Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Cảnh báo một số loại thuốc có thể làm tăng nguy cơ bệnh Alzheimer

Một nghiên cứu mới của Mỹ vừa cảnh báo nhiều loại thuốc dùng lâu dài có thể làm tăng nguy cơ bệnh bệnh Alzheimer ở người cao tuổi.

Ảnh minh họa: AFP
Theo các nhà khoa học Mỹ thuộc Đại học Washington, các loại thuốc này thuộc nhóm kháng cholin (anticholinergic) làm rối loạn sự liên lạc giữa các tế bào thần kinh, ảnh hưởng đến trí nhớ, khả năng học tập và hoạt động cơ. Một số loại thuốc ngủ, chống dị ứng và chống rối loạn đường tiết niệu thuộc nhóm thuốc này.
TS Shelley Gray và các cộng sự thuộc Đại học Washington đã theo dõi tình trạng sức khỏe của 3.434 người ở độ tuổi 65 trở lên không có dấu hiệu bệnh sa sút trí tuệ khi mới tham gia nghiên cứu.
Các nhà khoa học đã xem xét hồ sơ bệnh án và các đơn thuốc mà những người này đã sử dụng. 10 năm sau, họ ghi nhận sự xuất hiện của những dấu hiệu bệnh Alzheimer ở 797 người.
Những người này đã dùng nhiều loại thuốc kháng cholin, đặc biệt là thuốc ngủ, chống trầm cảm, chống dị ứng, và chống rối loạn đường tiết niệu.
"Những người cao tuổi nên biết rằng nhiều loại thuốc có tác dụng kháng cholin rất mạnh. Bác sĩ điều trị nên kiểm tra thường xuyên những loại thuốc họ đã dùng, kể cả thuốc không được kê đơn, để thay thế những loại thuốc khác không chứa chất kháng cholin", TS Shelly Gray dẫn đầu nghiên cứu trên khuyến cáo.
Theo Ngọc Sương - HTV

Dị ứng thuốc và sốc thuốc

Dị ứng thuốc là trường hợp cơ thể không dung nạp được với thuốc uống, chích, thoa vào cơ thể dẫn đến các biểu hiện gây hại cho sức khỏe người dùng thuốc.

Tùy theo cơ địa mà người dùng thuốc có thể bị dị ứng với bất cứ thuốc nào kể cả những thuốc được xem là "hiền" như vitamin B1. Trường hợp dị ứng thuốc nặng, người dùng thuốc bị sốc thuốc gọi là choáng phản vệ có thể dẫn đến tử vong. Vì thế việc biết đến tình trạng dị ứng thuốc và sốc thuốc là điều cần thiết cho mọi người.
V ì sao bị dị ứng thuốc?
Histamine là một chất có sẵn trong cơ thể như máu, các mô dưới dạng liên kết tĩnh điện histamine-héparine không có hoạt tính. 
Khi có chất lạ vào cơ thể người dễ bị dị ứng thì nối tĩnh điện bị cắt đứt làm histamine được phóng thích tạo nên tác dụng dược lực tác động lên hệ tuần hoàn làm giãn mạch gây tụt huyết áp, lên tim làm tim đập nhanh, lên não gây nhức đầu do bị tăng áp lực nội sọ, lên hô hấp làm co thắt khí phế quản gây nghẹt thở, lên hệ tiêu hóa làm co thắt cơ trơn… Vì thế các thuốc chống dị ứng thường được gọi chung là nhóm anti- histamine.
Ngay trong lĩnh vực dị ứng, sữa mẹ cũng được chứng minh là tốt nhất cho con. Theo một công trình nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Journal of the American Academy of Dermatology thuộc Viện Hàn lâm Da liễu Hoa Kỳ thì nhờ tác động bảo vệ từ các kháng nguyên chống dị ứng của sữa mẹ nên đứa bé có tiền căn gia đình bị dị ứng sẽ giảm thiểu được tình trạng dị ứng. Việc cho con bú sữa mẹ trong 3 tháng đầu đời giúp giảm được 32% các trường hợp dị ứng.
Các hình thức dị ứng thuốc thường gặp
Khi Histamin được phóng thích tự do trong cơ thể, hiện tượng dị ứng xảy ra được biểu hiện dưới các hình thức:
Dị ứng thuốc nhẹ:
- Mẩn ngứa, phát ban, nổi mề đay, mắt ngứa, đỏ, tụt huyết áp do mao mạch bị giãn nở.
- Khó thở do khí phế quản bị co thắt.
- Kích thích cơ trơn đường tiêu hóa gây co thắt, nôn mửa.
Dị ứng thuốc trầm trọng: Hội chứng Lyell, hội chứng Steven Johnson
- Hội chứng Lyell: Da loét, tạo nhiều mảng lớn như bị bỏng, có thể dẫn đến tử vong.
- Hội chứng Steven-Johnson: Một bệnh nhân dùng thuốc sulfamid kết hợp hai hoạt chất Sulfamethoxazol và Trimethoprim đã bị hội chứng Steven Johnson với các biểu hiện hai ngày sau khi uống thuốc, lưỡi bị viêm, nổi bọng nước, vỡ ra, đau rát rất nhiều. Đồng thời bộ phận sinh dục cũng rỉ nước, đau rát đầu dương vật.
Với những người nhạy cảm sulfamid, thuốc sẽ gây phản ứng dị ứng trầm trọng ở da và máu, gây phát ban đỏ, loét niêm mạc, nóng lạnh, đôi khi viêm cơ tim, viêm thận, viêm phế nang.
Hiện tượng quá mẫn ấy thường gặp ở:
- Miệng, môi, niêm mạc má, nướu, lưỡi: tạo bọng nước. Khi vỡ ra gây đau rát, kém ăn uống.
- Mắt: Có thể gây viêm kết mạc chảy mủ, phù mí mắt, xuất huyết dưới kết mạc.
- Niêm mạc sinh dục: Làm viêm qui đầu, viêm niệu đạo, âm hộ.
Dị ứng thuốc nặng: "sốc" thuốc còn gọi là choáng phản vệ
Xảy ra rất nhanh sau khi tiêm hoặc uống thuốc, người khó thở, trụy tim mạch. Đây là trường hợp dễ dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. 
Thường gặp khi tiêm chích thuốc nhất là các thuốc kháng sinh như Penicillin, Streptomycin (vì thế trước khi tiêm các thuốc trên cho bệnh nhân, nhân viên y tế cần phải thử test) hoặc ngay cả khi thuốc được xem là "hiền" như vitamin B1 cũng có thể gây sốc thuốc cho những người mẫn cảm với thuốc này.
Thuốc chống dị ứng
Người có cơ địa dị ứng việc dùng thuốc gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ di truyền giữa cha mẹ và con cái. Nếu cha mẹ bị dị ứng thì xác suất sinh con có 50% bị dị ứng và có liên hệ với cùng một nguyên nhân dị ứng. 
Trường hợp cha mẹ không bị dị ứng thì tỉ lệ con mắc bệnh dị ứng chỉ là 10%. Điều ấy cho thấy có mối liên hệ giữa hiện tượng dị ứng và yếu tố di truyền với sự bùng nổ của các ca dị ứng.
Khi bị dị ứng do thuốc, cần ngưng ngay dùng thuốc đó, bên cạnh việc dùng các thuốc chống dị ứng, điều quan trọng là nhớ nhóm thuốc gây ra dị ứng để về sau không dùng nữa và sử dụng thuốc khác thay thế để loại trừ nguyên nhân gây ra dị ứng. 
Việc dùng thuốc chống dị ứng chỉ mang tính chất tạm thời để giải trừ tác động của Histamin trong cơ thể, làm mất hậu quả của dị ứng do đó không nên lạm dụng thuốc chống dị ứng.
Điều quan trọng của điều trị dị ứng, đó là tìm nguyên nhân gây ra dị ứng và tránh tiếp xúc với nguyên nhân ấy, như không dùng các loại thuốc đã từng gây ra dị ứng… 
Với các bệnh nhân có cơ địa dị ứng, nếu không chú ý đến vấn đề này thì có thể dẫn đến những hậu quả trầm trọng, đó là sốc phản vệ do thuốc (như Penicillin, Streptomycin hoặc cả vitamin B1 chích), nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dễ dẫn đến tử vong.

Sử dụng thuốc chữa đau thần kinh tọa

Đau thần kinh tọa y học gọi là bệnh khá phổ biến trong cộng đồng. Dây thần kinh hông to là dây thần kinh lớn nhất cơ thể, xuất phát từ đám rối thần kinh thắt lưng cùng.

Nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân gây đau thần kinh hông to như bệnh lý cột sống (thoái hóa cột sống, dị tật bẩm sinh cột sống, lao cột sống, ung thư cột sống...), bệnh lý khớp cùng chậu... nhưng nguyên nhân hay gặp nhất là bệnh lý đĩa đệm, đặc biệt là thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. 
Theo nhiều tác giả thì có tới trên 80% số bệnh nhân đau thần kinh hông to là do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Chính vì vậy cần tìm ra nguyên nhân đau thần kinh hông to để có cách điều trị phù hợp.
Đặc điểm chung của đau dây thần kinh hông to là đau âm ỉ ngang thắt lưng, lan theo đường đi của dây thần kinh hông to (mặt sau đùi xuống mặt sau cẳng chân, gót chân, bàn chân).
Điều trị
Điều trị đau dây thần kinh hông to trước hết cần điều trị nguyên nhân gây đau thần kinh hông to. Cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Giai đoạn cấp tính (trong vòng một tuần đầu tiên) người bệnh cần được nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt, tránh vận động, không xoa bóp bấm huyệt, châm cứu, điện châm... để tránh co cứng cơ, có thể làm bệnh nặng thêm.
Sau giai đoạn cấp cho bệnh nhân vận động nhẹ nhàng tại chỗ tránh teo cơ, rối loạn dinh dưỡng.
Có thể kết hợp nhiều biện pháp như dùng thuốc tại chỗ với toàn thân, tây y kết hợp với đông y, lý liệu, vận động.
Điều trị đau thần kinh hông to do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
Trước hết cần tuân thủ các nguyên tắc ở trên, các biện pháp cụ thể như sau:
+ Dùng thuốc giảm đau kháng viêm toàn thân: lựa chọn thuốc tùy trường hợp cụ thể có thể dùng nhóm paracetamol, diclofenac,... Các thuốc này có ưu điểm là rẻ tiền, dễ mua nhưng có hại cho gan và có thể gây viêm loét đường tiêu hóa. 
Cần thận trọng dùng paracetamol cho người có tiền sử bệnh lý gan, nghiện rượu... Diclofenac không dùng cho người có tiền sử viêm loét dạ dày - tá tràng. Thuốc uống sau bữa ăn, chia làm 2 - 3 lần trong ngày.
Có thể lựa chọn các thuốc họ xicam, nhóm coxcib, các nhóm này ít tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, thời gian bán hủy dài nên có thể dùng một lần trong ngày. Tuy nhiên các tác dụng phụ trên hệ tim mạch còn đang được nghiên cứu và kiểm chứng. 
Tuyệt đối không được dùng các thuốc kháng viêm giảm đau để thủy châm hoặc phong bế trên đường đi của dây thần kinh hông to, vì các thuốc này có thể làm tổn thương dây thần kinh ngoại vi không hồi phục, gây liệt chi thể.
+ Những trường hợp nặng có thể dùng nhóm chống viêm dạng corticoid, tuy nhiên nhóm thuốc này cần rất thận trọng vì nhiều tác dụng phụ trên hệ miễn dịch, tiêu hóa, tim mạch, nội tiết, chuyển hóa..., nên dùng ngắn ngày, liều cao hoặc dùng tại chỗ và có chỉ định chặt chẽ của thầy thuốc.
+ Thuốc giãn cơ vân (myonal, mydocalm...), có thể dùng dạng tiêm hoặc uống. Dùng sau bữa ăn, thận trọng cho người có bệnh lý dạ dày - tá tràng, trẻ em và người già (do hệ thống cơ vân yếu). Không dùng cho bệnh nhân có bệnh nhược cơ. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng có thể dùng thuốc giãn cơ vân kéo dài tới cả tháng.
+ Vitamin nhóm B: B1, B6, B12 là các vitamin có vai trò quan trọng trong chuyển hóa của tế bào nói chung, nhất là tế bào thần kinh và bao myelin tuy nhiên cũng nên dùng theo chỉ định của thầy thuốc, không nên coi nó là thuốc bổ mà lạm dụng. Hiện nay hay dùng dạng hỗn hợp 3 loại vitamin B.
+ Các thuốc có tác dụng tăng dẫn truyền thần kinh ngoại vi như galantamine. Cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế men cholinesterase (men phân hủy acethyl cholin ở khớp - xinap thần kinh). Chỉ định cho các trường hợp đau thần kinh hông to đã có ảnh hưởng tới chức năng của dây thần kinh. Các tác dụng phụ có thể thấy là choáng váng, đau bụng, buồn nôn. Nên dùng liều thấp rồi tăng dần.
+ Các biện pháp điều trị tại chỗ như tiêm vào khoang ngoài màng cứng, khoang cùng cần được các bác sĩ chuyên khoa tiến hành tại các cơ sở y tế có trình độ chuyên môn cao.
Những trường hợp thoát vị nặng hoặc điều trị bảo tồn không khỏi cần sử dụng các biện pháp can thiệp như chọc hút đĩa đệm qua da, mổ nội soi hoặc phẫu thuật lấy bỏ đĩa đệm thoát vị... Các trường hợp này cần được chỉ định chặt chẽ và tiến hành tại các cơ sở y tế tin cậy.
Điều trị đau thần kinh hông to do thoái hóa cột sống thắt lưng và viêm khớp cùng chậuphương châm điều trị là bảo tồn, không can thiệp. Sử dụng các biện pháp sau:
+ Dùng thuốc giảm đau kháng viêm, lựa chọn thuốc tùy trường hợp cụ thể có thể dùng nhóm paracetamol, diclofenac, xicam, nhóm coxcib.
+ Thuốc giãn cơ vân, myonal, mydocalm.
+ Vitamin nhóm B: B1, B6, B12.
+ Các thuốc có tác dụng tăng dẫn truyền thần kinh như galantamine.
+ Kết hợp với các thuốc dự phòng và chống loãng xương, thoái hoá cột sống như các thuốc nhóm biphosphonat, nhóm cancitonin, glucosamin...
Tóm lại, điều trị đau dây thần kinh hông to quan trọng nhất là điều trị nguyên nhân, sử dụng nhiều biện pháp như nội, ngoại, đông tây y. Kết hợp tại chỗ với toàn thân, coi trọng các biện pháp vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, kết hợp giữa tự điều trị của người bệnh và có sự giúp đỡ của thầy thuốc.
Theo TS.BS Nhữ Đình Sơn - Sức khỏe và Đời sống

Bệnh cúm mùa và các thuốc trị

Cúm mùa là một bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính do virut cúm gây nên. Bệnh xảy ra hàng năm, thường vào mùa đông xuân, lây nhiễm trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp. 
Ở nước ta, các virut gây bệnh cúm mùa thường gặp là cúm A/H3N2, A/H1N1 và cúm B. Bệnh thường tiến triển lành tính nhưng cũng có thể biến chứng nặng, nguy hiểm... Vậy việc dùng thuốc điều trị như thế nào?
Sau khi bị nhiễm virut cúm, người bệnh sẽ có các triệu chứng như sốt cao 39 - 400C kèm theo rét run, nhức đầu, buồn nôn, đau mỏi toàn thân, mệt mỏi. Hoặc có thể kèm theo các biểu hiện sổ mũi, hắt hơi, nghẹt mũi, đau họng, ho... 
Bệnh cúm mùa tiến triển thường lành tính, nhưng cũng có thể biến chứng nặng và nguy hiểm hơn ở những người có bệnh lý mạn tính về tim mạch và hô hấp, người bị suy giảm miễn dịch, người già trên 65 tuổi, trẻ em dưới 5 tuổi và phụ nữ có thai. Bệnh có thể gây viêm phổi nặng, suy đa phủ tạng dẫn đến tử vong.
Bệnh cúm mùa và các thuốc trị​Nên tiêm phòng cúm hàng năm. Ảnh: TM
Thuốc điều trị triệu chứng
Đối với người bệnh cúm nên cách ly, hạn chế giao tiếp để tránh lây lan cho người khác. Để hạ sốt, chỉ dùng paracetamol khi sốt trên 38oC, không dùng thuốc nhóm salicylate như aspirin để hạ sốt trong bệnh cúm vì có nguy cơ gây hội chứng Reye nguy hiểm với bệnh nhân; Đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý (ăn thức ăn dễ tiêu và uống nhiều nước, ăn hoa quả, bổ sung các vitamim) và cân bằng nước điện giải.
Thuốc điều trị đặc hiệu
Điều trị đặc hiệu bằng thuốc kháng virut được dùng trong các trường hợp nhiễm cúm có biến chứng hoặc có yếu tố nguy cơ.
Cụ thể như bị cúm nặng, cúm ác tính hoặc cúm trên những bệnh nhân có nguy cơ dễ diễn biến nặng và có biến chứng như người cao tuổi, trẻ sơ sinh, phụ nữ có thai, người có các bệnh lý mạn tính như tiểu đường, bệnh tim mạch, suy thận, béo phì... 
Các trường hợp này cần nhập viện điều trị. Tamiflu (oseltamivir phosphate), relenza (zanamivir) là hai loại thuốc kháng virut cúm được sử dụng chống lại virut cúm lưu hành gần đây.
Tamiflu (oseltamivir): được sử dụng để điều trị các triệu chứng cúm do virut gây ra ở những bệnh nhân có triệu chứng ít hơn 2 ngày. Thuốc cũng có thể được đưa ra để phòng ngừa cúm ở những người có thể tiếp xúc nhưng chưa có triệu chứng. 
Không dùng thuốc này để điều trị cảm lạnh thông thường. Nên bắt đầu dùng thuốc càng sớm càng tốt khi xuất hiện các triệu chứng cúm như sốt, ớn lạnh, đau cơ, đau họng và chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi.
Các triệu chứng có thể bắt đầu cải thiện trước khi nhiễm khuẩn được xử lý hoàn toàn. Một số tác dụng phụ có thể xảy ra khi dùng thuốc như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, chóng mặt, nhức đầu, mất ngủ... 
Ngừng thuốc và cần sự trợ giúp khẩn cấp của y tế nếu có bất cứ dấu hiệu của một phản ứng dị ứng: nổi mề đay, khó thở, sưng mặt, môi, lưỡi hoặc họng, phát ban da đỏ và phồng rộp hoặc bong tróc...
Relenza (zanamivir): là thuốc dạng hít được sử dụng để điều trị và phòng ngừa cúm. Thuốc làm giảm sự lây lan của virut cúm bằng cách ngăn chặn các tác dụng của men neuraminidase (một enzyme được sản xuất bởi các virut cho phép các virut lây lan từ các tế bào bị nhiễm sang các tế bào khỏe mạnh). 
Bằng cách ngăn chặn này, các triệu chứng và thời gian nhiễm cúm giảm đi. Tính trung bình, zanamivir làm giảm thời gian của các triệu chứng của một ngày nếu điều trị được bắt đầu trong vòng 48 giờ sau khi các triệu chứng bắt đầu. 
Cần lưu ý, dạng hít định liều này nên sử dụng trong các trường hợp không có oseltamivir hoặc kháng với oseltamivir, được sử dụng cho bệnh nhân từ 5 tuổi trở lên. Một số tác dụng phụ thường gặp khi dùng thuốc này như đau đầu, tiêu chảy, buồn nôn, nôn, ho, chóng mặt...
Các thuốc cũ như amantadine và rimantadine được phê duyệt để điều trị và phòng ngừa cúm A. Tuy nhiên, nhiều chủng cúm, thậm chí ngay cúm H1N1 cũng đã đề kháng với hai loại thuốc này. Vì vậy, hai thuốc này hiện đã không được khuyến khích sử dụng điều trị cúm trong thời gian gần đây.
Phòng cúm như thế nào?
Phải đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh nghi nhiễm cúm, tăng cường rửa tay, vệ sinh hô hấp khi ho khạc; Tránh tập trung đông người khi có dịch xảy ra. Cần lưu ý, chống cúm bằng các thuốc kháng virut không phải là một thay thế cho việc tiêm phòng vắc-xin; Nên tiêm phòng vắc-xin cúm hàng năm. 
Các nhóm có nguy cơ lây nhiễm cúm nên được tiêm phòng cúm là nhân viên y tế, trẻ từ 6 tháng đến 8 tuổi, người có bệnh mạn tính (bệnh phổi mạn tính, bệnh tim bẩm sinh, suy tim, tiểu đường, suy giảm miễn dịch...) và người trên 65 tuổi.
Việc dự phòng bằng thuốc: có thể điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virut oseltamivir (tamiflu) cho những người thuộc nhóm nguy cơ cao mắc cúm biến chứng có tiếp xúc với người bệnh được chẩn đoán xác định cúm. Thời gian điều trị dự phòng là 10 ngày.
Theo DS Hoàng Thu - Sức khỏe và Đời sống

Không dùng testosteron trị suy giảm sinh dục do lão hóa

Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) vừa cảnh báo, các sản phẩm testosteron theo đơn được phê duyệt chỉ dùng điều trị cho những người đàn ông có nồng độ testosteron thấp...

Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) vừa cảnh báo, các sản phẩm testosteron theo đơn được phê duyệt chỉ dùng điều trị cho những người đàn ông có nồng độ testosteron thấp do thiểu năng sinh dục có nguyên nhân từ sự rối loạn tinh hoàn, tuyến yên hoặc não gây ra.
Thuốc này không sử dụng điều trị cho những người đàn ông có nồng độ testosteron thấp do lão hóa (suy giảm sinh dục do tuổi tác), vì các lợi ích và sự an toàn của các sản phẩm testosteron đã không được thiết lập để điều trị cho đối tượng này.
Không dùng testosteron trị suy giảm sinh dục do lão hóa
Khi có trục trặc về sinh lý, cần đi khám chuyên khoa để được dùng thuốc thích hợp
Tuy nhiên, trên thực tế thì testosteron đang được sử dụng rộng rãi để làm giảm triệu chứng ở nam giới có testosteron thấp không có lý do rõ ràng nào khác hơn là lão hóa. 
Vì vậy, hiện cơ quan này đang yêu cầu các nhà sản xuất của tất cả các sản phẩm testosteron theo đơn được phê duyệt cần thay đổi nhãn mác trên các sản phẩm này để làm rõ mục đích sử dụng đã được phê duyệt và thêm thông tin cảnh báo sự gia tăng nguy cơ có thể có của các cơn đau tim và đột quỵ ở bệnh nhân dùng testosteron.
Các dạng testosteron được phê duyệt bao gồm các dạng thuốc như gel, dung dịch, miếng dán da, tiêm bắp, bột, viên cấy dưới da, kẹo cao su... 
Đây là một hormon cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của cơ quan sinh dục nam và duy trì các đặc tính nam giới. Các sản phẩm này ngày càng được sử dụng rộng rãi, dẫn tới việc lạm dụng. Vì vậy, với cảnh báo mới nhất này FDA khuyên:
Đối với bệnh nhân: Cần hiểu rằng khi cao tuổi, nồng độ testosteron có thể giảm một cách tự nhiên và thấp hơn so với mức bình thường ở người đàn ông trẻ, khỏe mạnh. 
Sự lão hóa do tuổi tác khiến cho người đàn ông có thể trải nghiệm các dấu hiệu và triệu chứng như giảm năng lượng và các vấn đề liên quan tới chức năng tình dục của họ, nhưng nó không chắc chắn liệu đó có phải là do nồng độ testosteron giảm đi hay do sự lão hóa bình thường. Vì vậy, việc bổ sung testosteron ở những người đàn ông có nồng độ testosteron thấp do lão hóa là không rõ ràng.
Nhồi máu cơ tim và đột quỵ đã được báo cáo trên thực tế xảy ra khi điều trị testosteron. Cần tìm sự giúp đỡ, chăm sóc của y tế ngay lập tức nếu có những triệu chứng của một cơn đau tim hoặc đột quỵ, như: đau ngực, khó thở, nói lắp... và cần trao đổi với bác sĩ nếu bạn có câu hỏi hoặc quan tâm về điều trị bằng testosteron.
Đối với nhân viên y tế: Trước khi bắt đầu điều trị thay thế testosteron, đảm bảo rằng việc chẩn đoán thiểu năng sinh dục đã được xác nhận với các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm: xác minh rằng nồng độ testosteron trong huyết thanh đã được đo trên ít nhất vào hai buổi sáng riêng biệt và luôn ở mức dưới mức bình thường. Tránh đo nồng độ testosteron sau đó trong ngày.
Đối với mỗi bệnh nhân, cân nhắc những nguy cơ tiềm tàng về bất lợi trên tim mạch và các rủi ro khác của liệu pháp thay thế testosteron so với các lợi ích tiềm năng của việc điều trị thiểu năng sinh dục; Thông báo cho bệnh nhân về sự gia tăng nguy cơ tim mạch tiềm năng kết hợp với liệu pháp thay thế testosteron và hướng dẫn bệnh nhân theo dõi, thông báo các tác dụng phụ của thuốc khi gặp phải với bác sĩ điều trị.
Theo Kim Thủy - Sức khỏe và Đời sống

Thuốc tránh thai, liệu có giúp giảm cân!?

Thuốc tránh thai đang được hầu hết các chị em sử dụng trọng việc ngừa thai, thế nhưng một số chị em lại đang sử dụng tràn lan thuốc tránh thai cho mục đích giảm cân.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Thuốc tránh thai - nhiễu sóng thông tin
Chị Hà (36 tuổi, Thanh Xuân, Hà Nội) sau khi sinh bé thứ hai, vóc dáng của chị mập lên trông thấy. Chị đã phải che khuyết điểm của mình bằng những trang phục tối màu, nhưng đó chỉ là phương pháp tạm thời. 
Đến khi nghe phong thanh thuốc tránh thai hàng ngày có tác dụng giảm cân chị liền áp dụng ngay. Tuy nhiên, sau vài tháng sử dụng thuốc, chị chẳng những không giảm được cân mà cân nậng lại có phần tăng nhanh hơn trước.
Trường hợp của chị Lan Chi (nhân viên một công ty tư vấn luật ở Nguyễn Thái Học, Hà Nội), thì hoàn toàn trái ngược. Sau khi sinh bé thứ hai, vóc dáng của chị có phần quá khổ, chị đã phải dùng nhiều biện pháp để giảm cân như ăn kiêng, tập yoga, thậm chí bỏ ăn để có được một thân hình cân đối.
Nhưng đến khi kinh nguyệt trở lại bình thường, chị lại Làn Chi gặp khó khăn trong việc chọn phương pháp tránh thai! Chị rất muốn sử dụng bao cao su nhưng sợ ông xã không thích, nhưng nghĩ đến việc dùng thuốc tránh thai chị lại sợ mình sẽ béo lên giống các đồng nghiệp trong công ty.
Chỉ đến khi chị Lan Chi được một người bạn tư vấn: dùng thuốc tránh thai có chứa hoạt chất drospirenone sẽ giữ đựơc vóc dáng thon thả thì mới dám dùng thử. Và quả đúng như lời tư vấn, sau 3 tháng dùng thuốc tránh thai, vóc dáng của chị vẫn không thai đổi, da dẻ lại có phần hồng hào hơn trước.
Dùng thuốc tránh thai sao cho đúng?
Với hai trường hợp cho tác dụng trái chiều về khả năng giảm cân trên từ thuốc tránh thai, BS Nguyễn Thị Bích (Trưởng phòng Khám Sản phụ khoa, dốc BV Phụ sản Hà Nội) phân tích: Đa số phụ nữ đều dùng được thuốc tránh thai, trừ những người bị bệnh tim, bệnh gan, huyết áp cao, đái tháo đường, người đang sử dụng thuốc chữa lao và những người phát hiện có ung thư ở vú hoặc cơ quan sinh dục…
Tuy nhiên, hiện tượng ngộ nhận thuốc tránh thai có tác dụng giảm cân lại đang xảy ra ở một số chị em. Nhưng thực tế cho thấy các chị em sử dụng thuốc tránh thai vì mục đích việc giảm cân là không hiệu quả. Việc có những trường hợp người dùng thuốc tránh thai giảm được cân là có thật. Nhưng đó là do sự tương thích với cơ địa của từng người chứ bản thân nó không có tác dụng giảm cân.
Trong một số trường hợp sử dụng viên ngừa thai có chứa progesterone hoặc estrogen trong vài tháng đầu, tác dụng giữ muối và tích trữ nước trong cơ thể của estrogen (đặc biệt là các viên tránh thai có hàm lượng progestin cao) sẽ khiến nhiều người nhạy cảm với hormone estrogen gia tăng cảm giác thèm ăn dẫn đến tăng cân.
BS Nguyễn Thị Bích cũng cho biết, ở một số chị em khi dùng thuốc tránh thai có thể bị tăng từ 3 - 5kg, tuy nhiên sử dụng vài tháng sau thì hiện tượng này không còn nữa và trở về trạng thái ban đầu. 
Hiện nay, các loại thuốc tránh thai mới có chứa drospirenone không có yếu tố làm tăng cân, tuy nhiên cũng không có tác dụng làm giảm cân nên chị em không nên lạm dụng tính năng này của thuốc.
Nếu sử dụng thuốc thích hợp với cơ thể, sẽ cho da dẻ hồng hào, hết mụn nhọt, một số loại thuốc còn có tác dụng giảm đau bụng kinh hay giúp chế độ kinh nguyệt đều hơn, và ngược lại, ở một số người lại có phản ứng khác như làm rối loạn kinh nguyệt hay mất kinh, chân tay có thể sưng phồng vì có sự tích trữ nước, thậm chí nếu có hiện tượng sút cân thì, cần ngưng dùng thuốc ngay và tới bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn và chữa trị.
Như vậy, việc sử dụng viên ngừa thai cho việc giảm cân là không hề hiệu quả, thậm chí còn có thể mang lại các tác dụng phụ khác. Do vậy, chị em cũng không nên lạm dụng việc uống thuốc tránh thai một cách tùy tiên, để tránh khỏi những rủi ro đáng tiếc.
Một số hệ lụy khi dùng thuốc tránh thai
- Buồn nôn, hiện tượng này khá phổ biến và gặp hầu hết ở các chị em.
- Đau đầu, chóng mặt, đau thắt vùng ngực, nếu sau một thời gian dài sử dụng mà hiện tượng này chưa hết thì bạn nên ngưng sử dụng thuốc và tới bác sỹ để được tư vấn.
- Chảy máu vụng kín (với người dùng thuốc tránh thai khẩn cấp hoặc dùng thuốc không đúng cách sử dụng như uống không cùng một thời điểm, uống không đề đặn).
- Suy giảm tình dục, sư dụng viên tránh thai có thể sẽ khiến khả năng ham muốn tình dục ở chị em giảm đi, hormone ở cơ quan sinh dục nữ có thể thay đổi, hiện tượng khô âm đạo.
- Thay đổi trang thái tâm lí, tâm lí có thể căng thẳng, không ổn định.
Theo Linh Linh - Sức khỏe gia đình

Uống thuốc không kiêng rượu, biến thành thuốc độc

Với các loại thuốc tây, khi dùng thuốc, không nên uống rượu, vì rượu (và các thức uống có cồn) sẽ tương tác với thuốc làm tăng hoặc giảm hiệu lực, có khi thuốc chuyển hoá thành chất độc hại.

Đặc biệt cần chú ý một số loại thuốc sau không đuợc uống khi đã uống rượu: Paracetamol và các thuốc chống lao: khi sử dụng cùng với rượu làm tăng nguy cơ gây độc cho gan.
Thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm đau Opi, thuốc chống loạn thần, thuốc chống động kinh, thuốc kháng histamin H1… rượu sẽ cộng hợp tác dụng trên thần kinh trung ương, làm tăng tác dụng ức chế thần kinh trung ương.
Thuốc hạ huyết áp sẽ gây hạ huyết áp thể đứng, gây choáng váng và ngất xỉu ngay sau khi uống rượu. Ngược lại, nếu uống rượu nhiều và đều đặn cùng với thuốc hạ huyết áp thì khiến tăng huyết áp, tăng nguy cơ đột quỵ.
Phối hợp giữa rượu và thuốc Aspirin làm tăng tác dụng phụ của thuốc trên niêm mạc ống tiêu hoá, đặc biệt làm tăng nguy cơ chảy máu tiêu hoá. Với thuốc đái tháo đuờng rượu làm tăng tác dụng hạ đuờng huyết, có thể dẫn tới hôn mê do hạ đuờng huyết…
Chính vì những nguy hiểm do vừa uống thuốc vừa uống rượu nên các bác sĩ khuyến cáo không nên uống hai thứ này cùng lúc với nhau. Khi có bệnh phải dùng thuốc cần hạn chế tối đa việc uống rượu.

Theo N.P - Lao động
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons