp ở trẻ nhỏ.
Biểu hiện của triệu chứng ngoại tháp do thuốc gây ra gồm các phản ứng tăng trương lực cơ, cảm giác luôn luôn vận động không nghỉ (nghĩa là chứng nằm, ngồi không yên) và các dấu hiệu, triệu chứng Parkinson.
Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng ngồi không yên thường tự động thuyên giảm. Tuy nhiên nếu chứng này gây khó chịu, thường có thể kiểm soát chứng này bằng giảm liều thuốc...


Thứ Sáu, tháng 6 19, 2015
sống khỏe

