Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

Béo phì: Nguy cơ khi dùng thuốc an thần kinh thế hệ mới

Thuốc an thần kinh là một loại thuốc không thể thiếu được trong điều trị tâm thần học. 
Từ những năm 1990, với sự ra đời của những thuốc an thần kinh thế hệ mới như olanzapin, clozapin, risperidone... ưu việt hơn hẳn những thuốc thế hệ cũ về mặt tác dụng phụ là ít hoặc không gây ra những hội chứng ngoại tháp như loạn trương lực cơ cấp, bồn chồn bất an, loạn động muộn nhưng nó lại có những tác dụng phụ khác đó là gây béo phì. Đây cũng là một vấn đề khiến các thầy thuốc phải cân nhắc.
Trong thực tế điều trị cho thấy, béo phì là một tác dụng phụ không thể phủ nhận ở bệnh nhân dùng thuốc an thần kinh thế hệ mới. 

Theo nhiều nghiên cứu, tỷ lệ tăng cân đối với bệnh nhân dùng loại thuốc olanzapin là khoảng 75%, đối với clozapin là 53%. 

Nguyên nhân của tình trạng béo phì là do đặc tính gắn vào các receptor của hệ thống dopamin, cụ thể là receptor 5HT2 dẫn đến rối loạn điều hòa năng lượng của hệ thần kinh trung ương, gây tăng cảm giác ngon miệng, thèm những thức ăn béo, ngọt, thay đổi tốc độ chuyển hóa dẫn đến tăng cân.
Hội chứng béo phì là một hội chứng với những biểu hiện sau đây của bệnh nhân dùng thuốc an thần kinh thế hệ mới:
Béo bụng: vòng bụng của bệnh nhân tăng nhanh sau khi được chỉ định dùng thuốc, đối với nam thường là vòng bụng > 102cm, với nữ > 88cm.
Tăng triglicerid máu > 1, 69mmol/lit.
Hạ một loại mỡ máu là HDL, là một loại có tác dụng làm giảm xơ vữa động mạch, ở nam giới < 1,04 mmol/lit, nữ giới , 1,29 mmol/lit.
Làm huyết áp tăng trên 130/85 mmHg.
Tăng đường máu trên 6,1mmol/lil.
Với hội chứng béo phì này, người bệnh có nguy cơ mắc nhiều bệnh lý khác do béo phì gây ra như đái tháo đường týp 2, bệnh tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch... rất nguy hiểm.
Vậy phải làm thế nào để phòng tránh béo phì do các thuốc này gây ra? Những bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc an thần kinh thế hệ mới olanzapin, clozapin cần phải được hướng dẫn về cách dự phòng và phát hiện sớm những biểu hiện của hội chứng béo phì. 
Bệnh nhân cần được hướng dẫn chế độ ăn hợp lý, hạn chế chất ngọt, chất có hàm lượng đường cao (như cơm, đường, bánh kẹo...), tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, cải thiện tốt tình trạng béo bụng, tăng sự dẻo dai cho cơ thể.
Trong 6 tháng đầu dùng thuốc cần phải kiểm tra đường máu mỗi tháng/lần, sau đó kiểm tra một năm hai lần. Kiểm tra mỡ máu, đo huyết áp 3 tháng/lần. Kiểm tra cân nặng, vòng bụng 3 tháng/ lần. Những bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường không nên sử dụng những thuốc có nguy cơ cao gây nặng thêm tình trạng bệnh.
Mặc dù có những tác dụng phụ có khả năng gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm nhưng nếu người bệnh thực hiện tốt những hướng dẫn để dự phòng và phát hiện sớm của bác sĩ thì có thể hoàn toàn tránh được những nguy cơ này.
Dùng thuốc an thần kinh dễ bị béo bụng.

Uống thuốc bổ + thuốc bệnh = Đại họa


uong-thuoc
Vitamin A + thuốc hạ áp = nôn ói
Vitamin A có tác động đến tế bào mỡ, hòa tan chất béo làm giảm cholesterol xấu nên chúng cũng có tác dụng giảm huyết áp. Kết hợp dùng vitamin A với thuốc hạ áp có thể gây ra tình trạng tụt huyết áp quá mức làm choáng váng, buồn nôn. 
Vitamin A cũng làm tăng nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân dùng thuốc chống đông máu. Vì vậy, những người dùng các thuốc trên cần uống cách xa với viên bổ sung dầu cá, viên tổng hợp vitamin A.
Vitamin D + thuốc giảm cholesterol = tăng cholesterol
Bệnh nhân đang sử dụng thuốc giảm cholesterol mà uống thêm vitamin D sẽ làm giảm tác dụng của thuốc, đồng thời làm tăng cholesterol HDL. Ngoài ra, dùng vitamin D liều cao cùng với một loại thuốc lợi tiểu có thể dẫn đến tăng đào thải canxi qua nước tiểu nên tăng nguy cơ gây sỏi thận và thất thoát vi khoáng.
Vitamin E + estrogen = tăng nguy cơ huyết khối
Vitamin E được sử dụng bồi bổ cho trẻ em để làm sáng mắt, bảo vệ gan; hỗ trợ người già, phụ nữ sẩy thai, nhiễm độc thai nghén. Nhưng vitamin E tương tác với sắt làm giảm hiệu quả trong quá trình uống thuốc điều trị thiếu máu. 
Vitamin E có khả năng làm giảm nồng độ máu nên khi dùng chung với thuốc Aspirin có thể gây nguy hiểm. Những người dùng vitamin E liều cao với các thuốc có chứa estrogen cũng dễ tăng nguy cơ gây huyết khối. Vì vậy, cần uống thuốc và vitamin E cách xa nhau.
Canxi + Thuốc = sỏi
Canxi dễ kết hợp với một số thành phần trong thuốc tạo nên hợp chất khó hấp thu, giảm hiệu quả điều trị của một số nhóm thuốc chống loãng xương, thuốc kháng sinh tetracycline fluoroquinolone và levothyroxine, thuốc trị bệnh tuyến giáp… Uống bổ sung canxi cùng với nhiều loại thuốc cũng gây ra phản ứng kết tủa hình thành sỏi tại các bộ phận như gan, mật.
Melatonin + thuốc chống đông máu = tăng chảy máu
Bổ sung Melatonin nhằm tăng ổn định tế bào, điều hòa giấc ngủ, nhịp sinh học, giảm stress đang được rao bán dưới dạng thực phẩm chức năng. 
Nhưng Melatonin làm giảm đông máu nên những bệnh nhân đang uống thuốc chống đông máu có thể bị tăng cháy máu, thâm tím, khó cầm vết thương. Những bệnh nhân phải dùng thuốc kiểm soát huyết áp cũng sẽ bị giảm tác dụng khi uống chung với Melatonin.
Thuốc Bắc + thuốc Tây = khó hấp thu
Các vị thuốc bắc như ngưu hoàng, phèn chua, chu tằng, hoạt thạch, mẫu lệ, trân châu… đều có chứa ion kim loại như canxi, magiê, nhôm… 
Vì vậy khi uống thuốc Bắc với thuốc Tây sẽ gây ra phản ứng của ion kim loại với các hoạt chất trong thuốc Tây hình thành các thành phần khó hấp thu, làm giảm tác dụng của cả hai loại. Một số thuốc Bắc được bào chế dưới dạng nung sẽ hấp phụ làm giảm hiệu quả điều trị của các loại thuốc Tây cường tiêu hóa.
Theo ThS.BS Nguyễn Bạch Đằng - Sức khỏe gia đình

Bạn đã biết bổ sung vitamin D?


Vitamin-D
Dùng với dầu mỡ
Các dưỡng chất khi được đưa vào cơ thẻ cần phải được hoà tan hoàn toàn để đi qua thành ruột vào trong máu. Và bởi vitamin D chỉ có thể tan trong dầu mỡ nên khi bổ sung vitamin D, bạn nên ăn thêm một chút dầu mỡ trong bữa ăn để nó được hấp thu tối đa.
Tốt nhất bạn nên uống bổ sung vitamin D sau khi ăn vì như thế lượng dầu mỡ được đưa vào cơ thể sẽ nhiều hơn đồng nghĩa với việc vitamin D sẽ được hấp thu nhiều hơn.
Chọn vitamin D3
Vitamin D có hai dạng là vitamin D2 và vitamin D3. Trong đó vitamin D3 có cấu trúc tự nhiên nên dễ hấp thu và phát huy tác dụng tốt hơn; Vitamin D2 là vitamin tổng hợp, chậm hấp thu hơn và tốc độ thể hiện hoạt tính trong cơ thể cũng chậm hơn. Chúng phải trải qua một quá trình chuyển hoá nhất định thì mới trở thành dạng có hoạt tính được.
Vì vậy, lựa chọn vitamin D3 sẽ tốt hơn cho bạn.
Uống chung với thuốc cường tim
Một trong các thuốc cường tim không nên dùng chung với vitamin D là digoxin. Thuốc này có tác dụng làm tăng lực bóp cơ tim và bình thường hoá chức năng phát nhịp. Khi dùng chung với vitamin D sẽ gây ra tương tác thuốc làm tăng khả năng rối loạn nhịp tim trên những bệnh nhân tim mạch.
Lý do là vì vitamin D làm tăng hấp thu calci. Calci vào máu nhiều sẽ kích thích cơ tim co nhanh, mạnh và phát nhịp nhiều hơn. Do vậy mà chúng làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim.
Uống chung với thuốc giảm cân và thuốc hạ cholesterol
Các đặc tính của hai loại thuốc này sẽ làm giảm hấp thu vitamin D qua thành ruột. Khi dùng chung với nhau, những thuốc này chúng sẽ ức chế một phần sự hấp thu vitamin D thông qua cơ chế cạnh tranh. Điều này làm tổng lượng vitamin D được thẩm thấu giảm xuống.
Do vậy, nếu có chỉ định dùng vitamin D, bạn hãy tạm ngừng thuốc giảm cân hoặc thuốc hạ cholesterol lại.
Dùng cho người suy thận
Bổ ung vitamin D khi đang bị suy thận chả khác nào trao thêm gánh nặng cho hai quả thận vốn đã rất mệt mỏi. Việc tăng hấp thụ calci (dưới tác động của vitamin D) sẽ khiến cho lượng calci dư thừa thải qua thận nhiều hơn trong khi khả năng lọc của thận đang bị giảm sút. Thêm vào đó, calci dư thừa dễ đóng cặn và tạo sỏi trong nước tiểu, nhất là ở người suy thận.
Dùng cho người bị bệnh tuyến giáp
Tương tự, bệnh nhân cường chức năng tuyến giáp cũng không nên dùng vitamin D, vì điều này có thể làm tăng rối loạn bệnh lý ở người bệnh.
Cụ thể, bệnh nhân cường chức năng tuyến giáp vốn dĩ đã bị tăng nồng độ hormone tuyến giáp, tăng các vận động tự động, hay hồi hộp. Khi dùng vitamin D sẽ làm tăng calci máu, dẫn đến tăng giải phóng hormone tuyến giáp, làm tăng nhịp tim, tăng các vận động tự động, thậm chí có thể co cứng cơ.

9 ứng dụng bất ngờ từ Aspirin


Aspirin
1. Loại bỏ vết bẩn siêu sạch
Aspirin có tác dụng tẩy vết bần nhanh chóng và vô cùng hiệu quả. Đặc biệt vào mùa hè nóng bức trên quần áo thường bị các vết bẩn do mồ hôi bám lại rất khó giặt sạch bằng bột giặt thông thường. 
Nhưng với Aspirin bạn chỉ cần giã nhỏ vài viên Aspirin sau đó rắc đều lên vết bẩn ngâm trong nước khoảng 1 - 2 tiếng rồi giặt với bột giặt, các vết bẩn sẽ bị đánh bay ngay lập tức.
2. Làm giảm vết sưng do muỗi đốt
Những vết muỗi đốt không chỉ khiến bạn sưng tấy mà còn khiến bạn mất tự tin khi trên mặt hay cánh tay đầy vết muỗi đốt. 
Cho dù bạn đã thử nhiều cách khác nhau mà vẫn chưa khỏi cách tốt nhất bạn nên lấy vài viên Aspirin nghiền nhỏ rồi trộn với một ít nước rồi bôi lên vùng da bị muỗi đốt. Sau vài lần, vết đốt sẽ biến mất.
3. Điều trị mụn
Trộn Aspirin với nước tạo thành hỗn hợp sau đó bôi lên vùng da bị mụn. Để thuốc trong vòng 2 phút, sau đó rửa lại bằng nước ấm. Mụn sẽ biến mất nhanh chóng.
4. Làm sạch phòng tắm
Bạn không phải tốn quá nhiều sức để làm sạch các vết bẩn trong phòng tắm. Aspirin sẽ giúp bạn xử lý các vết bẩn. Hòa tan hai viên thuốc Aspirin, dùng hỗ hợp để làm sạch cái vết bụi bẩn.
5. Chữa vách thạch cao
Trộn Aspirin với nước, sau đó xấy khô tạo thành hỗn hợp đặc như keo dính. Dùng keo dính đó để vá các mảng thạch cao bị bong. Bạn không phải mất thời gian đến các cửa hàng vật tư khi đã có Aspirin.
6. Mờ vết hôn trên má
Bạn hòa tan hai viên Aspirin vào trong nước. Sau đó bôi hỗn hợp lên vết hôn. Aspirin sẽ làm tăng lưu lượng máu trên bề mặt da, giúp bạn nhanh chóng giấu đi những vết hôn.
7. Loại bỏ gàu
Gàu khiến bạn mất đi vẻ hấp dẫn và tự tin. Axit salicylic dùng trong các loại dầu gội đặc trị gàu có trong Aspirin sẽ giúp bạn làm sạch gàu. Bạn chỉ cần nghiền hai viên Aspirin rồi trộn với dầu gội đầu, mát xa nhẹ lên da đầu, sau đó gội lại bằng nước sạch.
8. Sạc điện xe hơi
Đừng lo khi xe của bạn bỗng dưng hết điện. Bẻ hai viên Aspirin bỏ vào trong bình ắc quy để khởi động lại bộ sạc điện. Axit sulfuric trong ắc quy trộn với axit acetylsalicylic có trong Aspirin có thể dùng cho 1 lần sạc. Để một lọ Aspirin trong xe của bạn cũng rất hữu dụng.
9. Bảo vệ trái tim của bạn
Theo Sức khỏe Đời sống, khi bạn có bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh tim, hãy dùng Aspirin để giúp bạn có một trái tim khỏe mạnh. 
Tuy nhiên, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để đảm bảo không có bất kỳ tác dụng phụ nào xảy ra. Những người bị loét dạ dày, mắc bệnh thận, hen suyễn hay mẫn cảm với Aspirin, không nên dùng thuốc.

Điếc vì thuốc nhỏ tai


tai-hai-vi-thuoc-hai-tai
Thuốc nhỏ tai không vô hại
Anh Hoàng Văn Hùng 42 tuổi, ở Thanh Trì, Hà Nội, thường xuyên bị bệnh ù tai, do di chứng viêm tai giữa từ thời còn nhỏ để lại. Những khi khi đầu óc căng thẳng, stress vì công việc, anh gần như không nghe thấy đồng nghiệp nói gì cả. Để giảm chứng ù tai, anh ra hiệu thuốc gần nhà thì được người bán tư vấn mua một lọ thuốc nhỏ tai hiệu Polydexa về dùng.
Thời gian đầu, bệnh tình có thuyên giảm đôi chút, các cơn ù tai ít xuất hiện hơn. Thấy có vẻ hiệu quả anh tích cực dùng nhiều hơn. 
Nhưng sau một thời gian dùng thuốc, tai của anh đột nhiên trở chứng, không nghe thấy những âm thanh nhỏ, chỉ có những âm thanh rất lớn anh mới nghe được. Thấy bệnh tình nặng hơn, anh Hùng vội vàng đi khám tại phòng khám chuyên khoa thì được biết mình bị giảm thính lực nặng và có nguy cơ bị điếc vĩnh viễn.
DS Cao Lâm Viên, Khoa Dược, BV Quân Y 354, Hà Nội lý giải: Thuốc nhỏ tai thường có tác dụng rất tốt với viêm ống tai ngoài, nhưng trong thành phần những thuốc này có chất dễ gây ngộ độc tai trong. Chỉ được sử dụng cho những bệnh nhân mắc bệnh viêm tai giữa có kèm theo chỉ định của bác sĩ.
Trong các loại thuốc nhỏ tai có chứa thành phần corticosteroid gây tổn thương tế bào thần kinh, tiền đình hoặc thính giác. Khi những thuốc này thấm vào thành mạch và đi tới tai trong, chúng sẽ gây tổn thương không hồi phục các tế bào thần kinh hoặc tiền đình. 
Các tế bào thần kinh thính giác bị tổn thương do nhiễm độc thuốc sẽ gây ra điếc tiếp nhận (người bệnh thường phàn nàn là bị nghe kém), lâu ngày có thể gây điếc vĩnh viễn.
Dùng đúng tránh tai họa
Thuốc nhỏ tai thường được chỉ định dùng 3 - 4 lần/ngày, nên để nghiêng đầu, hướng tai cần nhỏ thuốc lên trên trong khoảng 1 phút. Chỉ nên dùng thuốc tối đa khoảng 10 ngày, sau đó nên đến khám bác sĩ tai mũi họng để đánh giá kết quả.
Không dùng thuốc cho những người nhạy cảm với kháng sinh, những người quá mẫn cảm với thành phần của thuốc. Phải tuyệt đối ngừng sử dụng khi thấy bên ngoài tai có những dấu hiệu như vành tai như mẩn đỏ, ngứa, chảy nước...
Nên xem kỹ thành phần, đặc biệt nếu là người đã từng bị dị ứng kháng sinh hoặc tiền sử có bệnh dị ứng (nổi mày đay, ban đỏ, dị ứng thức ăn...). Gặp trường hợp dị ứng, cần dừng ngay thuốc và đến khám bác sĩ.
Các loại thuốc nhỏ tai thuộc nhóm sát trùng (chứa corticosteroid) thường có thêm các thành phần như polymycin, neomycin, gentamycin... Các chất này có thể gây độc cho tai nên thường được chỉ định dùng trong các trường hợp bệnh lý chỉ khu trú ở ống tai ngoài, viêm tai giữa (chưa thủng màng nhĩ). 
Vì vậy, khi sử dụng các loại thuốc nhỏ tai này cần phải có chỉ định cụ thể của bác sĩ tránh sử dụng thuốc bừa bãi, tùy ý gây hậu quả nghiêm trọng.
Những bệnh nhân có dấu hiệu như nghe không rõ, ù tai sau khi dùng thuốc cần phải ngừng sử dụng thuốc ngay, sau đó cần đi khám bác sĩ chuyên khoa để được điều trị kịp thời.

Nguyên tắc vàng khi dùng miếng dán chống say xe


chống say xe
Say xe luôn là ám ảnh lớn đối với những người thường xuyên bị say xe. Có rất nhiều người mặc dù say xe nhưng lại sợ uống thuốc nên chỉ áp dụng một số biện pháp chống say dân gian như ngửi bánh mì, ngậm chanh... 
Hiện nay, miếng dán chống say xe cũng được nhiều người sử dụng bởi hiệu quả mà nó mang lại cho người dùng. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách sử dụng loại cao dán đặc biệt này.
Bên cạnh ưu điểm tiện lợi của miếng dán chống say, khi sử dụng, người dùng có thể gặp một số biểu hiện như khô miệng, táo bón, nhức đầu, lơ mơ, ói mửa, rối loạn điều tiết mắt... Đó là những tác dụng phụ không mong muốn do miếng dán chống say. Do đó, khi sử dụng, cần lưu ý những nguyên tắc sau:
- Để đạt hiệu quả tốt nhất nên dán miếng dán vào vùng da khô sau tai từ 4 - 6 giờ trước khi lên xe bởi đó là thời gian cần thiết để các dược chất trong miếng dán thẩm thấu qua da và phát huy tác dụng. Không được dán ở nơi da bị kích thích hay trầy xước vì sẽ làm tăng sự thẩm thấu qua da của hoạt chất này và có thể gây ngộ độc.
- Cần tuân theo sự hướng dẫn về cách dùng như thời điểm dán, dán trong bao lâu, nơi dán, khoảng cách giữa hai lần dán… để hạn chế các tác dụng phụ có thể gặp phải.
- Nhiều người có tâm lý dán thật nhiều thì tác dụng mới nhanh và lâu nên thường sử dụng một lúc 2 - 3 miếng dán hoặc sử dụng cùng lúc với thuốc uống. 
Việc làm này rất phản khoa học, thường gây ra những phản ứng ngược, nảy sinh các tác dụng phụ bởi khi tung ra thị trường, nhà sản xuất đã tính toán được liều lượng thuốc tốt nhất có trong miếng dán, phù hợp với thể trạng của người sử dụng. 
Khi dùng nhiều miếng dán cùng lúc, thuốc sẽ ngấm hết qua da, thẩm thấu vào máu với liều lượng rất cao. Khi đó, người sử dụng đang ở trong tình trạng dùng thuốc quá liều, các tác dụng phụ rất khó tránh khỏi và sẽ nặng hơn, thậm chí nguy kịch vì ngộ độc thuốc.
- Tuyệt đối không dùng kết hợp cả miếng dán và thuốc uống, thuốc tiêm chống say xe. Việc dùng nhiều loại thuốc cùng lúc sẽ khiến thần kinh trung ương và toàn thân bị chi phối bởi nhiều loại thuốc, tình trạng quá liều luôn thường trực, tai biến, ngộ độc do thuốc luôn cận kề, chưa kể những tương tác thuốc sẽ khiến cơ thể phải chịu những hậu quả khó lường.
chong-say-xe1
- Theo Sức khỏe đời sống, không nên sử dụng miếng dán chống say xe cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 8 tuổi. Trẻ em từ 8 - 15 tuổi thì dùng nửa miếng dán. 
Khi đang dán miếng dán chống say xe xuyên da mà cảm thấy có triệu chứng bất thường như nhìn mờ và các triệu chứng đã kể ở trên thì phải ngưng ngay bằng cách bóc miếng dán ra khỏi da.
Nếu thấy tình hình vẫn có vẻ nghiêm trọng, phải đi khám bác sĩ và kể rõ việc dùng thuốc để bác sĩ xử trí. Sau khi dán hoặc gỡ miếng băng dán, nên rửa tay thật kỹ để thuốc không dính vào đồ ăn, thức uống vô tình được đưa vào cơ thể sẽ gây ra những hậu quả đáng tiếc. 
Sau khi dùng, không nên bỏ miếng dán bừa bãi mà nên bỏ vào thùng rác có nắp đậy kín vì lượng thuốc còn thừa có thể gây hại cho trẻ em.

Ngộ độc, bệnh nặng do lạm dụng thuốc

Triệu chứng bệnh bị "che mờ"
Theo cảnh báo của các chuyên gia, tình trạng vi khuẩn kháng thuốc khiến bệnh viêm phổi diễn tiến rất nhanh, chỉ sau 24 - 48 giờ đã trở nặng, mặc dù trước đó bác sĩ khám phổi vẫn không phát hiện bệnh. Nhiều ca bị viêm phổi nhưng không có triệu chứng sốt, chỉ ho hay sốt nhẹ thoáng qua.
Trẻ dưới năm tuổi mỗi năm có thể mắc các bệnh hô hấp từ năm-tám lần. Hệ hô hấp của trẻ đang trong thời kỳ hoàn thiện, rất dễ nhiễm bệnh hô hấp khi giao mùa.
Điều đáng lo ngại, bệnh diễn tiến nặng xảy ra trên tất cả các đối tượng bệnh nhi, từ những trẻ có thể trạng tốt đến suy dinh dưỡng, béo phì, suy giảm miễn dịch (mắc bệnh mạn tính khác). 
Nhiều trường hợp nhập viện trong tình trạng nặng, một phần do cha mẹ tự ý mua thuốc điều trị; sử dụng lại toa thuốc cũ hoặc không tuân thủ điều trị, ngưng thuốc không đúng chỉ định…
ThS.BS Trần Thị Thu Loan, Trưởng khoa Hô hấp BV Nhi Đồng 2 cho biết: "Khi trẻ bị ho và vẫn chơi bình thường, ăn uống tốt, chỉ cần cho bé uống si rô thảo dược trị ho. Tuy nhiên, sau ba ngày dùng mà bé vẫn còn ho, hãy đưa trẻ đi khám bệnh để được bác sĩ tư vấn, hướng dẫn cụ thể".
Một số phụ huynh thường tự ý mua thuốc kháng viêm cho trẻ uống, nên các triệu chứng bị che mờ. Các bác sĩ cảnh báo, không nên dùng toa thuốc cũ hoặc tự ý ngưng thuốc khi thấy trẻ có dấu hiệu giảm bệnh. Khi trẻ mắc bệnh hô hấp, bác sĩ cho dùng kháng sinh ba ngày liên tục mà không thuyên giảm, cần phải tái khám để đổi thuốc hoặc chụp X-quang phổi.
Bên cạnh đó, chế độ dinh dưỡng cho trẻ khi bị bệnh và khi khỏi bệnh cần đặc biệt lưu ý đến đủ bốn nhóm thực phẩm cần thiết, song song với việc tăng cường đạm và béo, không nên dùng quá nhiều chất bột đường…
Lạm dụng thuốc tâm thần, dễ gây nghiện
ThS.BS Nguyễn Ngọc Quang - Giám đốc Trung tâm Giám định tâm thần pháp y T.HCM chia sẻ: "Tôi từng gặp không ít bệnh nhân lạm dụng thuốc, đặc biệt trong các trường hợp mất ngủ, bồn chồn, lo âu. 
Trầm cảm là một bệnh lý cần có sự tư vấn lâu dài, đồng thời phải uống thuốc theo chỉ định và theo dõi của các bác sĩ. Các thuốc điều trị hướng tâm đều có chứa chất gây nghiện, nếu uống trong một thời gian dài không theo chỉ định, có thể nghiện thuốc. 
Các dấu hiệu cảnh báo bị nghiện thuốc: phải sử dụng liều cao mới có hiệu quả; phải dùng thuốc sau bữa tối nhưng bệnh nhân không thể đợi và dùng ngay sau bữa ăn xế…".
Theo một báo cáo của Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh (CDC) Mỹ, chỉ tính riêng năm 2010, 940.000 phụ nữ Mỹ đã phải nhập viện cấp cứu vì sử dụng thuốc quá liều, đặc biệt là các loại thuốc ngủ. 
Uống quá liều thuốc ngủ có thể khiến bạn ngủ dài hơn, sâu hơn, nhưng khi bạn tỉnh dậy sẽ không ý thức được việc đã sử dụng thuốc ngủ quá liều. Các chuyên gia khuyến cáo, dùng thuốc quá liều, đặc biệt là kháng sinh liều cao, có thể gây ra phản ứng mẫn cảm - dị ứng, nặng hơn có thể dẫn đến gây độc cho gan, đau dạ dày, suy tủy, suy thận, điếc, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng do sốc thuốc.
Đau là dấu hiệu của nhiều bệnh. Nếu dùng thuốc giảm đau bừa bãi, có thể làm cho việc chẩn đoán bệnh gặp khó khăn, đặc biệt trong chẩn đoán viêm ruột thừa cấp. Khi có bất cứ một triệu chứng đau nào, nhất là cơn đau ngày càng nặng, bệnh nhân cần đến các cơ sở y tế để xác định đúng nguyên nhân, điều trị kịp thời.
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons