Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn sử dụng kháng sinh

Cùng với các nước trên thế giới, Việt Nam đã hưởng ứng tích cực lời kêu gọi của Tổ chức Y tế thế giới "Không hành động hôm nay, ngày mai không có thuốc chữa" và "Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020". Tài liệu "Hướng dẫn sử dụng kháng sinh" là một trong nhiều nhiệm vụ của Kế hoạch hành động trên.
Ảnh minh họa
Tài liệu gồm có 11 Chương và 55 bài, bao gồm đại cương về kháng sinh và vi khuẩn, sử dụng kháng sinh trong các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp (nhiễm khuẩn hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, thận - tiết niệu,…).

Tài liệu hướng dẫn sử dụng kháng sinh sẽ được áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Căn cứ vào tài liệu này và điều kiện cụ thể của đơn vị, Giám đốc cơ sở khám chữa bệnh sẽ xây dựng và ban hành tài liệu hướng dẫn sử dụng kháng sinh phù hợp để thực hiện tại đơn vị.

Theo GS.TS Trần Quỵ, Ban biên soạn tài liệu hướng dẫn sử dụng kháng sinh, cho biết thì kháng sinh đã đánh dấu một kỷ nguyên mới của y học về điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, đã cứu sống hàng triệu triệu người khỏi các bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm. 
Tuy nhiên, cũng do việc sử dụng rộng rãi, kéo dài và lạm dụng, chưa hợp lý, an toàn nên tình trạng kháng kháng sinh của các vi sinh vật (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm, …) ngày một gia tăng.
"Mức độ kháng thuốc ngày càng trầm trọng làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao, thời gian điều trị kéo dài, chi phí điều trị tăng cao, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh và cộng đồng". Vì vậy, ban hành tài liệu "Hướng dẫn sử dụng kháng sinh" là việc cần thiết", GS.TS Trần Quy cho biết.

Những loại bệnh không nên dùng thuốc bổ

Các nhà khoa học Mỹ cảnh báo, việc dùng canxi hoặc vitamin D để hạn chế nguy cơ tổn thất xương trong liệu pháp hoóc-môn cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt có thể làm cho bệnh tình thêm trầm trọng. 

Liên quan đến cảnh báo này, các chuyên gia đại học Shefield của Anh vừa khuyến báo những loại bệnh dưới đây nên tránh dùng một số loại vitamin, dưỡng chất.

1. Ung thư tuyến tiền liệt nên tránh dùng canxi

Trung bình mỗi năm tại Anh có trên 5.000 đàn ông dùng liệu pháp hoóc-môn để điều trị bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Liệu pháp này có tác dụng phong bế sản xuất hoóc-môn nam tính testosterone gây tăng tái phát ung thư, nhưng mặt trái của liệu pháp này lại ảnh hưởng đến sức khỏe của xương.

Chính điều này người ta đã nghĩ đến việc bổ sung canxi cho cơ thể, nhưng theo nghiên cứu của Trung tâm y tế Wake Forest Baptist thuộc ĐH North Carolina, Mỹ, ở 2.399 người trước và sau khi sử dụng liệu pháp nói trên cho thấy tỉ trọng khoáng của xương bị giảm nghiêm trọng. 

Nếu dùng liều cao canxi có thể làm giảm hiệu ứng hoạt hóa của vitamin D, dưỡng chất cơ thể rất cần để hấp thụ canxi ngay từ giai đoạn đầu, và hậu quả làm phong bế tác dụng của canxi có trong xương. 

Vì vậy, khi dùng liệu pháp này nên duy trì hoạt động để tăng cường sức khỏe cho xương và sau giai đoạn điều trị tỉ trọng xương sẽ được phục hồi trở lại, không nên dùng canxi ().

2. Bệnh vảy nến tránh dùng vitamin A

Một trong số những loại thuốc được sử dụng phổ biến để điều trị bệnh vảy nến là nhóm thuốc retinoids là dạng viên hoặc kem dưỡng da. Nó có tác dụng điều tiết tăng trưởng tế bào da, nhưng bệnh vảy nến lại tăng trưởng mạnh làm cho da đỏ và tạo thành những vảy mới dạng bạc.

Lý do của hiện tượng này là vì retinoids có chứa một dẫn xuất là vitamin A giúp duy trì da phát triển và nếu dùng quá nhiều vitamin A có thể gây độc. 

Do vitamin A là loại dưỡng chất hòa tan mỡ nên có có thể lưu lại trong cơ thể, tích tụ trong gan nên có hại cho cơ thể. Nếu lạm dụng quá liều trên 0,7mg/ngày đối với đàn ông hoặc 0,6mg/ngày đối với phụ nữ có thể dẫn đến tình trạng viêm kết mạc, rụng tóc và làm tăng các chứng bệnh về da, nhất là nhóm người mắc bệnh vảy nến.


3. Bệnh tim nên tránh dùng vitamin E và kali

Đây là những dưỡng chất có thể làm tăng bệnh tim, kết luận này được dựa vào một nghiên cứu quy mô quốc tế dài 7 năm ở 100.000 người mắc bệnh tim, động mạch vành và đái tháo đường do ĐH McMaster của Canada thực hiện. 

Theo nghiên cứu, nếu dùng liều cao vitamin E (400iu- khoảng 363mg) /ngày thì rủi ro mắc bệnh suy tim tăng tới 13% và 21% nguy cơ phải nhập viện vì bệnh tim.

4. Bệnh đái tháo đường nên tránh dùng vitamin B3

Vitamin B3 còn có tên gọi khác là niacin, tham dự vào quá trình chuyển hóa và giúp cơ thể sản xuất năng lượng từ thực phẩm khi ăn vào, tuy nhiên nếu dùng liều cao (trên 13mg/ngày đối với phụ nữ và 17mg/ngày đối với nam giới) có thể làm gia tăng bệnh đái tháo đường.

5. Loãng xương tránh dùng vitamin A và phốt pho


Nếu có quá nhiều phốt pho trong máu trên 1.000mg có thể làm cho lượng canxi trong xương bị giảm mạnh và gây chứng loãng, giòn xương. Tại Anh người ta khuyến cáo không nên dùng quá nhiều 250mg phốt pho/ngày. 

Theo nhiều nghiên cứu do Thụy Điển thực hiện cho thấy cứ tăng 1mg vitamin A liều dùng hàng ngày thì tăng rủi ro gãy xương háng tới 68%. 

Ngoài ra, vitamin A còn làm cạn kiệt nguồn canxi trong xương vì vậy lạm dụng vitamin A còn làm cho hàm lượng canxi trong máu tăng vọt. Người ta khuyến cáo nên dùng liều vitamin A đối với nam giới là 0,7mg/ngày và phụ nữ là 0,6mg/ngày.

6. Bệnh thận tránh dùng canxi


Nếu dùng canxi nhất là liều cao hơn so với khuyến cáo (700mg/ngày) có thể gây tích khoáng trong thận và lâu ngày gây sỏi thận, gây đau nếu không được tán nhỏ chảy qua đường nước tiểu ra ngoài, thậm chí nếu nặng thì phải phẫu thuật.

7. Bệnh đau dạ dày nên tránh dùng vitamin A

Dùng vitamin A để hạn chế tổn thương lớp lót thành dạ dày, nhưng nếu dùng liều cao, dài kỳ trên mức khuyến cáo 0,7mg/ngày (nam giới) và 0,6mg/ngày (phụ nữ), hoặc vượt trên ngưỡng 2,3mg/ngày có thể gây tình trạng có tên Hội chứng tăng huyết áp trong sọ (intracranial hypertension) căn bệnh làm gia tăng áp lực dịch não, gây thủ phạm đau đầu và rối loạn thị giác.

3 loại thuốc không thể thiếu trong tủ thuốc gia đình

Chuẩn bị nhiều loại thuốc trong tủ thuốc gia đình đôi khi gây ra lãng phí vì một số loại ít khi dùng đến, để lâu cũng hết hạn sử dụng.

Có một số trường hợp mà bạn có thể tự chủ động điều trị bệnh khi có triệu chứng. Các chuyên gia y tế khuyên bạn nên lưu trữ 3 loại thuốc sau đây ở nhà trong mọi thời điểm.

Thuốc cảm

Cảm lạnh là một trong những bệnh phổ biến. Các chuyên gia phân tích, mọi người có nguy cơ cảm lạnh 75% mỗi năm. Vì vậy, chuẩn bị một hộp thuốc cảm lạnh ở nhà chắc chắn sẽ không phải là lãng phí. Thuốc cảm lạnh tốt nhất là thuốc Tây bởi nó trực tiếp điều trị các triệu chứng cụ thể, đem lại hiệu quả nhanh chóng hơn so với những loại thuốc khác.

Tuy nhiên, thuốc cảm lạnh chỉ có thể làm giảm các triệu chứng và nếu dùng quá liều có thể có tác dụng phụ. Do đó, không nên uống quá liều, cần tuân theo chỉ dẫn của bác sỹ khi uống. Đặc biệt là trẻ em, sau khi đã sử dụng thuốc thì nên nghỉ ngơi, kết hợp uống nhiều nước.


Thuốc dạ dày, chống đầy hơi và khó tiêu

Hoạt động thể chất kém, ít vận động, cộng thêm chế độ ăn uống nhiều dầu mỡ của lối sống hiện đại làm gia tăng đáng kể gánh nặng cho dạ dày. Vì thế, chuẩn bị sẵn trong tủ thuốc một vài loại thuốc dạ dày, khó tiêu chẳng hạn như điều trị các triệu chứng: lạnh bụng, đầy bụng... là cần thiết và tiện dụng.

Thuốc giảm đau

Nhân viên văn phòng dễ bị đau lưng, mỏi vai gáy, đau đầu; phụ nữ trẻ dễ bị đau bụng kinh; người cao tuổi lại dễ phải đối mặt với chứng đau khớp. Do đó cần chuẩn bị một số thuốc giảm đau trong tủ thuốc vì bạn và gia đình có thể có nhu cầu dùng đến bất kì lúc nào.

Tuy nhiên, không nên quá lạm dụng thuốc giảm đau. Nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi lựa chọn và dùng thuốc. Ngoài ra nếu sau khi dùng thuốc giảm đau thấy các triệu chứng đau lại tăng, phát sinh các triệu chứng đau mới hay sau ba ngày dùng thuốc liên tục mà triệu chứng đau không giảm bớt thì tốt nhất bạn nên đi khám để an toàn hơn.

Thuốc trị tiểu đường làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang

Nghiên cứu mới ở Canada cho thấy thuốc Pioglitazone thường được kê đơn để điều trị bệnh tiểu đường týp 2 có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang.

Để tìm hiểu mối liên quan giữa Pioglitazone và ung thư bàng quang, Jeffrey Johnson từ Trường đại học Y tế công cộng, Đại học Alberta và đồng nghiệp đã tiến hành một tổng quan hệ thống, phân tích các thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu quan sát bao gồm 2,6 triệu bệnh nhân.
Kết quả là thấy tăng nguy cơ ung thư bàng quang liên quan với việc sử dụng thiazolidinedione.
Thiazolidinedione, bao gồm Pioglitazone, được giới thiệu vào cuối những năm 1990, cũng được biết là glitazone, một nhóm thuốc dùng để điều trị bệnh tiểu đường týp 2.
Dựa vào ước tính gộp từ 3 nghiên cứu quần thể với hơn 1,7 triệu người thì sử dụng Pioglitazone liên quan với tăng nguy cơ ung thư bàng quang.
Nhóm nghiên cứu cũng xem xét mối liên quan với rosiglitazone, một loại thiazolidinedione khác, nhưng không thấy có tác dụng.

Hiểm họa từ sử dụng thuốc tai - mũi - họng

BS Nguyễn Bích Ngọc cho biết, thuốc dùng trong tai - mũi - họng (TMH) rất đa dạng. Tuy nhiên, cần chú ý tới các nguy cơ do thuốc có thể xảy ra trong quá trình sử dụng.

Ảnh minh họa
Do TMH là cửa ngõ đường ăn, đường thở, có hệ mạch và thần kinh rất phong phú nên khi sử dụng thuốc, ngay cả khi tại chỗ cũng có thể gây tai biến, phản ứng nguy hiểm. 
Ví dụ, cho trẻ sơ sinh nhỏ thuốc nhỏ mũi loại co mạch naphazolin 0,1% đã gây tử vong (theo thông báo của Viện Nhi). Nguyên nhân do độ lan tỏa và co mạch quá mạnh của thuốc làm co thắt các mạch máu não. 
Hay dùng corticoid qua đường xịt mũi hay khí dung kéo dài sẽ gây xuất huyết đường tiêu hóa ở những người có loét dạ dày, tá tràng, tăng tiến triển các bệnh đường hô hấp ở những người có bệnh đường hô hấp, lao phổi.
Mặt khác, vì TMH có hệ thống thần kinh giao cảm phong phú nên các phản ứng phụ của thuốc thường gặp đều có liên quan đến TMH như chóng mặt, ù tai, buồn nôn. 
Các phản ứng phụ của thuốc nhiều khi khó tránh khỏi, nếu không được giải thích, căn dặn sẽ có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ: kháng histamin (kháng H1) thường được dùng trong viêm mũi xoang nhưng lại có tác dụng phụ là gây buồn ngủ.
Nếu người bệnh không biết, hoặc không được giải thích kỹ về thời gian uống thuốc có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng nếu uống thuốc xong lại làm ngay công việc cần sự tỉnh táo như làm việc trên cao, hay lái tàu, lái xe. 
Ngoài ra, vì TMH là cơ quan giữ nhiều chức năng quan trọng nên cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng các thuốc có ảnh hưởng xấu đến chức năng của các cơ quan này.
Trước hết với chức năng nghe: Nhiều trường hợp do dùng thuốc dẫn đến điếc, nguy hại hơn nếu xảy ra với bà mẹ mang thai dễ làm cho đứa trẻ bị câm điếc sau này. Kháng sinh gây tác dụng phụ loại này phổ biến nhất là nhóm aminozid.
Cần nhớ có những người mẫn cảm thì chỉ với một lượng nhỏ như rắc, nhỏ vào tai cũng gây nên điếc tiếp âm, không có khả năng hồi phục. Đối với chức năng ngửi: Các thuốc rỏ mũi có thủy ngân (Hg) sẽ gây mất ngửi, thường không hồi phục.
Sử dụng thuốc không đúng cách hoặc quá lạm dụng thuốc cũng có thể gây tổn hại niêm mạc, bởi niêm mạc mũi xoang với hệ thống lông - nhày hoạt động rất tinh tế. 
Khi làm thay đổi pH, nhiệt độ, độ nhớt như rỏ mật ong nguyên chất vào mũi sẽ gây tổn hại niêm mạc do độ pH và độ nhớt quá cao. 
Các thuốc dùng dài ngày cũng gây tác hại lớn như rỏ các thuốc co mạch (ephedrin, naphazolin) tuy đúng hàm lượng nhưng nhiều lần, kéo dài liên tục sẽ gây viêm mũi do thuốc. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống miễn dịch.
Vì thế, việc sử dụng thuốc kháng sinh, hạ nhiệt trong viêm mũi họng cấp thông thường cho trẻ nhỏ làm cản trở việc tạo hệ thống miễn dịch hoặc tạo hệ thống miễn dịch không hoàn chỉnh. 
Ngược lại rỏ các loại dịch thuốc chưa được nghiên cứu kỹ (các đông dược với hoa lá tươi) có thể sẽ là cách vô hình đưa các dị nguyên vào cơ thể. Nếu rỏ liên tục thì các dị nguyên này sẽ tác động đến hệ thống miễn dịch và là nguyên nhân gây các phản ứng dị ứng sau này.
Theo L.Q - Pháp luật Việt Nam

Thuốc ngậm ho: những sai lầm khi sử dụng

Rất nhiều người "ghiền" ngậm thuốc mỗi khi bị ho, Mai Anh cũng vậy. Ngậm miệt mài một thời gian, chứng viêm họng của chị kéo theo cả viêm xoang.

Việc tự ý sử dụng các loại thuốc, trong đó có thuốc ngậm, ức chế ho, giảm ho là rất nguy hiểm. Bởi khi ức chế ho, đờm không tiết được ra ngoài, mà bị ứ lại, trở thành viêm đường hô hấp mạn tính.

Ghiền ngậm thuốc

Trên thị trường hiện có rất nhiều loại thuốc ngậm, thậm chí còn có những loại có hương vị hoa quả, cho cảm giác dễ chịu. Vì vậy, khi bị ho, nhiều người thường có thói quen mua các loại thuốc ngậm dạng viên về dùng.
Thuốc ngậm chỉ có tác dụng sát khuẩn họng. Ảnh: Kim Anh

Cứ khi thời tiết thay đổi, chuyển mùa là chị Mai Anh (Đống Đa, Hà Nội) lại ho dữ dội. Mỗi lần như vậy, chị lại mua thuốc ngậm để bớt ho. Thời gian đầu, chị giảm ho đi hẳn. Nhưng một thời gian sau, ho càng nhiều kèm theo có cả đờm. Đi khám bệnh, chị mới hay mình đã bị viêm mũi họng kéo dài dẫn đến viêm xoang.

Chưa nặng như chị Mai Anh, nhưng chị Thảo (Xã Đàn, Hà Nội) đi đâu trong túi cũng có vài vỉ thuốc ngậm. "Mình hay mua loại thuốc ngậm có vị bạc hà, dùng loại này lâu thành quen, ngậm vào mát họng lại đỡ ho. Đầu tiên cũng chỉ dùng vài viên lúc ho nhẹ rồi dần dần cơn ho vẫn không giảm mà có chiều hướng tăng thêm khiến tôi phải sử dụng nhiều hơn", chị Thảo, cho biết.

Theo TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, nguyên Giám đốc BV Tai Mũi Họng Trung ương, khoảng 48% - 54% dân số nước ta gặp phải triệu chứng ho mỗi lúc chuyển mùa. Tuy nhiên, ho chỉ là triệu chứng của bệnh, còn nguyên nhân thì lại rất khác nhau. 

Ví dụ, ho có thể do cảm lạnh, viêm mũi họng, dị ứng, với trẻ em thì có thể do viêm VA, chảy mũi, hay thậm chí là có dị vật trong đường thở… Vì vậy, khi dùng thuốc cần phải xem xét nguyên nhân gây bệnh chứ không thể tự tiện mua thuốc về sử dụng.

Không nên ức chế cơn ho

TS Dinh cũng cho biết thêm, ho là phản xạ của cơ thể để đẩy các chất đờm trong họng ra ngoài. Như vậy ho là phản xạ để bảo vệ cơ thể, vì thế các chuyên gia thường khuyến khích chứ không ức chế cơn ho. 

Vì vậy, khi kê đơn, các bác sĩ cũng thường sử dụng thuốc loãng đờm chứ không phải thuốc ức chế ho. Việc tự ý sử dụng các loại thuốc, trong đó có thuốc ngậm, ức chế ho, giảm ho là rất nguy hiểm. 

Bởi khi ức chế ho, đờm không tiết được ra ngoài, mà bị ứ lại, trở thành viêm đường hô hấp mạn tính. Như vậy, không những không chữa được căn nguyên gây bệnh mà còn trở thành vòng luẩn quẩn.

Còn các thuốc ngậm có vị hoa quả, bản chất chỉ là hương liệu đưa vào để thơm ngon, bắt mắt, dễ dùng, quan trọng là phải xem thành phần các chất trong thuốc như nào. Cũng có một số loại viên ngậm có hương bạc hà, hương chanh… có tác dụng sát trùng họng sau khi ăn uống. Tuy nhiên, cũng không được lạm dụng.

Với trẻ nhỏ thì tuyệt đối không nên cho dùng thuốc ngậm. Trẻ 6 - 7 tuổi trở lên mới nên cho ngậm thuốc. Bởi đặc tính của thuốc là ngậm để chữa, trẻ còn nhỏ quá không biết sẽ nuốt luôn. Nếu ngậm thuốc viên thì trẻ nhỏ còn có nguy cơ bị sặc. 

Trong trường hợp em bé bị cảm cúm, có thể dùng các thuốc long đờm dạng si rô… nhưng chỉ là hỗ trợ điều trị, còn ho nặng hơn phải có chỉ dẫn của BS, nếu ho trên một tuần phải đi khám xem có bị viêm xoang không. Với người lớn nếu ho kéo dài trên 3 tuần nên đi kiểm tra.

Các chuyên gia y tế cũng khuyến cáo, trường hợp ho có liên quan đến đau họng, nên dùng mật ong hấp chanh, quất, súc miệng nước muối và uống nhiều nước.
Chuyên mục bạn quan tâm

Cảnh báo của WHO về thuốc sốt rét giả

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ra một bản thông báo về loại thuốc nhái giả mạo của coartem (artemether-lumefantrine) đang lưu hành tại Cameroon.

Coartem là một thuốc phối hợp liều dựa trên nền tảng thuốc ACTs dùng để điều trị sốt rét, các lô thuốc giả được phát hiện gần đây trong các bệnh viện và ở ngoài chợ trời.
Cảnh báo thuốc coartem giả của WHO là một phiên bản cập nhật ấn bản vào tháng 5/2013 lưu hành tại các vùng của Trung và Tây Phi, một phần thông báo bởi cơ quan tình báo của Joint Inter-Agency Task Force (JIATF). Nhóm hành động này tiến hành điều tra, truy tìm thủ phạm, các vụ thuốc giả của Global Fund and USAID-funded medicines.
Ít nhất 4 lô thuốc được xác định (NOF 2153, F2929 và F2261) mang logo màu xanh lá cây của chương trình sốt rét Affordable Medicines Facility, tài trợ kinh phí bởi Global Fund. Số lượng các lô thuốc giả đều có thể xác định và tìm thấy mẫu tại trung tâm cảnh báo của WHO.
Các nhóm thành viên của Quỹ Toàn cầu có liên quan cũng như cơ quan Drug Regulatory Authorities quốc gia đã cảnh báo và OIG đang làm việc chặt chẽ với đối tác JIATF chính của USAID, cũng như công ty dược Novartis để xây dựng đơn vị tình báo về phòng chống thuốc giả xâm nhập vào dây chuyền thuốc của tập đoàn dược này. Cơ quan Inspector General làm việc để đảm bảo rằng đầu tư của Quỹ toàn cầu có hiệu quả nhất để chống lại các căn bệnh thời đại AIDS, lao và sốt rét.
Theo BS Hồng Ninh - Sức khỏe và Đời sống
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons