Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Vitamin C và nhu cầu cho sức khỏe con người

Vitamin C (acid ascorbic) là vi chất dinh dưỡng giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sức khỏe của con người, nếu thiếu nó sẽ để lại nhiều tác hại to lớn.
Cho nên, chúng ta cần chế độ ăn hợp lý hằng ngày, trong đó phải chú trọng vitamin C đủ cả về số lượng cũng như chất lượng.
Vai trò của vitamin C
Vitamin C là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho các loài linh trưởng bậc cao, và cho một số nhỏ các loài khác. Vitamin C có nguồn gốc nhiều trong các loại rau quả tươi như: cam, chanh, quít, và có hàm lượng cao trong rau xanh, đặc biệt là bông cải xanh, tiêu, khoai tây, rau cải, cà chua, cam, quít, chanh, bưởi… 
Vitamin C với nhiều chức năng quan trọng, là thành phần chính để giúp cơ thể sản xuất collagen, một protein quan trọng cho các mô liên kết, cấu trúc cơ thể với nhau đặc biệt trong sụn khớp và các dây chằng. 
Vitamin C giúp cho sự mau lành vết thương, sự chắc khỏe cho hệ thống nướu răng, ngăn ngừa các mảng bầm ở trên da.
Thiếu vitamin C sẽ dễ bị cảm cúmThiếu vitamin C sẽ dễ bị cảm cúm
Đặc biệt, vitamin C còn có chức năng miễn dịch. Các nhà khoa học đã thấy rằng vitamin C làm tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp cơ thể ngăn ngừa và điều trị cảm cúm thông thường, chống nhiễm trùng, nếu thiếu hoặc suy giảm lượng dự trữ trong các bạch cầu, nhất là Lymphocyte, thì nhiễm trùng nhanh chóng tăng lên.
Vitamin C cũng hoạt động cùng với các enzyme chống oxy hóa khác như: Glutathione peroxidadase, Catalase và Superoxide dismutase; hỗ trợ cho vitamin E trong vai trò chống oxy hóa trong cơ thể, tăng cường hiệu lực của vitamin E; cùng với vitamin E, glutathione đảm đương vai trò chống đỡ và ngăn ngừa các tổn thương do các gốc tự do. 
Nếu thiếu glutathione sẽ dẫn đến các tế bào hồng cầu, bạch cầu và mô thần kinh bị ảnh hưởng, hậu quả là vỡ hồng cầu, giảm chức năng bạch cầu và thoái hóa mô thần kinh. Với liều 500mg mỗi ngày, vitamin C đảm bảo duy trì nồng độ phù hợp glutathione hồng cầu. 
Vitamin C cũng là một chất dinh dưỡng chống oxy hóa rất quan trọng, tham gia sản xuất một số chất dẫn truyền thần kinh và hoóc-môn, tổng hợp hấp thụ và sử dụng các yếu tố dinh dưỡng khác. 
Các nhà khoa cũng thấy rằng, vitamin C rất hữu ích cho người bệnh nhân hen suyễn, nhờ làm giảm nồng độ histamine, và được xem như là một chất kháng histamine tự nhiên…
Không để thừa - thiếu
Tuy nhiên, với chức năng quan trọng đối với cơ thể thì vitamin C vẫn là con dao hai lưỡi, vì thiếu hay thừa đều có thể tác hại nhất định cho cơ thể.
Giai đoạn đầu thiếu vitamin C thường có các dấu hiệu không điển hình, chủ yếu là mệt mỏi, suy nhược.
Khi bệnh phát triển, một số triệu chứng sẽ xuất hiện như: tăng sừng hóa quanh lỗ chân lông, ban xuất huyết, đau ở các chi, chảy máu xung quanh các nang lông, thường gặp ở chi dưới như: đầu gối, bàn chân, mặt sau đùi, ở các chỗ hay bị đè ép, va chạm; hiện tượng chảy máu dưới da và trong cơ thể xuất hiện ở vùng bả vai, mắt cá, cùng với chảy máu dưới màng xương, màng phổi. 
Thiếu vitamin C, sức đề kháng của cơ thể giảm, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và viêm phổi; là nguyên nhân của thiếu máu nhược sắc do thiếu sắt, giảm hàm lượng cholesterol trong máu. 
Thiếu vitamin C gây ra bệnh Scorbut, với biểu hiện ở người lớn thì viêm lợi, chảy máu chân răng; tụ máu dưới màng xương, đốm xuất huyết, tăng sừng hóa ở nang lông. 
Nếu không điều trị có thể tử vong do chảy máu ồ ạt hoặc do thiếu máu cục bộ cơ tim. Ở trẻ còn bú, thường do chế độ ăn nhân tạo, bị chảy máu dưới màng xương, nhất là chi dưới; dễ chảy máu dưới da; vết thương lâu lành.
Vitamin C tuy ít khi tích lũy trong cơ thể, nhưng nếu dùng vitamin C liều cao trên 1g/ngày với thời gian dài sẽ dẫn đến viêm loét dạ dày-tá tràng, tiêu chảy và đau bụng, ngoài ra còn có thể đọng oxalate, urat dễ gây sỏi thận. 
Nếu dùng đường tiêm liều cao có thể gây tán huyết làm giảm thời gian đông máu, giảm độ bền hồng cầu. Ở sản phụ, nếu dùng vitamin C liều cao kéo dài sẽ gây tăng nhu cầu bất thường về vitamin C ở thai dẫn đến bệnh Scorbut sớm ở trẻ sơ sinh, có khả năng tăng nguy cơ gây dị tật bẩm sinh ở trẻ.
Với tính chất quan trọng như vậy, nhu cầu vitamin C của mỗi người chúng ta hàng ngày là bao nhiêu? Theo khẩu phần dinh dưỡng được khuyến khích (RDA), nhu cầu vitamin C là 60mg/ngày. 
Nhu cầu này tăng lên với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con bú, giai đoạn cần tăng trưởng nhanh như: thiếu niên tuổi dậy thì, người già, người làm việc ở môi trường nhiệt độ cao… liều dùng hằng ngày đối với trẻ sơ sinh đến 3 tuổi ở vào khoảng 25 - 30mg từ 4 - 18 tuổi cơ thể có nhu cầu khoảng 30 - 40mg mỗi ngày. Đối với người trưởng thành, nhu cầu trung bình là 45mg/ngày. Ở phụ nữ mang thai, nhu cầu là 55mg/ngày và phụ nữ cho con bú là 70mg/ngày.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Kháng thuốc: Vấn đề toàn cầu

“Thuốc kháng sinh - cẩn thận khi sử dụng” - là chủ đề của Chiến dịch toàn cầu về tuần lễ chống kháng thuốc thường niên do WHO khởi động trong nhiều năm. Chiến dịch này sẽ được khởi động lần đầu tiên từ 16 đến 22/11/2015.
Hệ lụy báo động của tình trạng kháng kháng sinh
Hiện tượng kháng kháng sinh (KKS) sẽ xảy ra một cách tự nhiên, song việc sử dụng không đúng cách kháng sinh ở người và động vật đang làm quá trình này diễn ra nhanh hơn. KKS đã và đang là một trong những mối nguy lớn nhất của sức khỏe thế giới ngày nay. Nó có thể xảy đến với bất kỳ ai, ở bất kỳ độ tuổi nào, bất kỳ quốc gia nào.Các cơ chế kháng thuốc mới được tạo ra và lan rộng trên toàn thế giới mỗi ngày, đe dọa khả năng chữa trị các bệnh truyền nhiễm thường gặp của chúng ta. Ngày càng có nhiều bệnh truyền nhiễm như: viêm phổi, lao phổi, nhiễm trùng máu và bệnh lậu... trở nên khó chữa hơn, thậm chí không thể chữa được, do kháng sinh trở nên kém hiệu quả hơn.
Kháng thuốc: Vấn đề toàn cầu
Ở các quốc gia nơi kháng sinh có thể mua mà không cần đơn thuốc, sự xuất hiện và lan rộng của KKS còn mạnh mẽ hơn. Cũng giống như vậy, ở các quốc gia không có một hướng dẫn điều trị bệnh chuẩn, các thuốc kháng sinh thường bị các bác sĩ kê một cách bừa bãi và bị cộng đồng lạm dụng.
Khi các thuốc kháng sinh dòng đầu tiên không còn khả năng chữa các bệnh truyền nhiễm, các loại thuốc thế hệ mới cần phải được sử dụng. Bệnh kéo dài hơn, phải chữa lâu hơn, thường là ở trong bệnh viện, làm gia tăng chi phí điều trị cũng như gánh nặng về kinh tế lên gia đình và xã hội, tăng nguy cơ tử vong... Chỉ trong khu vực EU, các vi khuẩn KKS ước tính gây ra 25.000 ca tử vong và gây tổn thất hơn 1,5 tỷ đô-la Mỹ mỗi năm vào các chi phí chăm sóc sức khỏe và mất sức lao động.
KKS đang đe dọa các thành tựu của y học hiện đại. Nếu không có các thuốc kháng sinh hiệu quả thì việc cấy nội tạng, hóa trị và các phẫu thuật như mổ lấy thai trở nên nguy hiểm hơn rất nhiều. Nếu không có biện pháp khẩn cấp, chúng ta chắc chắn sẽ bước vào kỷ nguyên hậu KKS, khi mà các bệnh truyền nhiễm và tổn thương nhẹ lại một lần nữa có thể gây chết người.
Vì vậy, thế giới cần phải nhanh chóng thay đổi phương pháp kê và sử dụng thuốc kháng sinh. Kể cả khi chúng ta phát triển ra các loại thuốc mới, nếu không thay đổi hành vi, kháng thuốc vẫn còn là một mối nguy hại nghiêm trọng. Thay đổi về hành vi bao gồm các hoạt động làm giảm sự lan truyền của các bệnh truyền nhiễm, như tiêm chủng, rửa tay và vệ sinh thực phẩm tốt.
Phòng chống và kiểm soát như thế nào?
Đối với cộng đồng có thể phòng bệnh truyền nhiễm bằng cách rửa tay thường xuyên, vệ sinh thực phẩm tốt, tránh tiếp xúc gần gũi với người mắc bệnh và tiêm chủng đúng lịch. Chỉ sử dụng kháng sinh khi được kê đơn bởi một chuyên gia y tế đủ tiêu chuẩn; Luôn dùng hết liều được kê và không dùng đơn thuốc kháng sinh của người khác...
Chuyên gia y tế và dược sĩ có thể phòng bệnh truyền nhiễm bằng cách đảm bảo tay, các dụng cụ y tế và môi trường đều sạch sẽ; tiêm chủng cho bệnh nhân đúng lịch; khi nghi mắc bệnh truyền nhiễm, cần phải nuôi cấy vi khuẩn và làm các xét nghiệm để khẳng định; chỉ kê đơn kháng sinh khi thực sự cần trong đúng khoảng thời gian cần thiết.
Các nhà quản lý có thể xây dựng một kế hoạch hành động quốc gia vững chắc nhằm vào KKS; cải thiện việc giám sát các bệnh truyền nhiễm đã phát hiện kháng kháng sinh; củng cố các biện pháp phòng chống và kiểm soát bệnh truyền nhiễm; kiểm soát và khuyến khích việc sử dụng đúng cách các loại thuốc đạt chuẩn; đưa thông tin về ảnh hưởng của KKS tới cộng đồng và có biện pháp khen thưởng việc phát triển các biện pháp điều trị, chẩn đoán và vắc-xin mới.
Ngành nông nghiệp có thể đảm bảo rằng các thuốc kháng sinh dùng trên động vật, bao gồm động vật nuôi lấy thịt và động vật cảnh, chỉ được sử dụng để chữa các bệnh truyền nhiễm và được giám sát bởi bác sĩ thú y; tiêm chủng cho động vật để làm giảm nhu cầu kháng sinh và phát triển các phương pháp thay thế thuốc kháng sinh ở thực vật; khuyến khích và thực hành các thói quen tốt ở tất cả các giai đoạn sản xuất và chế biến thực phẩm từ các nguồn động vật và thực vật; xây dựng các hệ thống bền vững, cải thiện vệ sinh, an ninh sinh học và giết mổ động vật nhân đạo; thực hành các tiêu chuẩn quốc tế về sử dụng thuốc kháng sinh một cách có ý thức, đặt ra bởi OIE, FAO và WHO.
Mặc dù một số loại kháng sinh mới đang được phát triển, nhưng không thuốc nào được mong đợi sẽ có hiệu quả với những loại vi khuẩn KKS ở dạng nguy hiểm nhất. Ngày nay cùng với sự phát triển và toàn cầu hóa, kháng thuốc là một vấn đề toàn cầu, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các quốc gia.
Và phản ứng của WHO
Giải quyết vấn đề KKS là ưu tiên hàng đầu của WHO. Một kế hoạch hành động toàn cầu về kháng thuốc, bao gồm KKS được thông qua tại Hội nghị Y tế Thế giới tháng 5/2015. Mục đích của kế hoạch hành động toàn cầu là đảm bảo tiếp tục phòng và chữa các bệnh truyền nhiễm với các loại thuốc an toàn và hiệu quả. Kế hoạch hành động toàn cầu có 5 mục tiêu chiến lược: Nâng cao nhận thức và hiểu biết về kháng thuốc; Đẩy mạnh giám sát và nghiên cứu; Giảm các trường hợp nhiễm bệnh; Tối ưu hóa việc sử dụng các thuốc kháng sinh; Đảm bảo đầu tư bền vững vào chống kháng thuốc.
Để thực hiện mục tiêu “Nâng cao nhận thức và hiểu biết về kháng thuốc”, WHO đang dẫn đầu một chiến dịch toàn cầu, trong nhiều năm, với chủ đề: “Thuốc kháng sinh: cẩn thận khi sử dụng”. WHO đang hỗ trợ các quốc gia thành viên phát triển các kế hoạch hành động quốc gia riêng để giải quyết vấn đề kháng thuốc, phù hợp với các mục tiêu của kế hoạch toàn cầu.




Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Cách dùng econazol bôi tại chỗ điều trị nấm da

Bệnh nấm da là một trong nhiều thể nhiễm nấm tại lớp thượng bì da, đặc trưng bởi ngứa, tổn thương ban đỏ hình tròn với vùng da lành ở chính giữa. Một số bệnh nấm da hay gặp bao gồm: bệnh nấm da chân (tổn thương chủ yếu ở vùng da ẩm ướt giữa các ngón chân và đôi khi cả bàn chân), bệnh nấm da đùi (tổn thương da ở cơ quan sinh dục, mặt trong đùi và mông), bệnh nấm da đầu, bệnh nấm da thân (gặp ở tay, chân, thân mình, mặt).
Nấm da không gây nguy hiểm (trừ ở người suy giảm miễn dịch như người nhiễm HIV) nhưng gây mất thẩm mỹ. Để điều trị thường bôi các thuốc chống nấm. Econazol là thuốc chống nấm dùng tại chỗ, có trong danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh, năm 2008 được dùng tại chỗ điều trị các bệnh nấm da trên, nấm âm đạo (không dùng để điều trị nhiễm nấm toàn thân), lang ben, nấm loang, các bệnh nấm da do Candida albicans, bệnh nấm ở tai (tai ngoài, ống tai)...
Cách dùng econazol bôi tại chỗ điều trị nấm da
Nấm móng do nấm Candida.
Thuốc được dùng dưới dạng kem, thuốc nước bôi ngoài, bột xịt, dung dịch dùng ngoài để điều trị nấm da do Candida, lang ben, bôi ngày 1 - 3 lần, đợt điều trị từ 2 đến 4 tuần đến khi vết tổn thương trên da lành hẳn. Dạng kem, bôi lên vùng tổn thương và xát nhẹ.
Đối với nấm ở da (thân, đùi, chân), nấm loang: Người lớn và trẻ em bôi ngày 1 lần, dùng trong 2 tuần, riêng nấm da chân dùng trong 1 tháng. Có thể điều trị dài ngày hơn, nếu cần. Bệnh thường đỡ trong vòng 1 - 2 tuần đầu điều trị. Nếu không đỡ sau thời gian đó, phải đánh giá lại chẩn đoán.
Đối với nấm lang ben: Dùng kem 1% bôi ngày 1 lần, trong 2 tuần. Bệnh thường khỏi, có thể ngừng thuốc.
Nấm Candida ở da: Bôi kem 2 lần mỗi ngày, vào buổi sáng và buổi tối. Thời gian điều trị thông thường là 2 tuần, đôi khi tới 6 tuần.
Nấm Candida âm đạo: Dùng viên đặt âm đạo 150mg, ngày 1 lần vào lúc đi ngủ, dùng 3 ngày liền, hoặc dùng một liều duy nhất loại viên đặt âm đạo có tác dụng kéo dài 150mg. Có thể lặp lại nếu cần. Thuốc có hiệu quả trong liệu trình từ 3 - 14 ngày.
Kem 1% cũng được dùng bôi cho bộ phận sinh dục nam. Điều trị phải đủ 14 ngày, mặc dù các triệu chứng ngứa đã hết, điều trị luôn cho cả vợ chồng.

Không dùng thuốc cho các trường hợp mẫn cảm với các chế phẩm của thuốc. Không bôi thuốc dạng kem 1% vào mắt hoặc trong âm đạo. Trường hợp có mẫn cảm hoặc xảy ra dị ứng (hay tác dụng phụ của thuốc cần ngừng thuốc. Các phản ứng phụ tại chỗ thường gặp như nóng, rát bỏng, đỏ, ngứa, viêm da tiếp xúc, kích ứng nhẹ ngay sau khi bôi.


Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Ngứa dương vật dùng thuốc gì?

Ngứa dương vật, còn ảnh hưởng đến quan hệ tình dục và những sinh hoạt hàng ngày, khi cơn ngứa xảy ra vào ban đêm thường gây ra mất ngủ.
Nguyên nhân và triệu chứng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra ngứa dương vật như:
- Do ẩm ướt, vệ sinh kém.
- Dị ứng hoặc kích ứng với các thành phần của xà phòng, chất tẩy rửa, chất liệu của quần lót hay mặc quần lót quá chật…
- Các bệnh lý gây ra do virút (mụn rộp sinh dục), vi khuẩn (viêm bao quy đầu, bệnh lậu…), ký sinh trùng (bệnh ghẻ, rận mu, nhiễm trichomonas…) hay do nhiễm nấm (nấm bẹn).
Ngoài những nguyên nhân đã xác định trên, còn có dạng không xác định được nguyên nhân, được gọi là vô căn.
Triệu chứng: ngứa; đỏ da; sưng; đau; bỏng rát; nổi mụn nước.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra ngứa dương vật
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra ngứa dương vật
Nhiễm khuẩn: tiết dịch, có mùi hôi.
Các triệu chứng có thể biểu hiện với mức độ nặng nhẹ khác nhau và xảy ra trong một thời ngắn hay kéo dài tùy theo nguyên nhân gây bệnh.
Thuốc điều trị ngứa dương vật
Thuốc được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật tùy theo nguyên nhân gây ra bệnh. Sau đây là các nhóm thuốc thường được sử dụng:
Nhóm thuốc kháng histamin H1:
Nhóm thuốc kháng histamin H1 thường được dùng ở dạng thuốc viên, có tác dụng ngăn chặn sự hoạt động của histamin gây ngứa, nên thường được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật.
Thuốc kháng histamin H1 được chia làm 2 loại:
Loại thế hệ cũ (chlorpheniramin, dexchlorpheniramin…) tác động ức chế lên hệ thần kinh trung ương nên gây buồn ngủ (cần tránh sử dụng khi lái xe, vận hành máy móc..). Các thuốc này sử dụng thích hợp khi NAD gây mất ngủ.
Loại thế hệ mới (Loratadin, cetirizin…) do không tác động lên hệ thần kinh trung ương nên không gây buồn ngủ.
Nhóm thuốc corticosteroid:
Nhóm thuốc corticosteroid (hydrocortison, betamethason, prednisolon..) thường được dùng ở dạng thuốc viên, thuốc mỡ, kem…, có tác dụng kháng viêm, kháng dị ứng chống ngứa, nên được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật.
Hai nhóm thuốc trên thường được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật do dị ứng.
Nhóm thuốc bảo vệ da:
Nhóm thuốc bảo vệ da (glycerin, bơ ca cao, mỡ cừu…) được dùng ở dạng thuốc dùng ngoài như: thuốc mỡ, kem… tạo thành một lớp bảo vệ da ngăn chặn các mô bị khô, giúp giảm ngứa, bỏng rát… do ngứa dương vật gây ra.
Nhóm thuốc làm se da:
Nhóm thuốc làm se da (calamin, oxid kẽm…) được dùng ở dạng thuốc dùng ngoài như: thuốc mỡ, kem… có tác dụng làm đông tụ protein tại chỗ nên làm se da, bảo vệ da khỏi bị ngứa, bỏng rát… do ngứa dương vật gây ra.
Hai nhóm thuốc trên thường được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật do kích ứng.
Nhóm thuốc kháng virút:
Nhóm thuốc kháng virút thường dùng ở dạng thuốc dùng ngoài, thuốc viên có chứa hoạt chất kháng virút như: acyclovir, famciclovir, valacyclovir… được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật do bệnh mụn rộp sinh dục (còn gọi herpes sinh dục). Bệnh mụn rộp sinh dục do virút HSV2 (Herpes simplex virút 2) gây ra.
Nhóm thuốc kháng nấm:
Nhóm thuốc kháng nấm thường dùng ở dạng thuốc dùng ngoài, thuốc viên có chứa hoạt chất kháng nấm như: nystatin, clotrimazol, miconazol… được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật do nấm bẹn. Nấm bẹn (tinea cruris) do một loại nấm da gây ra, xuất hiện ở bẹn và quanh cơ quan sinh dục, với những mảng đỏ nâu, có vảy và bờ viền, gây ngứa.
Nhóm thuốc kháng Trichomonas:
Nhóm thuốc kháng Trichomonas thường dùng ở dạng thuốc viên, thuốc dùng ngoài có chứa hoạt chất như: metronidazol, ternidazol… được sử dụng trong điều trị do nhiễm Trichomonas.
Nhóm thuốc kháng sinh:
Nhóm thuốc kháng sinh thường dùng ở dạng thuốc viên, thuốc dùng ngoài có chứa kháng sinh phổ rộng như neomycin, polymycin, chloramphenicol… được sử dụng trong điều trị do vi khuẩn.
Nhóm thuốc trị rận mu:
Rận mu (pubic lice) là một loại ký sinh trùng nhỏ sống ký sinh và đẻ trứng ở lông mu của bộ phận sinh dục nam gây ra ngứa dương vật. Rận mu được lây truyền khi tiếp xúc khăn tắm, áo quần… hay quan hệ tình dục với người bị nhiễm rận mu.
Nhóm thuốc trị rận mu thường ở dạng thuốc dùng ngoài (dầu gội đầu, kem) có chứa hoạt chất pyrethrins hay permethrin 1%... được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật do rận mu.
Nhóm thuốc trị bệnh ghẻ:
Bệnh ghẻ do một loại ký sinh trùng rất nhỏ gọi là con mạt (mite) sống ký sinh ở quanh bộ phận sinh dục nam gây ra ngứa dương vật. Bệnh ghẻ lây truyền nhanh khi giữ vệ sinh kém hay có sự tiếp xúc với áo quần, khăn tắm… hay quan hệ tình dục với người bị nhiễm bệnh ghẻ.
Nhóm thuốc trị bệnh ghẻ thường ở dạng thuốc dùng ngoài (kem, lotion) có chứa hoạt chất Permethrin 5% hay Crotamiton 10% được sử dụng trong điều trị ngứa dương vật do bệnh ghẻ.
Bên cạnh việc sử dụng thuốc, việc phòng tránh là rất quan trọng như: thường xuyên tắm rửa vệ sinh thân thể, giữ khô vùng sinh dục, tránh sử dụng các chất gây kích ứng hay dị ứng, không dùng chung khăn tắm, áo quần hay quan hệ tình dục với người nhiễm bệnh, không mặc quần lót bó sát…


Bổ sung canxi, tăng nguy cơ sỏi thận

Đối với những người có tiền sử sỏi thận, nguy cơ tái phát có thể tăng cao do bổ sung canxi.

Theo một nghiên cứu dự kiến được báo cáo tại hội nghị thường niên Hội Thận học Mỹ ở TP San Diego vào tháng tới của nhóm nghiên cứu thuộc Học viện Y khoa Lerner - BV Cleveland tại bang Ohio của Mỹ.

Theo trang tin HealthDay News, các nhà khoa học đã tham khảo hồ sơ của 2.060 bệnh nhân sỏi thận trong 2 năm, phát hiện thêm bằng chứng về mối liên quan giữa việc bổ sung canxi với nguy cơ sỏi thận tăng cao. Khoảng 1.500 bệnh nhân đã bổ sung canxi; 471 người chỉ dùng vitamin D và số còn lại không bổ sung cả 2 thứ.

Hầu hết sỏi thận có chứa canxi Ảnh: HealthDay News
Hầu hết sỏi thận có chứa canxi Ảnh: HealthDay News
Qua ảnh chụp cắt lớp vi tính (CT scan) nhóm nghiên cứu phát hiện ở những bệnh nhân bổ sung canxi, tỉ lệ hình thành sỏi mới tăng cao hơn nhiều so với 2 nhóm kia. Điều các nhà khoa học nhấn mạnh là khác với bổ sung canxi tổng hợp, việc dùng thực phẩm tự nhiên chứa nhiều canxi vẫn an toàn. Thành phần oxalate trong thực phẩm gắn kết vào canxi và được bài tiết ra ngoài chứ không dễ đọng lại thành sỏi.
Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu khuyến cáo bệnh nhân được thầy thuốc cho toa bổ sung canxi không nên tự ý bỏ thuốc vì một số bệnh nhân loãng xương vẫn cần bổ sung canxi theo chỉ định của bác sĩ. 
Sỏi thận phát triển do các tinh thể như canxi, axít uric và oxalate hình thành trong nước tiểu. Hầu hết sỏi thận có chứa canxi nhưng cũng có dạng sỏi khác. Bệnh nhân có dạng sỏi chứa axít uric được khuyến cáo không nên dùng hơn 170 g thịt/ngày.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons