
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015
Đề phòng tác dụng phụ khi dùng alimemazin chống dị ứng
Khi bị dị ứng hô hấp bạn thường có các triệu chứng như hắt hơi, sổ mũi, viêm mũi hay bị dị ứng ngoài da với biểu hiện mày đay, ngứa... thì một trong những thuốc để dùng để ứng phó với tình trạng này là alimemazin. Đây là một thuốc kháng histamin dùng trong điều trị dị ứng.
Thuốc còn có tác dụng an thần (dùng điều trị mất ngủ ở trẻ em và người lớn), giảm ho, chống nôn (dùng trong trường hợp nôn thường xuyên ở trẻ em).
Không dùng thuốc này trong các trường hợp sau: Người rối loạn chức năng gan hoặc thận, động kinh, bệnh Parkinson, thiểu năng tuyến giáp, bệnh nhược cơ, phì đại tuyến tiền liệt; Không dùng cho người mẫn cảm với phenothiazin hoặc có tiền sử mắc bệnh glôcôm góc hẹp, trẻ em dưới 2 tuổi.
Trong thời gian uống thuốc không được uống rượu hoặc không dùng đồng thời với các thuốc ức chế thần kinh khác, vì dễ gây tương tác thuốc nguy hiểm cho người dùng.

Tránh dùng thuốc cho người mang thai (trừ khi thầy thuốc cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ chỉ định dùng) vì đã có thông báo alimemazin gây vàng da, và các triệu chứng ngoại tháp ở trẻ nhỏ mà người mẹ đã dùng thuốc này khi mang thai.
Thuốc có thể bài tiết vào sữa mẹ, vì vậy không nên dùng thuốc cho người mẹ cho con bú hoặc phải ngừng cho con bú trong thời gian dùng thuốc.
Khi dùng thuốc cho người cao tuổi cần hết sức thận trọng, vì dễ có nguy cơ tăng hoặc hạ nhiệt cơ thể, nhất là khi thời tiết rất nóng hoặc rất lạnh. Người cao tuổi cũng rất dễ bị giảm huyết áp thế đứng. Ngoài ra, thuốc có thể gây ngủ gà, đặc biệt là trong những ngày đầu điều trị nên người bệnh không nên điều khiển xe và máy móc trong những ngày dùng thuốc.
Bên cạnh những trường hợp cần lưu ý trên, thì người dùng cần biết để phòng và khắc phục các tác dụng không mong muốn của thuốc có thể xảy ra.
Tần suất xảy ra tác dụng không mong muốn phụ thuộc vào liều và thời gian sử dụng, vào chỉ định điều trị. Các biểu hiện thường gặp nhất là mệt mỏi, uể oải, đau đầu, chóng mặt nhẹ; khô miệng, đờm đặc.
Ngoài ra, một số người còn bị táo bón, bí tiểu, rối loạn điều tiết mắt khi dùng thuốc. Cần đề phòng với triêu chứng ngoại tháp; Nguy cơ ngừng hô hấp, thậm chí gây tử vong đột ngột đã gặp ở trẻ nhỏ.
Biểu hiện của triệu chứng ngoại tháp do thuốc gây ra gồm các phản ứng tăng trương lực cơ, cảm giác luôn luôn vận động không nghỉ (nghĩa là chứng nằm, ngồi không yên) và các dấu hiệu, triệu chứng Parkinson.
Các dấu hiệu và triệu chứng của chứng ngồi không yên thường tự động thuyên giảm. Tuy nhiên nếu chứng này gây khó chịu, thường có thể kiểm soát chứng này bằng giảm liều thuốc...
Nhiễm độc gan, viêm gan do dùng thuốc Tây
Rủi ro khi tự mua thuốc điều trị
Khi bị cảm cúm, tiêu chảy, sốt… người bệnh thường tự mua thuốc dùng. Họ quen tự ý dùng thuốc, vì nghĩ rằng thuốc tốt cho người này thì cũng tốt cho người khác, đơn bác sĩ kê dùng được nhiều lần. Trong khi dùng thuốc không đúng sẽ rất hại gan, thận.
Gan chuyển hóa, biến thuốc thành những chất mà cơ thể cần để chữa bệnh, bài trừ độc tố. Thế nhưng chính gan có thể bị độc tố tấn công. Ngay cả thuốc không độc nhưng sau khi được chuyển hóa tại gan, cũng có thể độc hại gan.
Nhiễm độc gan do thuốc gây tăng men gan không triệu chứng hoặc suy gan tối cấp. Nếu dùng thuốc Tây liên tục (tiểu đường, huyết áp...) thì gan vẫn bị nhiễm độc, viêm ngay cả khi đã ngưng dùng.
Những loại thuốc có khả năng gây hại
Sự đa dạng của tân dược ngày càng gây nhiều tác dụng phụ, gây độc hại cho gan. Phần lớn tân dược ít nhiều đều bất lợi cho gan. Tân dược có thể gây hại cho gan, từ nhẹ cấp tính đến nặng mạn tính.
Hiện có hơn 1.000 loại thuốc làm tổn thương gan, gồm hai nhóm: Một là các thuốc được chuyển hóa ở gan gây tổn thương hệ thống khử độc ở gan, gây ngộ độc gan do sử dụng quá liều, kéo dài; hai là các thuốc quá nhạy với cơ thể, dù chỉ một liều lượng nhỏ cũng gây viêm gan, hay gặp ở những người có cơ địa dị ứng.
Dùng nhiều thuốc Tây, dài ngày có thể làm gan nhiễm mỡ, ứ mật, gây u gan, xơ gan, vàng da và nhiều bệnh gan khác. Trẻ em dễ bị ngộ độc hơn người lớn, phụ nữ bị ngộ độc nhiều hơn nam. Người uống rượu dễ bị ngộ độc hơn, những người uống rượu, bệnh AIDS, suy dinh dưỡng... cũng dễ bị nhiễm độc.
Dùng thuốc đúng cách
Người bệnh chỉ uống thuốc khi cần thiết, đúng chỉ định, liều lượng, cần uống với nhiều nước để giải độc cho gan được dễ dàng. Thận trọng khi sử dụng thuốc, không tự tiện mua thuốc dùng, không tự ngưng, giảm, tăng liều. Khi dùng thuốc, nếu có biểu hiện khác thường thì cần được kiểm tra đánh giá và có những biện pháp kịp thời.
Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015
Những loại thuốc không được bẻ nhỏ hoặc nhai
Có rất nhiều dạng thuốc viên không nên nhai hoặc bẻ nhỏ. Việc làm này sẽ phá vỡ cấu trúc giải phóng, làm thay đổi dược động học của thuốc và có thể xảy ra độc tính cho người dùng.
Với một số bệnh nhân đặc biệt (trẻ em, người mắc bệnh nuốt khó hay bệnh nhân có đặt ống thông dạ dày, người cao tuổi), rất khó khăn khi phải uống nguyên viên thuốc.
Vì vậy, bác sĩ điều trị thường lựa chọn đường dùng khác thay thế hoặc bất đắc dĩ phải dùng giải pháp nhai, nghiền hay bẻ nhỏ viên thuốc.
Các loại viên nén thông thường, viên giải phóng tức thì, viên bao đường hoặc bao film là những dạng thuốc có thể nhai hoặc nghiền được vì dược động học thay đổi không đáng kể. Bên cạnh đó lại có những dạng thuốc viên không được nhai, nghiền hay bẻ nhỏ là:
Thuốc dạng bào chế kiểm soát giải phóng (phóng thích dược chất kéo dài): Các thuốc dạng này thường được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau và có ký hiệu rõ ràng trên tên thuốc.
Đây là dạng thuốc có bao một lớp màng mỏng đặc biệt hoặc có khung trơ (matrix) chứa thuốc, sẽ phóng thích dược chất trong suốt thời gian di chuyển trong ống tiêu hóa để cho tác dụng kéo dài, phóng thích dược chất suốt 12 hoặc 24 giờ.
Dùng thuốc phải theo chỉ dẫn của bác sĩ, không được tự ý nhai và bẻ thuốc
Các dạng này có thể được nhận biết nhờ những ký hiệu trên tên thuốc như: 12-hour, 24-hour, CR (phóng thích có kiểm soát), LA (tác dụng kéo dài), Retard (chậm), SR (phóng thích chậm), XL (kéo dài hơn), XR (phóng thích kéo dài), LP (giải phóng kéo dài 8 giờ)...
Tuy nhiên, cũng có nhiều tên thuốc không có ký hiệu để nhận biết như: aggrenox, pentasa, plendil, nitromint...
Đặc biệt, dạng thuốc này chứa hàm lượng cao hơn dạng thuốc thông thường nên phải dùng đúng số viên, số lần trong ngày theo chỉ định của bác sĩ. Nếu dùng sai có thể gây quá liều nguy hiểm và đặc biệt không được nhai, bẻ nhỏ hoặc mở viên nang.
Thuốc bao tan trong ruột: Đây là dạng bào chế để thuốc đi qua dạ dày còn nguyên vẹn và chỉ tan ở phần đầu ruột non (tức tá tràng) và phóng thích dược chất ở ruột.
Mục đích của dạng thuốc này là ngăn ngừa dược chất bị phân hủy trong môi trường acid của dạ dày chẳng hạn như các thuốc ức chế bơm proton (nexium, pantoloc) hoặc bisacodyl...; ngăn ngừa dược chất phóng thích ở dạ dày, gây hại cho niêm mạc dạ dày (như viên nén bao tan ở ruột aspirin pH8). Với loại thuốc viên bao tan trong ruột, rất cần uống nguyên vẹn cả viên, không được bẻ nhỏ, kể cả nhai, ngậm.
Thuốc viên sủi: Đây là loại thuốc cần được làm tan hoàn toàn trong nước trước khi đưa vào cơ thể. Thuốc dạng sủi là dạng phải giữ nguyên viên, tránh ẩm tốt để giữ nguyên hoạt chất và chỉ uống sau khi hòa tan. Không được bẻ nhỏ viên sủi hoặc bỏ nguyên viên vào miệng uống, sẽ rất hại cho đường tiêu hóa và khi không đủ nước để tan, thuốc không thể phát huy hết tác dụng.
Thuốc chứa dược chất có nguy cơ gây hại cho người tiếp xúc: Các thuốc điều trị ung thư, thuốc gây độc tế bào, thuốc ức chế miễn dịch, như endoxan, methotrexat...
Việc nhai hoặc nghiền các thuốc này có thể không ảnh hưởng đến dược động học của thuốc nhưng sẽ tạo ra các hạt phân tử có khả năng gây hại cho người thao tác do hít phải các phân tử này.
Một số thuốc như dolobib, feldence, posicor nếu nghiền hoặc mở viên nang, bột thuốc sẽ phân tán, tiếp xúc với da hoặc niêm mạc gây kích ứng.
Thậm chí có thuốc như propecia, proscar được khuyến cáo không được nghiền, bẻ nhỏ vì nếu bột thuốc bị phân tán, xâm nhập qua cơ thể phụ nữ mang thai (qua đường mũi, miệng) sẽ ảnh hưởng đến thai. Do vậy, với các loại thuốc này, người bệnh phải giữ nguyên vẹn viên thuốc khi uống.
Thuốc rất đắng, có mùi khó chịu: Không nên nhai, nghiền những thuốc mà dược chất có mùi vị khó chịu như zinnat, remeron... hoặc dược chất gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa như fosamax, Felden... Các thuốc: betapen-VK, cipro, ceftin, desyrel, equanil, berberin... là thuốc phải uống nguyên vẹn viên. Nếu bẻ nhỏ, nghiền nát, bệnh nhân sẽ không chịu được vị đắng khó chịu của dược chất.
Thuốc ngậm dưới lưỡi: Với những viên thuốc đặt dưới lưỡi và ngậm cho tan cần đặc biệt lưu ý tuyệt đối không được bẻ đôi, bẻ nhỏ viên thuốc. Nhiều người nghĩ rằng làm như vậy không ảnh hưởng gì, nhưng thực tế chúng ta đã vô tình phá vỡ cấu trúc nguyên vẹn của thuốc, làm hỏng dạng thuốc, ví dụ như thuốc sorbitrate, sublingual, ergomar... tuyệt đối không được bẻ nhỏ.
Kháng thuốc sẽ nguy hiểm hơn ung thư
Đến năm 2050, kháng thuốc sẽ trở thành thảm họa của y tế toàn cầu khi là thủ phạm giết nhiều người hơn cả ung thư và làm y tế thế giới tiêu tốn khoảng 100.000 tỉ USD mỗi năm.
Đây là kết luận của nghiên cứu có tên Đánh giá về kháng thuốc do chính phủ Anh thực hiện đầu năm nay. Người trực tiếp lãnh đạo nghiên cứu là nhà kinh tế học nổi tiếng Jim O'Neill, theo kênh tài chính CNBC (Mỹ).
Kháng thuốc nguy hiểm hơn ung thư. Hình minh họa
Dựa vào các nghiên cứu của Viện nghiên cứu chính sách RAND Europe (Anh) và Công ty cung cấp dịch vụ nghề nghiệp KPMG, nhà kinh tế học Jim O'Neill và các đồng sự dự đoán kháng thuốc sẽ làm 700.000 người chết trong năm 2014 và con số này sẽ tăng lên 10 triệu người vào năm 2050 nếu không có biện pháp ngăn chặn.
Một khi thuốc không còn tác dụng trị bệnh, kinh tế thế giới sẽ chịu tổn thất khổng lồ, không những phí phạm về chi phí sản xuất thuốc mà năng suất lao động bị giảm vì bệnh nhân trong độ tuổi lao động không được điều trị khỏi bệnh.
Nhà kinh tế học Jim O'Neill cảnh báo khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là các nước đang phát triển. Các nước đặc biệt nguy hiểm là Ấn Độ, Nigeria, Indonesia (kháng thuốc điều trị sốt rét), Nga (kháng thuốc chống lao).
Theo Thiên Ân - Pháp luật TPHCM
6 lợi ích không ngờ của Vitamin E
Vitamin E được biết đến như là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ và những hiệu ứng tích cực của nó đối với sức khỏe của con người. Vitamin E được sử dụng rộng rãi trong y học và cũng là một chất phụ gia phổ biến đối với các loại mỹ phẩm.
Trong thực phẩm, Vitamin E có nhiều ở các loại: đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương.
Mời bạn tham khảo những lợi ích sau của vitamin E dưới đây:
1. Dưỡng ẩm cho da
Ngoài việc là một thành phần không thể thiếu ở nhiều sản phẩm chăm sóc sắc đẹp, Vitamin E còn được sử dụng trong việc dưỡng ẩm cho làn da của bạn, đặc biệt là ở vùng mắt và môi là hai vùng da nhạy cảm nhất và cải thiện rõ với các nếp nhăn.
2. Bảo vệ da khỏi tia UV
Điều nguy hiểm nhất khi ở một thời gian dài dưới ánh nắng mặt trời là các tia UV có ảnh hưởng tiêu cực đến làn da và là một trong những nguyên nhân gây ung thư da. Vitamin E có thể ngăn tia UV rất tốt và hiệu quả.
Mặc dù không thể thay thế hoàn toàn kem chống nắng nhưng bạn nên thoa kem có chứa thành phần vitamin E cao trước khi ra nắng để đảm bảo rằng da của bạn vẫn được cung cấp đầy đủ độ ẩm. Đồng thời bạn có thể bảo vệ cơ thể từ bên trong bằng cách dùng các chế phẩm giàu vitamin E.

3. Tóc
Vitamin E đã trở thành thành phần không thể thiếu trong dầu gội, dưỡng tóc và mặt nạ nhờ khả năng giữ ẩm cao. Với đặc tính kỳ diệu này, vitamin E rất hữu hiệu trong việc nuôi dưỡng, phục hồi tóc bị hư hỏng, chứng khô da đầu cũng như nang tóc.
4. Não bộ
Các nhà khoa học hiện đại gần đây đã đi đến một kết luận rằng vitamin E- dưới bất kể hình thức nào- đóng một vai trò to lớn trong sức khỏe của não. Nó làm giảm nguy cơ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức.
Tuy nhiên, bạn đừng dùng quá nhiều để mong ước có bộ não như Anhxtanh nếu không muốn gặp phiền toái do quá liều.
Giá đỗ rất giàu vitamin E
5. Tim
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiêu thụ đủ vitamin E làm giảm nguy cơ đau tim và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch nói chung. Hãy cung cấp đủ lượng vitamin E hàng ngày để cho tim mạch được khỏe mạnh. Ăn các sản phẩm giàu vitamin E như các loại hạt hướng dương, hạnh nhân, đậu phộng và rau xanh.
6. Tế bào máu
Tác dụng quan trọng nhất của vitamin E trên cơ thể chúng ta cần được nhắc đến là ảnh hưởng của nó đối với các tế bào máu. Đặc tính chống oxy hóa của vitamin E giúp cơ thể bạn sản xuất ra các tế bào máu đỏ mới và làm cho quá trình này diễn ra trôi chảy.
Như bạn đã biết, chức năng chính của các tế bào màu đỏ là cung cấp oxy khắp cơ thể. Khi các mô có đủ oxy, chúng thực hiện chức năng của mình tốt hơn và trạng thái sức khỏe tổng thể của bạn trở nên tốt hơn.
Với những tác dụng tuyệt vời kể trên hi vọng bạn có chế độ bổ sung vitamin E một cách thường xuyên và hợp lý. Nhưng bạn nhớ tham khảo ý kiến và theo đơn bác sĩ để tránh các tác dụng phụ không mong muốn.
I-ốt sát trùng: Dao sắc dễ đứt tay
Là một dung dịch sát trùng phổ biến và hiệu quả nên cồn i-ốt rất cần thiết trong sát trùng vết thương. Song chúng cũng có thể gây ra những tác dụng phụ nguy hiểm hơn loại sát trùng khác.

Sạch quá hóa bỏng da
Dung dịch i-ốt có tác dụng giữ sạch da, sát khuẩn vết thương nhưng không phải bôi càng nhiều lần, nồng độc càng đậm càng sạch. I-ốt nguyên chất hoặc cồn i-ốt đậm đặc lại không có tác dụng diệt khuẩn mà ngược lại, còn có thể gây bỏng, càng khiến da nhiễm khuẩn nặng hơn.
Điều tệ hại là khi bị loét da do i-ốt thì việc liền vết thương rất khó khăn vì vết thương do các tinh thể iốt phá hoại từ trong phá hoại ra.
Mặt khác vì có tính sát trùng cao nên i-ốt tuy chưa gây bỏng thì cũng có thể làm sạm xấu vùng da được sát trùng. Do đó khi dùng trên những vùng da cần thẩm mỹ như mặt, cổ, cánh tay… bạn cần chú ý.
Lời khuyên: Tuyệt đối không được dùng i-ốt đậm đặc hay iốt nguyên chất, chỉ nên dùng dung dịch dưới 10%. Với trẻ em, nếu có ý định dùng dung dịch i-ốt sát trùng thì nên pha loãng thêm 2-3 lần.
Dùng nhiều gây nhiễm độc
Khi dùng i-ốt bôi ngoài trên một diện rộng thì hãy cẩn thận, nồng độ có hấp thu có thể vượt ngưỡng cho phép. Nguyên nhân là khi cùng bôi trên diện rộng, i-ốt được hấp thu quá nhiều, cơ thể sẽ có biểu hiện khó thở, phù nề mặt, môi, lưỡi, miệng, phù nề thanh môn khiến bạn khó nói, phù nề phổi, phù nề đường thở, thậm chí có thể tử vong.
Lời khuyên: Nếu dùng dung dịch i-ốt bôi ngoài ra rộng với diện tích bằng 1/3 diện tích cơ thể thì bắt buộc phải dùng dung dịch i-ốt pha loãng như dùng cho trẻ em. Nếu cơ thể quá nhanh cảm, bạn nên dùng cồn iốt bôi trên cùng da tổn thương nặng,còn những vùng da bị tổn thương nhẹ thì nên dùng nước muối thay thế.
Dùng trên mặt, đe dọa mắt miệng
Khi dùng i-ốt trên vùng mặt, bạn cần chú ý tránh để rơi vào mắt, miệng. Khi vào mắt, chúng có thể khiến nạn nhân bỏng rát, tổn thương giác mác, thậm chí gây mù. Nếu không may bị rơi vào mắt, bạn nên chớp mắt liên tục hoặc cúi mắt sát vào bát nước sạch và chớp cho nước mắt chảy ra để rửa trôi iốt.
Tương tự khi dùng i-ốt trên mặt, bạn có thể bị rơi vào miệng gây ra tê rát lưỡi, lợi. Trong trường hợp này, bạn nên nhổ dung dịch ra và súc miệng (đầu tiên chỉ ngậm rồi nhổ ra để tránh i- ốt lan rộng trong khoang miệng, sau đó mới súc).
Lời khuyên: Với những vết thương gần mắt và miệng, bạn nên tránh dùng dung dịch i-ốt để sát trùng, thay vào đó bạn nên dùng nước muối. Nếu dùng, bạn che chắn mắt cẩn thận bằng một khăn sạch hoặc miếng gạc sạch hoặc nhắm mắt.
Khi bôi dung dịch i-ốt trên mặt, bạn tránh nói cười để hạn chế chúng rơi vào miệng. Tuyệt đối không được dùng iốt để chấm các vết thương hay các nốt mụn nhọt trong khoang miệng.
Theo An Viên - Sức khỏe gia đình
Đừng để nghiện thuốc xịt mũi
Mỗi khi cảm cúm bị ngạt mũi, viêm mũi, viêm xoang… khiến bạn thật khó chịu, thuốc xịt mũi chính là lựa chọn của bạn khi đó. Nhưng bạn có thể bị nghiện hoặc nhờn thuốc nếu dùng quá nhiều..
Ngạt mũi khiến cho trẻ em khó thở dẫn đến trẻ hay quấy khóc, không chịu ăn uống, còn đối với người lớn thì ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt. Do vậy rất nhiều người đã trữ sẵn loại thuốc này ở nhà để khi cần có thể sử dụng được ngay.
Tuy nhiên, mới đây các nhà khoa học của trường Đại học Boston (Mỹ) đã công bố kết quả nghiên cứu, thực tế đã chứng minh rằng thuốc xịt mũi có thể gây nghiện cho người sử dụng nếu sử dụng thường xuyên và gây ra nhiều nguy hiểm cho những bà mẹ có thai mà vẫn sử dụng loại thuốc này.
Thuốc gây nhiều nguy hại
Rất nhiều loại thuốc xịt mũi được bày bán trên thị trường có cả dạng nhỏ và dạng xịt, nội lẫn ngoại. Có loại chỉ điều trị được bệnh viêm mũi nhưng cũng có loại không có tác dụng chữa khỏi bệnh mà chỉ có thể điều trị được chứng ngạt mũi như bệnh viêm đường hô hấp, viêm mũi.
Nhưng tất cả các loại thuốc nhỏ mũi đều có tác dụng làm cho mũi thông thoáng, dễ thở bằng cách co mạch máu ở niêm mạc mũi, giảm xung huyết ở mũi.
Thuốc co mạch có hiệu quả trong các trường hợp bị ngạt mũi do lạnh, do cảm cúm. Khi đó, niêm mạc mũi bị xung huyết, dãn mạch, phù nề.
Các loại thuốc này cũng chỉ nên dùng 2 - 3 lần/ngày, đồng thời thường được khuyến cáo không nên dùng quá 7 ngày. Nếu dùng quá nhiều, thuốc co mạch có thể đem lại các hiệu quả ngược như ngạt mũi nhiều hơn, viêm teo mũi, thủng vách ngăn, mất khả năng khứu giác.
Một số thuốc xịt mũi có chứa corticoid có tác dụng chống viêm, chống dị ứng, thường được chỉ định cho người bị hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi do viêm mũi dị ứng, polyp mũi.
Có tác dụng sau 3-5 ngày sử dụng, nhưng lại gây ra một số tác dụng phụ như rát mũi, khô mũi, chảy máu mũi, thậm chí bị buồn nôn, nôn và kích ứng với dạ dày, do đó, người bệnh cần phải thông báo cho bác sĩ khi thấy các triệu chứng này.
Thuốc có thể gây nghiện
Hiện có rất nhiều người bị sổ mũi kéo dài hơn một tuần, thậm chí hơn một tháng và sử dụng thuốc xịt mũi trong một thời gian dài. Nhiều nghiên cứu cho thấy không nên sử dụng thuốc xịt mũi thường xuyên vì chúng có thể gây nghiện.
Thông thường, mỗi khi nghẹt mũi, chúng ta khó có được giấc ngủ ngon và một giải pháp tức thời là dùng thuốc nhỏ mũi hoặc thuốc xịt mũi để mở rộng đường thở. Thế nhưng sau đó không lâu, mũi lại sẽ bị nghẹt và chúng ta lại tiếp tục sử dụng thuốc nhỏ mũi, cứ như vậy thì người sử dụng thuốc nhỏ mũi sẽ bị tăng liều lượng.
Một số người sử dụng thuốc nhỏ mũi thì bị hồi hộp, kích ứng. Đây chính là do tác động tiết adrenalin được gây ra do ảnh hưởng của các loại thuốc nhỏ mũi. Rất nhiều thuốc nhỏ mũi và xịt mũi có chứa những dược chất có thể gây nghiện như oxymetazoline, phenyleherine, neosynephrine, xylometazoline.
Bất cứ những loại thuốc nhỏ mũi hoặc xịt mũi có chứa các dược chất gây co mạch đều có thể gây nghiện. Khi sử dụng thuốc nhỏ mũi trong một thời gian dài và bị nghiện, hệ thống lông mao mũi sẽ bị "mất phong độ", do đó, mũi vẫn còn cảm giác như bị nghẹt.
Trong trường hợp này, trà ấm, xúp gà hoặc xoa nắn vùng xoang mũi sẽ giúp cải thiện được bệnh trạng một cách đáng kể và an toàn hơn là tiếp tục sử dụng thuốc nhỏ mũi.
Hại cho thai nhi
Các nhà khoa học đã tiến hành theo dõi số trẻ em bị dị tật bẩm sinh trong giai đoạn 1993 - 2010, trong đó mẹ của các em này được hỏi liệu họ có gặp vấn đề gì liên quan đến nhiễm sắc thể hay không.
Sau đó, các nhà nghiên cứu đã phân tích thông tin nhận được, đồng thời họ cũng biết được các bà mẹ này đã sử dụng những loại thuốc gì trong thai kỳ, kể cả hai tháng trước khi mang thai.
Từ đó, các nhà khoa học rút ra kết luận việc sử dụng thuốc có hoạt chất phenylephrine, ví dụ như các loại thuốc chống phù nề, trong ba tháng đầu của thai kỳ khiến trẻ sinh ra có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao gấp tám lần. Còn hoạt chất phenylpropanolamin có trong các loại thuốc xịt mũi có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến thính giác và dạ dày lên 8 lần.
Ngoài ra, các nhà khoa học còn ghi nhận có mối liên quan giữa việc sử dụng loại thuốc "giả ephedrin" với các di tật liên quan đến các chi. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc có hoạt chất imidazolin, có trong các loại thuốc xịt mũi và nhỏ mắt, làm tăng gấp hai lần khả năng phát bệnh liên quan đến mối liên hệ dị thường giữa khí quản và thực quản ở trẻ.
Theo Chất lượng Việt Nam, có tới 3% số trẻ sơ sinh mắc các dị tật trên, trong đó một số dị tật cần được can thiệp y tế kịp thời, tuy nhiên, không phải tất cả những dị tật này đều đe dọa tới tính mạng trẻ. Hiện chưa có lý giải khoa học về mối liên quan giữa việc dùng thuốc xịt mũi và nguy cơ trẻ em sơ sinh bị dị tật, mặc dù nguy cơ này không phải là quá cao nhưng các bà mẹ nên chú ý.
Theo Sức khỏe gia đình


Thứ Sáu, tháng 6 19, 2015
sống khỏe